Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ XÃ HỘI ĐỐI VỚI DI SẢN VĂN HOÁ 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý xã hội đối với di sản văn hóa 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm văn hóa Thuật ngữ “văn hoá” xuất hiện rất sớm trong ngôn ngữ nhân loại của phương Đông và phương Tây với nhiều quan niệm khác nhau.
Trong tiếng Việt, văn hóa được dung theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức, lối sống. Theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn. Trong khi theo nghĩa rộng, văn hóa bao gồm tất cả, từ những sản phẩm tinh vị, hiện đại cho đến tính ngưỡng, phong tục, lối sống… Theo học giả Đào Duy Anh thì hai tiếng văn hóa là chỉ chung tất cả những phương diện sinh hoạt của loài người, cho nên ta có thể nói: “văn hóa tức là sinh hoạt” [1, tr. Theo Trần Ngọc Thêm, văn hóa được hiểu như sau: “văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa người với môi trường tự nhiên và xã hội” [21, tr.
Theo Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Long, do Nhà xuất bản Hồng Đức, năm 2008 thì: “Văn hóa là văn học và giáo hóa tức sự học hỏi, dạy dỗ bằng chữ nghĩa, văn chương”.1050] Trong Khung thống kê văn hóa UNESCO 2009 (FCS), UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa là tập hợp các đặc trưng tiêu biểu về tinh thần, vật chất, tri thức và xúc cảm của xã hội hoặc một nhóm người trong xã hội; văn hóa không chỉ bao gồm văn học và nghệ thuật mà còn cả phong cách sống, phương thức sống, các hệ giá trị, truyền thống và niềm tin”. 8 Theo Giáo trình Cơ sở văn hóa Việt Nam của Khoa Tuyên truyền, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, văn hóa được hiểu như sau: “Văn hóa là tổng thể hệ thống những giá trị, những chuẩn mực, những thói quen, những hoạt động trong thực tiễn, có ý thức, mang tính xã hội, sáng tạo và nhân văn của một cộng đồng người nhất định trong lịch sử nhằm thỏa mãn nhu cầu của cuộc sống và tạo ra bản sắc riêng” [9, tr. Như vậy, văn hoá là tất cả những giá trị vật thể do cộng đồng con người sáng tạo và tích luỹ trong quá trình hoạt động thực tiễn và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Khái niệm di sản văn hóa Khái niệm di sản văn hoá có thể xác định được một cách thuận lợi từ khái niệm về văn hoá.
Tính chất lưu truyền đã biến văn hoá của thế hệ trước trở thành di sản văn hoá của thế hệ sau. Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, do Nhà xuất bản Đà Nẵng và Trung tâm từ điển học xuất bản năm 2004 định nghĩa: “Di sản là cái của thời trước để lại. Di sản văn hóa theo nghĩa Hán Việt là những tài sản văn hóa có giá trị của quá khứ còn tồn tại trong cuộc sống đương đại và tương lai” [32, tr. Năm 1983, Hội nghị Di sản toàn quốc của Vương quốc Anh đã định nghĩa: “Di sản là những gì thuộc về thế hệ trước giữ gìn và chuyển giao cho thế hệ hiện nay và những gì mà một nhóm người quan trọng trong xã hội hiện nay mong muốn chuyển giao cho thế hệ tương lai”.
Bất cứ dân tộc nào cũng có một di sản văn hoá riêng, đặc trưng cho bản sắc của dân tộc đó, dân tộc Việt Nam cũng vậy. Điều 1 Luật Di sản văn hoá năm 2001 nêu rõ định nghĩa về di sản văn hoá của Việt Nam như sau: “Di sản văn hoá bao gồm di sản văn hoá phi vật thể và di sản văn hoá vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Theo cách tiếp cận giá trị văn hoá này, ta thấy di sản văn hoá bao gồm hầu hết các giá trị văn hoá do thiên nhiên và con người tạo nên trong quá khứ. Di sản văn hoá là 9 những giá trị văn hoá đặc biệt bền vững vì nó phải được thẩm định một cách khắt khe bằng sự thừa nhận của cả cộng đồng người trong một thời gian lịch sử lâu dài, đó chính là tính chất đặc thù của di sản văn hóa, phân biệt với khái niệm văn hóa nói chung.
Bởi vậy, có thể nói di sản văn hoá là bộ phận quan trọng nhất, cơ bản nhất của nền văn hoá. Di sản văn hóa là cơ sở nền tảng nhận diện sự khác biệt giữa các dân tộc, các quốc gia, tạo nên bản sắc quốc gia, bản sắc dân tộc trong giao lưu và hội nhập quốc tế. Từ đó, có thể rút ra khái niệm chung như sau: di sản văn hoá là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần do một cộng đồng người sáng tạo và tích luỹ trong một quá trình lịch sử lâu dài và được lưu truyền từ thế hệ trước cho thế hệ sau. Khái niệm quản lý xã hội Hoạt động quản lý đã xuất hiện từ lâu, nhưng thuật ngữ “quản lý” tùy thuộc vào từng mục tiêu và dưới các góc độ nghiên cứu, người ta có thể đưa ra những quan niệm khác nhau về quản lý.
Theo quan niệm của C.Mác: “Bất kỳ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào đó mà được tiến hành tuân theo một quy mô tương đối lớn đều cần có sự quản lý ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, sự vận động này khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của cá thể đó. Một nhạc công tự điều khiển mình, nhưng một dàn nhạc phải có nhạc trưởng” [14, tr.Mác chỉ ra rằng, quản lý là nhằm phối hợp các lao động đơn lẻ để đạt được sự thống nhất của toàn bộ quá trình sản xuất.Mác đã tiếp cận khái niệm quản lý từ góc độ mục đích của quản lý. Khái niệm quản lý nói chung được đề cập trong sách “Một số thuật ngữ hành chính” của Viện Nghiên cứu hành chính, Học viện Hành chính quốc gia là “quá trình tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý” [31, tr. Nói cách khác, quản lý là hoạt động có ý thức của con người, nhằm sắp xếp, tổ chức, chỉ huy, điều hành, hướng dẫn, kiểm tra.
các quá trình xã hội và hoạt động của con người để hướng chúng phát triển 10 phù hợp với quy luật xã hội, đạt được mục tiêu xác định theo ý chí của nhà quản lý với chi phí thấp nhất. Như vậy, quản lý được hiểu là tất cả hoạt động tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý tới những đối tượng quản lý để điều chỉnh chúng vận động và phát triển theo những mục tiêu nhất định đã đề ra. Ngày nay, quản lý xã hội không còn là vấn đề mới mẻ, bởi nó được hình thành và được các chủ thể quản lý sử dụng ở tất cả các lĩnh vực quản lý. Dưới những góc độ tiếp cận khác nhau đã có những cách hiểu và định nghĩa khác nhau về quản lý xã hội.
Quản lý xã hội là những tác động có ý thức của các chủ thể xã hội (cá nhân hoặc tổ chức) vào xã hội nhằm sắp xếp và duy trì các phẩm chất đặc thù của xã hội, đáp ứng sự tồn tại và phát triển xã hội trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của nó như lao động và học tập, văn hóa chính trị, tôn giáo và các công tác xã hội khác. Khái niệm quản lý xã hội được hiểu theo hai cách tiếp cận khác nhau: Thứ nhất, quản lý xã hội là hoạt động quản lý các tổ chức xã hội phi nhà nước, không chịu sự chi phối trực tiếp bởi quyền lực Nhà nước hay Chính phủ. Theo cách tiếp cận này, chủ thể quản lý xã hội được xác định là cac tổ chức phi nhà nước. Do đó, công cụ chủ yếu để quản lý xã hội không phải bằng pháp luật mà thông qua các quy định, nội quy của các tổ chức đó.
Cách hiểu này không có tính phổ biến, bởi nó đã hạn chế sự quản lý của Nhà nước – chủ thể quan trọng nhất đảm bảo hiệu quả quản lý xã hội. Thứ hai, quản lý xã hội là cách thức tổ chức đời sống xã hội vì mục tiêu chung, khi đó cả quốc gia cho tới nhóm xã hội đều bị chi phối bởi dạng quản lý nào đó. Do đó, quản lý hành chính cũng là một dạng quản lý xã hội. Cách hiểu này có tính phổ biến hiện nay.
Theo Giáo trình “Lý thuyết chung về quản lý xã hội” của tác giả Nguyễn Vũ Tiến, khái niệm quản lý xã hội được hiểu như sau: “Quản lý xã hội là sự tác động liên tục, có tổ chức của các chủ thể lên các lĩnh vực của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội) và các đối tượng có liên quan, nhằm duy trì 11 và phát triển xã hội theo quy luật khách quan và các đặc trưng của xã hội” [23, tr. Theo nghĩa rộng, quản lý xã hội là hiện tượng vốn có của các hệ thống xã hội, bảo đảm duy trì tính vẹn toàn, sự đặc thù về chất, sự tái tạo và sự phát triển của hệ thống xã hội đó. Theo nghĩa hẹp, quản lý xã hội là sự tác động có ý thức, có hệ thống, có tổ chức của chủ thể quản lý đến xã hội nhằm chấn chỉnh và hoàn thiện hoạt động xã hội đó đạt mục đích đã xác định. Từ hai cách tiếp cận trên, ta có thể hiểu: quản lý xã hội là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý đối với các hoạt động của đời sống xã hội nhằm hướng tới mục tiêu nhất định.