MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong cuộc sống ngày nay, bên cạnh những đứa trẻ phát triển bình thường, được sống hạnh phúc trong vòng tay cha mẹ thì còn có những đứa trẻ sinh ra kém may mắn hơn mang trong mình chất độc da cam, bị khuyết tật bẩm sinh, bị tai nạn giao thông dẫn đến khuyết tật , trẻ em mắc bệnh tự kỉ , hô ̣i chứng down, châ ̣m phát triể n cả về thể chấ t và ngôn ng ữ…Nhiều trẻ em khi sinh ra đã phải chiụ những thi ệt thòi khi mang trong mình những dị tật bẩm sinh vĩnh viễn không nghe được âm thanh của cuộc sống, không được ríu rít trò chuyện với nhưng đứa bạn cùng lứa, hay không thấ y đươ ̣c ánh sáng của cuô ̣c đời…Theo Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (BLĐTBXH) tính đến tháng 6 - 2015 Việt Nam có khoảng 7 triệu người khuyết tật chiếm 7,8% dân số, NKT đặc biệt nặng và nặng chiếm khoảng 28,9%, khoảng 58% NKT là nữ, 28,3% NKT là trẻ em,10,2% NKT là người cao tuổi, khoảng 10% NKT thuộc hộ nghèo. Đồng thời, theo khảo sát của Liên hiệp Hội người khuyết tật Việt Nam thực hiện cuối năm 2015 tại 11 cơ sở BTXH thuộc 5 tỉnh thành phố là Hà Nội, Lào Cai, Đà Nẵng, Kon Tum, Bến Tre… đã đưa ra đánh giá: Các cơ sở BTXH đảm bảo thực hiện ở tỷ lệ khá cao ở một số tiêu chuẩn chăm sóc cơ bản và thông thường. Ngoài ra các cơ sở BTXH đã biết sử dụng các nguồn lực có sẵn có tại cộng đồng kết hợp với các nguồn tài trợ khác nhau, các tổ chức liên ngành như y tế, giáo dục và những tổ chức liên quan tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện tốt các tiêu chuẩn.
Khảo sát cũng cho thấy tại các cơ sở BTXH chưa thực hiện đầy đủ các tiêu chuẩn về quyền của trẻ em. Theo thông tư, có 9 tiêu chuẩn thực hiện quyền của các đối tượng trong các cơ sở BTXH trong đó có trẻ em khuyết tật thì có 3/9 tiêu chuẩn thực hiện quyền mới chỉ thực hiện ở mức 40%, 3 tiêu chuẩn khác thực hiện trên 50%, 1 tiêu chuẩn đạt 60% và 1 tiêu chuẩn đạt 80%. Một số tiêu chuẩn có từ 10-20% 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com không thực hiện như quyền tiếp cận thông tin cá nhân, trang thiết bị cần thiết cho trẻ khuyết tật, phổ cập giáo dục… Viê ̣c bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn luôn cần sự quan tâm, góp sức của tòan thể xã hội. Nhằm thúc đẩy công cuộc hỗ trợ trẻ tốt hơn, các mô hình mới được xây dựng, thử nghiệm.
Trong mô hình về công tác xã hội với các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn, dễ bị tổn thương, mô hình công tác xã hội với người khuyết tật luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt ở các quốc gia phát triển, nơi công tác xã hội có quá trình phát triển lâu dài và có nền tảng phúc lợi vững chắc [57]. Chính bởi vậy, những trung tâm phục hồi chức năng đã ra đời nhằm phục hồi chức năng và nâng cao kỹ năng hoà nhập cho trẻ em khuyết tật thật sự là quan trọng và cần thiết, không những giúp gia đình và trẻ em khuyết tật được chăm sóc tại chỗ, đỡ tốn kém thời gian và kinh phí khi phải đưa trẻ vào các bệnh viện điều trị mà còn tạo cho trẻ những cơ hội được học tập, vui chơi với bạn bè. Từ những phân tích trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Hoạt động công tác xã hôị với trẻ em khuyết tật tại trung tâm phục hồ i chức năng cho trẻ khuyế t tật Thụy An - Ba Vì - Hà Nội”. Đề tài nhằm tìm câu trả lời cho các câu hỏi chất lượng dịch vụ tại trung tâm sẽ giúp ích gì cho việc phát triển và cải tiến mô hình công tác xã hội?Yếu tố nào ảnh hưởng đến hoạt động công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật tại trung tâm? 2.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2. Trên thế giới Trên thế giới, trong những năm cuối của thập kỷ 90, tổ chức UNICEF đã cùng với UNHCR nghiên cứu nhiều vấn đề liên quan đến trẻ em khuyết tật thông qua các hoạt động thống kê lưu trữ số liệu về NKT như: Dữ liệu thống kê cơ bản về người khuyết tật quốc tế (1988), Kỷ yếu về số liệu khuyết tật (1990), Sổ tay phát triển thông tin thống kê các chương trình và chính sách về 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người khuyết tật (1996)… Ngoài những chương trình nghị sự của Liên hợp quốc và các tổ chức của Liên hợp quốc có liên quan đến trợ giúp, hỗ trợ trẻ em, xu hướng nghiên cứu về trẻ em nói chung, trẻ em khuyết tật nói riêng cũng đã được các nhà xã hội học, tâm lý học, giáo dục học, công tác xã hội, nhân học… và các tổ chức phi chính phủ (như Save Children, các tổ chức cứu trợ xã hội…) nghiên cứu và thực hiện các chương trình can thiệp. Các nghiên cứu về đời sống NKT của Oliver (1996) về những hiểu biết mang tính lý thuyết cũng như thực tiễn về NKT. Nghiên cứu của Baraddock, Parish (2011) về hiểu biết nguồn gốc của khuyết tật.
Một số nghiên cứu khác của UNESCO đưa ra những thông tin về kiến thức hiểu biết và đáp ứng nhu cầu của trẻ trong lớp học hòa nhập (UNESCO, 2001), hay nghiên cứ đưa ra hướng dẫn thực hành đôi với quyền của trẻ khuyết tật ((UNESCO, 2001). Nghiên cứu của Dale Borman (2000) về việc tạo ra vị trí vai trò cho trẻ khuyết tật, hướng đến việc tạo dựng các môi trường cho trẻ khuyết tật trong xã hội đương đại. Nghiên cứu của Ann Lewis (1995) về tăng cường sự hiểu biết trẻ khuyết tật mà ở đó tác giả nhấn mạnh việc tìm hiểu sự trải nghiệm và sự tự nhận thức của trẻ về vấn đề khuyết tật thông qua việc thực hiện các dự án trên nước Mỹ… Một số nghiên cứu liên quan về giáo dục và đào tạo về khuyết tật như dạy cho NKT của Anderson (2006) đã chỉ ra cần có phương pháp dạy học cho NKT. Ballan (1998) đã triển khai nghiên cứu chương trình đào tạo CTXH và cán bộ chăm sóc sức khỏe tâm thần mang tính đa văn hóa và những khác biệt trong làm việc với NKT.
Nghiên cứu của Begab (1970) tìm hiểu về ảnh hưởng của giáo dục về kiến thức và thái độ về thiểu năng trí tuệ Nghiên cứu của Brenda Gannon và Brian Nolan đã xem xét NKT có hoàn cảnh khó khăn khi hoà nhập xã hội thông qua các khía cạnh giáo dục, hoạt động kinh tế và tham gia xã hội… [46]. Đồng thời nghiên cứu cũng chỉ 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ra mặc cảm tự ti là một trong những yếu tố cản trở NKT tham gia hoà nhập xã hội và cuộc sống hàng ngày. Báo cáo còn chỉ ra sự khác biệt giữa NKT và người không khuyết tật trong việc tham gia hoà nhập cộng đồng. Thông qua việc thống kê các số liệu thu thập được để đánh giá mức độ nghèo, sự tham gia vào giáo dục, y tế, việc làm… của NKT.
Nghiên cứu còn nhấn mạnh tới yếu tố NKT ảnh hưởng tới đời sống của mình, thiết kế nơi làm việc không phù hợp, sự kỳ thị của cộng đồng, sự tiếp cận các phương tiện đi lại gây khó khăn cho NKT Tổ chức Cứu trợ trẻ em Thuỵ Điển (Save the Chilren Sweden/Radda Banen) thành lập năm 1919, là một tổ chức phi chính phủ, không liên kết về chính trị và tôn giáo với khoảng gần 90.000 hội viên tình nguyện người Thuỵ Điển. Mục đích: Tạo điều kiện giúp đỡ cho trẻ em có quyền sống, phát triển tự do và có sức khoẻ tốt hơn. Trẻ khuyết tật là một trong những đối tượng chính mà tổ chức luôn quan tâm trợ giúp. Các hoạt động trợ giúp trẻ khuyết tật được Tổ chức Cứu trợ trẻ em Thuỵ Điển chú trọng đến là giáo dục, dạy nghề và kết nối các cơ hội việc làm.
Trên cơ sở thúc đẩy quyền tham gia của trẻ em là một nguyên tắc cơ bản của Tổ chức Cứu trợ trẻ em Thuỵ Điển, là nguyên tắc để đảm bảo cho tất cả các quyền khác mà trẻ em đều có quyền được hưởng. Hoạt động của Tổ chức Cứu trợ trẻ em Thuỵ Điển dựa trên nguyên tắc sự tham gia của trẻ em góp phần xây dựng một xã hội, ở đó mọi trẻ em được xem như một thành viên tích cực, có tiếng nói nhằm cải thiện cuộc sống của chính các Đề án nghiên cứu “Nghiên cứu phát triển về chương trình trị liệu và giáo dục cho trẻ em khuyết tật phát triển ở vùng Đông Á” tại ba nước: Nhật Bản, Trung Quốc và Việt Nam. Nghiên cứu này được thực hiện trong giai đoạn 2008 - 2010 dưới sự chủ trì của Giáo sư Araki Hozomi và được sự tài trợ của Hiệp hội Nhật Bản vì sự phát triển khoa học [45]. Trong nghiên cứu này chủ yếu xác định nhu cầu của trẻ khuyết tật phát triển và những khó khăn 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mà trẻ khuyết tật phát triển và gia đình của trẻ gặp phải trong quá trình sống nhằm tìm ra giải pháp hỗ trợ tốt nhất từ phía xã hội.
Ở Việt Nam Tại Vi ệt Nam, theo kết quả cuộc điều tra mức sống dân cư Việt Nam năm 2006 cho thấy, tỷ lệ khuyết tật của dân số từ 5 tuổi trở lên chiếm đến 15,3% trong tổng dân số, và mới đây nhất, kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009 cho thấy, tỷ lệ người khuyết tật ở độ tuổi từ 5 tuổi trở lên chiếm 7,8% dân số tương đương với 6,7 triệu người, trong đó có khoảng 5,8% là nữ giới và khoảng 75% tập trung ở khu vực nông thôn [36]. So với các quốc gia trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương, Việt Nam đứng thứ 7 về tỷ lệ cao về người khuyết tật [56]. Về đào tạo nghề và hỗ trợ việc làm cho NKT nói chung và TKT nói riêng. Báo cáo khảo sát đào tạo nghề cũng chỉ ra rằng Về đào tạo nghề còn thiếu và yếu về cơ sở vật chất và chương trình đào tạo riêng cho NKT, thực tế đào tạo nghề cho NKT chủ yếu tập trung ở các trung tâm, Trường dạy TKT.
Trong các trung tâm và Trường dạy TKT thì cơ sở vật chất phục vụ cho dạy nghề còn hạn chế, đội ngũ giáo viên dạy nghề chưa đảm bảo được yêu cầu. Trong công tác tìm và tạo việc làm cho NKT còn khó khăn vì không phải trung tâm dạy nghề nào cho NKT đều có thể sắp xếp được công việc cho họ.