Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý nguồn nhân lực 1. Một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm nhân lực Từ “nhân lực” trong tiếng Việt là từ ghép có nguồn gốc từ tiếng Hán.
“Nhân” là người, “lực” là lực lượng, sức lực. Như vậy, nhân lực là lực lượng con người hay nguồn lực của mỗi con người, bao gồm: thể lực (sức khoẻ, năng lực thể chất, năng lực cơ bắp), trí lực (tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm trong lao động) và tâm lực (đạo đức, lối sống, tinh thần, thái độ trong công việc).5] Như vậy, nhân lực được định nghĩa là nguồn lực xuất phát từ trong chính bản thân của từng cá nhân con người. Nhân lực bao gồm thể lực và trí lực và tâm lực. Nguồn lực này ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể bên ngoài của con người.
Cho đến một ngày, nguồn lực này đủ lớn, đáp ứng các điều kiện để con người có thể tham gia vào lao động, sản xuất. Chính vì điều đó, nhân lực tạo ra sự khác biệt so với các nguồn lực khác trong doanh nghiệp (nguồn vốn, công nghệ kỹ thuật, máy móc. Khái niệm nhân lực được nhận thức và vận dụng rộng rãi trong quá trình tuyển dụng và đánh giá nhân lực. Khái niệm nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là nguồn lực con người, nguồn lực đó được xem xét ở hai khía cạnh: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực hay nguồn lực con người là tổng thể tiềm năng của con người (trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động) của xã hội, có khả năng huy động trong một thời kỳ nhất định.
Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng của con người được lượng hóa bằng một chỉ tiêu nhất định do luật định hoặc chỉ tiêu thống 8 kê căn cứ vào độ tuổi hoặc khả năng lao động, tức là có thể đo đếm được. Trong đó quan trọng nhất là dân số hoạt động kinh tế thường xuyên, hay còn gọi là lực lượng lao động.12] Bên cạnh những quan điểm chung, nguồn nhân lực cũng là vấn đề được nhiều nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu, chính vì vậy trên nhiều lĩnh vực khác nhau có những khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực. Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc: "Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”. Ngày nay, nguồn nhân lực còn bao hàm khía cạnh về số lượng, không chỉ những người trong độ tuổi mà cả những người ngoài độ tuổi lao động.
Tổ chức Ngân hàng thế giới cho rằng nguồn nhân lực “Là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp mà mỗi cá nhân sở hữu, có thể huy động được trong quá trình sản xuất kinh doanh hay một hoạt động nào đó”. Ở đây nguồn nhân lực được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác nhưng nó có vai trò đặc biệt vì nó được sử dụng để khai thác, duy trì và sử dụng các loại vốn vật chất đó. Theo quan điểm của kinh tế phát triển, nguồn nhân lực có thể được gọi là "vốn nhân lực, được hiểu là tiềm năng, khả năng phát huy tiềm năng của người lao động, là cái mang lại nhiều lợi ích hơn trong tương lai so với những lợi ích hiện tại" [7, tr. Theo các tác giả của cuốn "Nguồn lực và động lực phát triển trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam" do Giáo sư - Tiến sỹ Khoa học Lê Du Phong chủ biên thì "Nguồn lực con người được hiểu là tổng hoà trong thể thống nhất hữu cơ giữa năng lực xã hội của con người (thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động của con người.
Tính thống nhất đó được thể hiện ở quá trình biến nguồn lực con người thành vốn con người” [14, tr. 9 Giáo trình “Quản lý nguồn nhân lực xã hội” của Khoa Nhà nước và Pháp luật, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, khái niệm nguồn nhân lực được hiểu như sau: “nguồn nhân lực là tổng thể tiềm năng lao động có khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai”.16] Từ những cách tiếp cận trên, ta có thể hiểu nguồn nhân lực là tổng thể tiềm ẩn của con người và khả năng huy động sức mạnh đó tham gia vào quá trình tạo ra của cải, vật chất và tinh thần cho xã hội ở hiện tại cũng như trong tương lai. Sức mạnh và khả năng đó được biểu hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu lao động, quan trọng hơn cả là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào quá trình sản xuất chung của xã hội. Khái niệm quản lý Hoạt động quản lý đã xuất hiện từ lâu, nhưng thuật ngữ “quản lý” tùy thuộc vào từng mục tiêu và dưới các góc độ nghiên cứu, người ta có thể đưa ra những quan niệm khác nhau về quản lý.
Theo quan niệm của C.Mác: “Bất kỳ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào đó mà được tiến hành tuân theo một quy mô tương đối lớn đều cần có sự quản lý ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, sự vận động này khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của cá thể đó. Một nhạc công tự điều khiển mình, nhưng một dàn nhạc phải có nhạc trưởng” [2, tr.Mác chỉ ra rằng, quản lý là nhằm phối hợp các lao động đơn lẻ để đạt được sự thống nhất của toàn bộ quá trình sản xuất.Mác đã tiếp cận khái niệm quản lý từ góc độ mục đích của quản lý. Khái niệm quản lý nói chung được đề cập trong sách “Một số thuật ngữ hành chính” của Viện Nghiên cứu hành chính, Học viện Hành chính quốc gia là “quá trình tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý” [16, tr. Nói cách khác, quản lý là hoạt 10 động có ý thức của con người, nhằm sắp xếp, tổ chức, chỉ huy, điều hành, hướng dẫn, kiểm tra.
các quá trình xã hội và hoạt động của con người để hướng chúng phát triển phù hợp với quy luật xã hội, đạt được mục tiêu xác định theo ý chí của nhà quản lý với chi phí thấp nhất. Như vậy, quản lý được hiểu là tất cả hoạt động tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý tới những đối tượng quản lý để điều chỉnh chúng vận động và phát triển theo những mục tiêu nhất định đã đề ra. Khái niệm quản lý nguồn nhân lực Trong các nghiên cứu của Werther và Davis (nhà nghiên cứu kinh tế của Anh), quản lý nguồn nhân lực được hiểu là tìm mọi cách tạo thuận lợi cho mọi người trong tổ chức hoàn thành tốt các mục tiêu chiến lược và các kế hoạch của tổ chức, tăng cường cống hiến của mọi người theo hướng phù hợp với chiến lược của tổ chức, đạo đức và xã hội. Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng của con người.
Các nhà quản lý quan tâm đến việc làm thế nào để khai thác và huy động tiềm năng của con người vào quá trình phát triển kinh tế. Để biến tiềm năng con người thành hiện thực, phải thực hiện các chính sách, cơ chế, giải pháp nhằm phát huy tối đa tiềm năng nhân lực nhằm nâng cao tính năng động của xã hội (tính chủ động, sẵn sàng, khả năng thích ứng, sáng tạo, truyền thống văn hóa và phong cách làm việc của nguồn nhân lực). Quá trình này thực chất là quá trình quản lý nguồn nhân lực. Chủ thể quản lý sử dụng các công cụ quản lý để tác động đến các mục tiêu quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
Cơ chế, chính sách, quy tắc, luật pháp là những công cụ được các chủ thể quản lý sử dụng để tác động đến nguồn nhân lực, nhằm điều chỉnh quan hệ lao động, quan hệ sản xuất và nhiều thứ khác. Điều này tạo ra đòn bẩy nhằm thúc đẩy các cá nhân, nhóm và tổ chức thực hiện các hành vi nhằm phát triển và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực. 11 Về bản chất, quản lý nguồn nhân lực là việc ban hành và thực hiện các cơ chế, chính sách, biện pháp, giải pháp và các hoạt động chức năng về phân công, sử dụng, duy trì, phát triển, bồi dưỡng và động viên sức lao động. Hoạt động này được thực hiện một cách nhất quán, liên tục, hiệu quả và bền vững.
Việc sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực không chỉ là mức độ thu hút lao động vào sản xuất xã hội, mà còn thể hiện ở mức độ phát huy mọi tiềm năng sẵn có của nguồn nhân lực trong quá trình hoạt động. Mục tiêu của quản lý nguồn nhân lực là sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực để giảm chi phí lao động, đồng thời tạo cơ hội thúc đẩy năng suất lao động xã hội, chất lượng sản phẩm, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của con người, tạo điều kiện để mọi người có thể phát huy hết tiềm năng của mình. Như vậy ta có thể hiểu quản lý nguồn nhân lực xã hội là những tác động mang tính tổ chức, điều khiển của chủ thể quản lý vào các hoạt động, mối quan hệ của nguồn nhân lực nhằm duy trì, phát trỉển và sử dụng có hiệu quả nguồn lực con người trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước nói chung, của từng vùng lãnh thổ, từng ngành kinh tế nói riêng theo mục tiêu xác định phù hợp với yêu cầu và sự vận động khách quan của nền sản xuất xã hội. Đặc điểm của quản lý nguồn nhân lực 1.
Đặc điểm về chủ thể quản lý nguồn nhân lực Quản lý nguồn nhân lực được tiến hành từ cấp độ vi mô đến vĩ mô. Cụ thể có thể tính từ tổ chức sản xuất, phân xưởng, doanh nghiệp, cộng đồng, địa phương, quốc gia, thậm chí khu vực và quốc tế. Tuỳ theo vai trò xã hội mà các chủ thể quản lý đó thực hiện quyền uy, quyền lực tác động lên đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu của quá trình quản lý.