CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TÁC ĐỘNG CẠNH TRANH CHIẾN LƯỢC MỸ - TRUNG QUỐC TỚI CỤC DIỆN ĐỊA CHÍNH TRỊ CHÂU Á- THÁI BÌNH DƯƠNG TỪ 2010-2020 \ 1. Một số khái niệm 1. Cạnh tranh chiến lược Cạnh tranh chiến lược là sự ganh đua, đấu tranh của một nước hoặc liên minh các nước với đối thủ của mình về phương châm, phương cách, chính sách và mưu lược được hoạch định trong một khoảng thời gian nhất định, nhằm thực hiện các mục tiêu đã đề ra để giành phần hơn, phần thắng về vị thế, quyền lực, sự ảnh hưởng hay lợi ích trên toàn phương diện. Cạnh tranh giữa các nước lớn hiện nay chi phối và làm phức tạp hơn các mối quan hệ, tạo ra những thay đổi trong hợp tác giữa các nước, nhất là các cường quốc.
Điều này đã làm tăng tính phụ thuộc giữa các nước vào nhau nhiều hơn, kéo theo việc tập hợp lực lượng của các cường quốc đang có những thay đổi hết sức phức tạp, gây ra những biến chuyển địa chính trị, địa kinh tế và tác động trực tiếp đến lợi ích của các nước khác. Lý thuyết của Chủ nghĩa Hiện thực về cạnh tranh giữa các nước lớn cho thấy: lợi ích là yếu tố căn bản trong quan hệ quốc tế và được đảm bảo bằng quyền lực. Quan hệ quốc tế được mô tả như một cuộc cạnh tranh giành quyền lực giữa các nước theo đuổi lợi ích quốc gia, xung đột là bản chất của quan hệ quốc tế. Các nước lớn luôn tìm mọi cách làm thay đổi cục diện thế giới đồng thời tác động, gây ảnh hưởng tới các nước đang phát triển, các nước nhỏ hơn mình, hi sinh quyền lợi của các nước nhỏ để thỏa mãn quyền lợi của các nước lớn.
Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về cạnh tranh chiến lược chủ yếu dựa trên sự vận động của đấu tranh giai cấp, sự mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, mâu thuẫn giữa cơ sở hạ tầng với kiến thức thượng 7 tầng. Xã hội quốc tế là một hệ thống thế giới, trong đó xung đột quốc tế, hợp tác quốc tế, cục diện thế giới v. cơ bản được giải quyết bởi quan hệ giữa hai giai cấp với nhau. Cục diện địa chính trị Địa - chính trị phản ánh sự kết hợp giữa những yếu tố địa lý và chính trị để quyết định tình trạng của một quốc gia hoặc khu vực, nhấn mạnh những tác động của địa lý trong chính trị; chiến lược ám chỉ những giải pháp toàn diện để đạt được mục tiêu trung tâm hoặc các tài sản quan trọng mang ý nghĩa quân sự.
Ngày nay, địa chính trị được xem như là một công cụ của chính sách đối ngoại nhằm giúp hiểu được các quan hệ quốc tế trong mối quan tâm đến dự báo. Nếu ta có thói quen đánh giá vị trí chiến lược của một quốc gia theo những tiêu chí được xác định rõ (vị trí địa lý, diện tích, quy mô dân số, khí hậu, địa hình, nguyên liệu và trình độ phát triển công nghệ), thì địa chính trị đi xa hơn và đề ra phân tích những quan hệ quốc tế giữa các quốc gia. Từ đó ta có thể nhận diện các tác nhân và thách thức về quyền lực bên trong một vùng đất nhất định, chẳng hạn như dựa vào các bản đồ và thống kê. Như vậy, địa chính trị thường là một tiền đề cho địa chiến lược.
Cơ sở thực tiễn 1. Tình hình thế giới giai đoạn 2010-2020 Bước sang thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, bối cảnh quốc tế cũng như từng khu vực có rất nhiều biến động lớn, làm cho cục diện quốc tế thay đổi cơ bản, nhanh chóng. Đây được coi là giai đoạn bản lề cho việc hình thành một trật tự thế giới mới. Những sự kiện lớn diễn ra từ năm 2009 đến nay đã phác họa một trật tự thế giới đa cực được thể hiện ngày càng rõ cùng vai trò nổi lên của nhiều nước.
Đó là những nhân tố quan trọng, tác động trực tiếp tới cục diện quốc tế nói chung, tới quan hệ giữa hai nước Mỹ và Trung Quốc nói riêng, đặc biệt trong bối cảnh hai nước này đang cạnh tranh chiến lược gay gắt tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Về tình hình kinh tế Trong thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, chứng kiến một số “điểm sáng” của sự hội nhập, hợp tác khu vực, liên khu vực và quốc tế diễn ra sôi động với 8 nhiều hình thức, trên nhiều lĩnh vực và ở nhiều cấp độ khác nhau, được chú ý như hợp tác trong Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO) gồm Nga, Trung Quốc, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan và Uzbekistan năm 2014; Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) năm 2018 là một hiệp định mang tính lịch sử, bởi CPTPP là hiệp định thương mại quy mô lớn và được chính giới nhiều nước quan tâm trong vòng hai thập kỷ qua. Mặc dù vậy, bức tranh kinh tế thế giới vẫn là những đường nét và màu sắc ảm đạm. Kinh tế thế giới vẫn đứng trước 3 mối đe dọa lớn là: khủng hoảng nợ công ở châu Âu, kinh tế Mỹ suy giảm và kinh tế các nước thuộc nhóm các nền kinh tế mới nổi (BRICS) - vốn là đầu tàu thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế toàn cầu, đều đã không giữ được “phong độ”, tăng trưởng chậm, thậm chí sụt giảm - đây chính là “ngòi nổ” dẫn đến suy thoái kinh tế toàn cầu.
Kinh tế thế giới sau khi bắt đầu lấy lại đà tăng trưởng đạt mức 5,1% trong năm 2010 đã nhanh chóng giảm sâu xuống còn 3,9% vào năm 2011. Đà sụt giảm này tiếp tục kéo dài sang hai năm tiếp theo với mức tăng trưởng rơi xuống còn 3,2% trong 2 năm 2012 – 2013. Tăng trưởng chỉ bắt đầu có dấu hiệu phục hồi trở lại với mức tăng nhẹ ước đạt khoảng 3,4% vào năm 2014, và đạt khoảng 3,9% vào năm 20151. Giai đoạn từ 2015 đến 2018, trước thời điểm xảy ra cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung, nền kinh tế thế giới đã phục hồi và tiến triển theo chiều hướng tích cực.
Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới, tốc độ tăng trưởng trung bình của nền kinh tế thế giới trong giai đoạn 2015-2018 đối với nhóm các nước có thu nhập cao, tốc độ tăng trưởng GDP đạt khoảng 1,88%, còn đối với nhóm nước có thu nhập trung bình và thấp, tốc độ tăng trưởng trung bình đạt khoảng 4,77%. Như vậy, có thể thấy đến thời điểm năm 2015-2018 tăng trưởng kinh tế toàn cầu hiện vẫn đang ở mức thấp hơn nhiều so với mức tăng trưởng trung bình đạt xấp xỉ 5% giai đoạn trước khủng hoảng tài chính toàn cầu.2 1 Phòng Nghiên cứu Phát triển Ngân hàng Trung Ương Viện Chiến lược Ngân hàng- “Diễn biến chính của kinh tế thế giới giai đoạn 2011 – 2015 và những tác động đối với thị trường tài chính tiền tệ”, số 18/5/2015 2 Báo điện tử Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam- “Kinh tế Việt Nam 2016-2019 và định hướng 2020”, số ra 28/1/2019 9 Cuộc khủng hoảng di cư lớn nhất ở châu Âu trong gần một thế kỷ trở lại đây là hệ lụy của nạn khủng bố lan rộng và cuộc chiến chống Nhà nước Hồi giáo tự xưng (IS) của các nước Mỹ, Anh cùng cộng đồng quốc tế bắt đầu từ tháng 8/2014. Dòng người di cư từ các nước Trung Đông - Bắc Phi ồ ạt tràn vào bờ biển Địa Trung Hải, ảnh hưởng nặng nề đến nền kinh tế của nhiều nước châu Âu như: Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp, Italy, Đức, Áo, Serbia, Hungary và Pháp. Sự kiện nổi bật của kinh tế thế giới - Brexit.
Kết quả của cuộc trưng cầu dân ý ngày 23/6/2016 của nước Anh đã làm nên một cuộc chia tay lịch sử, tạo ra cơn chấn động, dẫn đến hiện tượng Brexit trong EU. Ngày 29/3/2017, nước Anh chính thức kích hoạt Điều 50, bắt đầu quá trình đàm phán rời EU. Thị trường thế giới đã trải qua cơn “sang chấn” mạnh, chỉ đứng sau năm 2008. Đồng Eurozone đang lung lay, đồng USD và hàng loạt các đồng tiền khác trên thế giới, nhất là châu Á đều trượt giá.
Brexit không những sẽ tiếp tục tác động tiêu cực mạnh mẽ không chỉ với nền kinh tế Anh mà còn với nhiều nền kinh tế châu Âu và kinh tế toàn cầu. Làn sóng bảo hộ mậu dịch đang có xu hướng gia tăng trên toàn thế giới. Các biện pháp bảo hộ thương mại trong nhóm G20 đã tăng lên mức cao nhất trong vòng vài năm qua, kim ngạch thương mại toàn cầu đã giảm xuống lần đầu tiên vào năm 2016, trong 6 năm trở lại đây, dưới mức 7. Kinh tế thế giới cũng bị ảnh hưởng nặng nề từ những vấn đề toàn cầu.
Số liệu từ Diễn đàn các nước dễ bị tổn thương vì biến đổi khí hậu cho thấy: Mỗi năm, biến đổi khí hậu là tác nhân khiến 40.000 người thiệt mạng, thiệt hại kinh tế lên đến 1.200 tỷ USD, tương đương 1,6% GDP hàng năm của thế giới 3 Dự báo đến năm 2030, thiệt hại kinh tế sẽ còn tăng gấp đôi. Nợ doanh nghiệp ở các nước đang phát triển tăng cao, bất ổn trên các thị trường tài chính gia tăng, thiên tai và các bệnh dịch nguy hiểm hoành hành. vẫn là những tác nhân chính, những mối nguy hại ảnh hưởng trực tiếp khiến kinh tế thế giới chưa vượt qua giai đoạn trì trệ. 33 Bnews- “Biến đổi khí hậu: Kinh tế toàn cầu thêm liêu xiêu”, số 16/3/2016 10 Đặc biệt, một sự kiện quan trọng đó là cuộc Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc chính thức nổ ra từ ngày 22/3/2018 và tiếp tục diễn biến căng thẳng cho tới thời điểm hiện tại năm 2020.
Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố đánh thuế 50 tỷ USD đối với hàng hóa Trung Quốc xuất khẩu vào Mỹ, để ngăn chặn những gì họ cho là hành vi thương mại không công bằng và hành vi trộm cắp tài sản trí tuệ. Từ đó đến nay, sự leo thang căng thẳng giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới đã vượt qua biên giới hai nước, tác động mạnh mẽ tới nền kinh tế toàn cầu. Và tình hình hiện nay cho thấy, căng thẳng thương mại vẫn còn tiếp diễn, ngày càng gay gắt và chưa có dấu hiệu sẽ dừng lại. Dễ dàng thấy rằng, thập niên thứ 2 của thế kỷ XXI là nguyên nhân chủ đạo khiến giới phân tích cho rằng kinh tế - tài chính toàn cầu vẫn tiếp tục bất ổn, còn nhiều yếu tố tiềm ẩn.