Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA VÀ DI TÍCH CHÙA THÁI LẠC 1. Một số khái niệm 1. Di sản văn hóa Công ước về Bảo vệ DSVH và thiên nhiên thế giới của UNESCO ban hành năm 1972, tại điều 1 có quy định những loại hình sau đây được coi như là “di sản văn hóa”: Di tích kiến trúc (monuments): Các công trình kiến trúc, các công trình điêu khắc và hội họa kiến trúc, các bộ phận hoặc kết cấu có tính chất khảo cổ học, các bia ký, các hang động cư trú và những bộ phận kết hợp, mà xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hoặc khoa học là có giá trị nổi bật toàn cầu; Nhóm công trình xây dựng (groups of buildings): Các nhóm công trình riêng lẻ hoặc liên kết mà có, do tính chất kiến trúc, tính chất đồng nhất hoặc vị thế của chúng trong cảnh quan, xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hoặc khoa học là có giá trị nổi bật toàn cầu; Các di chỉ (Sites) các công trình của con người hoặc công trình kết hợp giữa con người và thiên nhiên, cũng như các khu vực có các di chỉ khảo cổ học mà xét theo quan điểm lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân học là có giá trị nổi tiếng toàn cầu [78, tr. Căn cứ vào khái niệm của công ước, so sánh với sự phân loại của nhóm các loại hình.
Di tích chùa Thái Lạc được xếp vào nhóm các công trình xây dựng, có đặc điểm kiến trúc và cảnh quan bao quanh có giá trị nghệ thuật. 11 Theo Luật DSVH được ban hành năm 2001 và sửa đổi, bổ sung năm 2009 thì DSVH được chia làm 02 loại hình bao gồm: DSVH phi vật thể và DSVH vật thể. Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan; có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng; không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác. Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia [52].
Trong cuốn giáo trình Di tích LSVH và danh thắng Việt Nam, tác giả Dương Văn Sáu đưa ra khái niệm: "Di sản văn hóa là sự chung đúc và kết tinh các giá trị vật chất và tinh thần của các thế hệ người đi trước; trở thành tài sản của cả cộng đồng; được cộng đồng thừa nhận, tuân thủ, bảo tồn, phát triển và truyền trao cho các thế hệ kế tiếp" [50, tr. Có thể nói, chùa Thái Lạc là một trong những di sản văn hóa vật thể tiêu biểu còn lại cho đến ngày hôm nay, đồng thời là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học xét theo tinh thần Luật DSVH của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Với những giá trị văn hóa vật thể còn hiện tồn tại ngôi cổ tự này thì những giá trị văn hóa phi vật thể, trong đó có các nghi lễ Phật giáo và lễ hội tứ pháp được xem là sản phẩm tinh thần của cộng đồng dân cư nơi đây. Di tích lịch sử - văn hóa Các di tích lịch sử là sản phẩm trao truyền của người xưa để lại, thấm đượm những thông điệp từ quá khứ, đến nay vẫn là những chứng 12 nhân lịch sử của những giá trị truyền thống lâu đời của dân tộc.
Hiện nay, con người ngày càng nhận thức rõ các giá trị đó và coi các di tích lịch sử như là một di sản chung của dân tộc. Bởi thế, mỗi chúng ta cần phải tự nhận thức rõ điều đó, để cùng có trách nhiệm chung giữ gìn bảo vệ các di tích đó. Tại điều I của Hiến chương Quốc tế về bảo tồn và trùng tu di tích và di chỉ được thông qua tại đại hội Quốc tế lần thứ hai, các kiến trúc sư và kỹ thuật gia về di tích lịch sử họp tại Venice năm 1964 và được ICOMOS chấp thuận năm 1965: Di tích lịch sử văn hóa không chỉ là một công trình kiến trúc đơn chiếc mà cả khung cảnh đô thị hoặc nông thôn có chứng tích của một nền văn minh riêng, một phát triển có ý nghĩa hoặc một sự kiện lịch sử. Khái niệm này không chỉ áp dụng với những công trình nghệ thuật to lớn mà cả với những công trình khiêm tốn hơn vốn đã cùng với thời gian, thâu nạp được một ý nghĩa văn hóa [16, tr.
Căn cứ vào văn bản quốc tế, chùa Thái Lạc được xem là một công trình kiến trúc - nghệ thuật. Đây là loại hình kiến trúc Phật giáo cùng với không gian cảnh quan/không gian kiến trúc đạt tiêu chuẩn lựa chọn xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia từ năm 1964 đã khẳng định những giá trị tiêu biểu của di tích này. Khái niệm DTLSVH được nêu ra trong văn bản luật của quốc gia Việt Nam như sau: “Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học". Đối với văn bản quy định trong Luật DSVH thì di tích chùa Thái Lạc được xếp loại công trình xây dựng hiện còn lưu giữ được những mảng điêu khắc từ thời Trần, có giá trị lịch sử, văn hóa.
13 Về khái niệm về di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia được định nghĩa trong Luật DSVH như sau: "Di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học; Cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học, có từ 100 năm tuổi trở lên; Bảo vật quốc gia là những hiện vật lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học" [52, tr. Tham chiếu theo những quy định trong các khái niệm di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, tại di tích chùa Thái Lạc hiện nay còn lưu giữ được các cổ vật có giá trị như: Tượng Tam thế phật, Pháp Vân, tượng Quan Âm Nam Hải là những pho tượng có giá trị về mặt lịch sử cũng như về giá trị mỹ thuật. Đặc biệt, như đã trình bày ở trên, đó là hệ thống ván gió, trụ trốn có điêu khắc các đề tài trang trí: nhạc công thiên thần, Kinnara, phỗng đội đài sen. mang đậm phong cách nghệ thuật thời Trần.
Ngoài ra, chùa Thái Lạc còn lưu giữ được bản in bùa trấn Tứ pháp, có niên đại thế kỷ XVIII và hệ thống bia đá ghi lại lịch sử hình thành và quá trình trùng tu chùa Thái Lạc. Quản lý Từ khi xã hội loài người được hình thành, hoạt động tổ chức, quản lý đã được quan tâm. Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công lao động nhằm đạt được hiệu quả cao hơn. Đó là hoạt động giúp cho người đứng đầu tổ chức phối hợp sự nổ lực của các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
Trong nghiên cứu khoa học, có rất nhiều quan niệm về quản lý theo những cách tiếp cận khác nhau. Quản lý là một khái niệm có nội hàm rất rộng, do quản lý gắn liền với nhiều quá trình phát triển kinh tế - xã hội, nên trên thực tế có nhiều quan điểm, trường phái khác nhau về quản lý. Quản lý là một hoạt động tất yếu khi có nhiều người cùng làm việc với nhau để thực hiện mục tiêu chung. 14 Quản lý nhìn chung là sự tác động của tổ chức, có định hướng của chủ thể lên khách thể nhằm đạt được mục tiêu định trước.
Bất kỳ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào đó mà được tiến hành tuân theo một quy mô tương đối lớn đều cần có sự quản lý ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt động cá nhân thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, sự vận động này khác sự vận động của các cơ quan độc lập của cơ thể đó. Một nhạc công tự điều khiển mình như một dàn nhạc phải có nhạc trưởng [35, tr. Theo nhà triết học Karl Marx (Các Mác), quản lý là một hoạt động thực tiễn nhằm phối hợp các lao động đơn lẻ để đạt được cái thống nhất của toàn bộ quá trình sản xuất. Ở đây, Karl Marx (Các Mác) đã tiếp cận và đưa ra khái niệm quản lý từ góc độ mục đích của người quản lý.
Bên cạnh đó, trên thực tế còn có một số quan điểm của các nhà nghiên cứu khác cho rằng: Quản lý là sự kết hợp của ba phương diện: 1/thông qua tập thể để thúc đẩy tính tích cực của cá nhân; 2/ điều hòa quan hệ giữa người với người, giảm mâu thuẫn giữa hai bên; 3/ tăng cường hợp tác hỗ trợ lẫn nhau, thông qua hỗ trợ để làm được những việc mà một cá nhân không thể làm được, thông qua hợp tác tạo ra giá trị lớn hơn giá trị cá nhân - giá trị tập thể. Theo giáo trình Quản lý hành chính nhà nước của Học viện Hành chính Quốc gia có định nghĩa khái niệm quản lý như sau: “Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra và đúng ý chí của người quản lý”. Căn cứ vào quy mô và tính chất, có thể chia quản lý thành: Quản lý vĩ mô bao gồm “hoạt động quản lý nhà nước nói chung về các lĩnh vực, ngành nghề trong xã hội. Hình thức này là sự tác 15 động mang tính chất quyền lực nhà nước, theo hướng điều tiết và định hướng với các nhiệm vụ cơ bản” Quản lý vi mô là “những tổ chức cụ thể như một doanh nghiệp, một cơ quan nghiên cứu, một bảo tàng.
Hình thức này đi sâu vào mục tiêu, nhiệm vụ và môi trường đặc thù của từng tổ chức cá nhân”. Hoạt động quản lý bao gồm các yếu tố sau: Chủ thể quản lý: Là tác nhân tạo ra các tác động quản lý. Chủ thể luôn là con người hoặc tổ chức. Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng các công cụ với những phương pháp thích hợp theo những nguyên tắc nhất định.
Đối tượng quản lý: Tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủ thể quản lý.