CHƯƠNG 1 : TỒNG QUAN 1. Giói thiệu về nấm Linh chi Linh chi có tên khoa học là Ganoderma lucidum, tên tiếng Anh là Vamished Conk hay Linh Chih, ở Việt Nam nấm Linh chi còn được gọi là nấm Lim. Trong thư tịch cố nấm Linh chi còn được gọi với tên khác như Tiên thảo, Nấm trường thọ, Vạn niên nhung. Vị trí phân loại của nấm Linh chi: Giới : Mycota hay Fungi Ngành : Eumycota Ngành phụ : Basidiomycotina w ỉ Ũ3Ỉ Lớp :Hymenomycetes Mg Lớp phụ : Hymenomycetidae Bộ : Ganodermataỉes Họ : Ganodermataceae Chi : Ganoderma Hình 1.1:Linhchi đỏ Chi Ganoderma trên thế giới có trên 50 loài, riêng Trung Quốc đã có tới 48 loài khác nhau (nhóm Lucidum có 21 loài, nhóm Sinenses có 27 loài).
Nấm Linh chi được chia làm 2 nhóm lớn là: cố linh chi & Linh chi. Cô linh chi: Hình 1.2: cổ linh chi Cố linh chi chính là thụ thiệt hay còn gọi là bình cái Linh chi hoặc biến Linh chi, có tên khoa học là Ganoderma appìanatum (Pers.) Pat, tên tiếng Anh là Ancient Lingzhi, ở Bắc Mỹ còn được gọi là -2 - KỸ THUẬT TRÒNG VÀ SAU THU HOẠCH NÁM LINH CHI Artist’conk. Cổ linh chi là các loài nấm gỗ không cuống (hoặc cuống rất ngắn) có nhiều tầng (mỗi năm thụ tầng lại phát triến thêm một lớp mới chồng lên). Mũ nấm hình quạt, màu từ nâu xám đến đen sẫm, mặt trên sù sì thô ráp.
Chúng sống ký sinh và hoại sinh trên cây gỗ trong nhiều năm (đến khi cây chết thì nấm cũng chết). Cố linh chi mọc hoang từ đồng bằng đến miền núi ở khắp nơi trên thế giới. Trong rừng rậm, độ ẩm cao, cây to thì nấm phát triển mạnh, tán lớn. Linh chi: Tên khoa học : Ganoderma lucidum (Leyss ex Fr) Kart, có nhiều loài khác nhau.
Là loài nấm gỗ mọc hoang ở những vùng núi cao và lạnh. Nấm có cuống, cuống nấm có màu (mỗi loài có một màu riêng như nâu, đỏ vàng, đỏ cam). Thụ tầng màu trắng ngà hoặc màu vàng. Mũ nấm có nhiều hình dạng, phổ biến là hình thận, hình tròn, mặt trên bóng, nấm hơi cứng và dai.
Sách Bản thảo cương mục (in năm 1595) của Lý Thời Trân, đại danh y Trung Quốc đã phân loại Linh chi theo màu sắc thành 6 loại hay còn gọi là “Lục bảo Linh chi”, mồi loại có công dụng chữa bệnh khác nhau. - Loại có màu vàng gọi là Hoàng chi hoặc Kim chi. - Loại có màu xanh gọi là Thanh chi. - Loại có màu trắng gọi là Bạch chi hay Ngọc chi.
- Loại có màu hồng, màu đỏ gọi là Hồng chi hay Đơn chi hoặc Xích chi. - Loại có màu đen gọi là Huyền chi hay Hắc chi. - Loại có màu tím gọi là Tử chi. Gần đây khi tìm được cách gây giống, nhũng khoa học gia Nhật Bản chứng minh được rằng những cây nấm màu sắc khác nhau không phải vì khác loại mà chỉ vì môi KỸ THUẬT TRÒNG VÀ SAU THU HOẠCH NÁM LINH CHI trường và điều kiện sinh hoạt khác nhau.
Thay đối điều kiện người ta có thế có được đủ sáu loại từ cùng một giống. Xích chi Hắc chi Bạch chi Thanh chi Hình 1.3: Lục bảo Hoàng chi Tử chi -4 - KỸ THUẬT TRÒNG VÀ SAU THU HOẠCH NÁM LINH CHI Lỉnh chỉ KỸ THUẬT TRÒNG VÀ SAU THU HOẠCH NÁM LINH CHI 1. Đặc tính sinh học của nấm Lỉnh chỉ 1. Hình thái cẩu tạo Nấm Linh chi có chung một đặc điếm là tai nấm hoá gỗ gồm 2 phần: cuống nấm và mũ nấm.
Cuống nấm dài hoặc ngắn, đính bên có hình trụ đường kính từ 0,5-3cm, cuống nấm ít phân nhánh, đôi khi có uốn khúc cong queo. Lớp vỏ cuống màu đỏ, nâu đỏ, nâu đen, bóng, không có lông, phủ suốt trên mặt tán nấm. Thụ tầng Hình 1.4: Hình thái nấm Lỉnh chi Mũ nấm khi non có hình trứng lớn dần có hình quạt. Mui nấm dạng thận - gần tròn, đôi khi xoè hình quạt hoặc ít nhiều dị dạng.
Trên mặt mũ nấm có vân gợn hình đồng tâm và có tia rãnh phóng xạ, màu sắc từ vàng chanh-vàng nghệ-vàng nâu-vàng cam-đỏ nâu-nâu tím-nâu đen, nhẵn bóng, láng như verni. Thường sẫm màu dần khi già, lớp vỏ nhẵn bóng phủ tràn kín mặt trên mũ, đôi khi có lớp phấn ánh xanh tím. Kích thước tán biến động lớn từ (2-36) cm dày (0,8-3,3) cm, mặt dưới phang, màu trắng hoặc vàng, có nhiều lỗ li ti, là nơi hình thành và phóng thích bào tử nấm (Bào tử nấm dạng trứng cụt với hai lớp vỏ, giữa hai lớp vỏ có nhiều gai nhọn nối từ trong ra ngoài). Phần đính -6 - KỸ THUẬT TRÒNG VÀ SAU THU HOẠCH NÁM LINH CHI cuống hoặc gồ lên hoặc lõm như lỗ rốn.
Phần thịt nấm dày từ (0,4-2,2 cm) chất lipe, màu vàng kem-nâu nhợt-trắng kem, phân chia theo kiểu lớp trên và lớp dưới, khi nấm đến tuối trưởng thành thì phát tán bào tử từ phiến có màu nâu sẫm. Đặc điêm sinh trưởng của nâm Linh chi Hình 1.5 : Chu trình sông của nâm Linh chi Chu trình sống của nấm Linh chi giống hầu hết các loài nấm khác, nghĩa là cũng bắt đầu từ các bào tử, bào tử nảy mầm phát triển thành mạng sợi nấm gặp điều kiện thuận lợi sợi nấm sẽ kết thành nụ nấm, sau đó nụ phát triến thành chồi, tán và thành tai trưởng thành. Mặt dưới mũ sinh ra các bào tử, bào tử phóng thích ra ngoài và chu trình lại tiếp tục (Đồ Tất Lợi và ctv, 1991). Điếu kiện sinh trưởng & phát triến của nấm Linh chi Nhiệt độ thích hợp: - Giai đoạn nuôi sợi: Từ 20°c đến 30°c - Giai đoạn quả thể: Từ 22°c đến 28°c Độ ấm: - Độ ẩm cơ chất: Là lượng nước bổ sung vào cơ chất để nấm có thể mọc được từ 50 đến -7 - KỸ THUẬT TRÒNG VÀ SAU THU HOẠCH NÁM LINH CHI 60%.
- Độ âm không khí: Gọi là độ âm tương đối không khí. Nó biếu hiện bảng phần trăm của tỉ lệ độ ẩm tuyệt đối trên độ ẩm bảo hoà của không khí, độ ẩm không khí từ 80% đến 95%. Độ thông thoáng: - Trong suốt quá trình nuôi sợi và phát triển quả thể, nấm Linh chi đều cần có độ thông thoáng tốt. Nồng độ C02 trong không khí không được vượt quá 0,1% Ảnh sảng: - Giai đoạn nuôi sợi: Không cần ánh sáng.
- Giai đoạn phát triển quả thể: cần ánh sáng tán xạ (ánh sáng có thể đọc sách được), cường độ ánh sáng cân đổi từ mọi phía. pH: - Linh chi thích nghi trong môi trường trung tính đến acid yếu khoảng 4,5-6,0 Dinh dưỡng: - Nấm Linh chi có khả năng sử dụng nguồn cellulose trực tiếp nên nguồn nguyên liệu đế trồng nấm Linh Chi khá phong phú: mùn cưa, thân gỗ, các loại cây thân thảo, bã mía. Thành phần hóa học của nấm Lỉnh chỉ Các phân tích của G-Bing Lin đã chứng minh các thành phần hóa được tong quát của nấm Linh chi như sau: Nước :12- 13% Cellulose :54 - 56% Lignine :13- 14% Lipid : 1 -9 — 2.2% KỸ THUẬT TRÒNG VÀ SAU THU HOẠCH NÁM LINH CHI Sterol :0.12% Thành phần khác: K, Zn, Ca, Mn, Na, khoáng thiết yếu, nhiều vitamin, amino acid, enzyme và hợp chat alcaloid. Thành phần các chất có hoạt tính & giá trị dược liệu của nấm Lỉnh chi 1.
Thành phần các chất có hoạt tính & công dụng Bảng 1.1: Thành phần các chất có hoạt tính ỏ’ Linh chi Nhóm chất Hoạt tính Loại mô nấm Thành phân hoạt chất ARN Nucleic acid Bào tử Kích thích hệ miên dịch Chống virút Alkaloic Bô tim Quả thê Glycoprotein ửc chế khối u Quả thê Adenosine Nucleotide Quả thê Tăng sự lưu thông máu Thư giản cơ, giảm đau Beta - D - glucans Polysaccharide Quả thê Chông khôi u Kích thích hệ miễn dịch Giảm lượng đường huyết Bô tim Ganoderic Acids Triterpenoid Quả thê Chông dị ứng Bảo vệ gan ức chế tổng hợp cholesterol Ganodermadiol Triterpenoid Quả thê Giảm huyêt áp ức chế ACE Adenosine Nucleotide Tăng sự lưu thông máu Hệ sợi nâm KỸ THUẬT TRÒNG VÀ SAU THU HOẠCH NÁM LINH CHI Thư giản cơ, Giảm đau Uridine, Uracil Nucleoside Phục hôi sự dẻo dai Hệ sợi nâm Cyclooctasulpher Chông dị ứng Hệ sợi nâm Ling Zhi - 8 Protein Hệ sợi nâm Chông dị ứng quang phô Điều hoà huyết áp Ganodosterone Steroid Bảo vệ gan Hệ sợi nâm Ganodermic Acid T Triterpenoid Hệ sợi nâm ức chế tống họp cholesterol -o Oleic Acid Acid béo Chông dị ứng Hệ sợi nâm 1.Giá trị dược liệu Giá trị dược liệu của nấm Linh chi rất cao. Theo cách diễn đạt truyền thống của người phương Đông, các tác dụng lớn của nấm Linh chi như sau: - Kiện não (làm sáng suốt, minh mẫn). - Trường sinh (tăng tuổi thọ). Giá trị dược liệu của nấm Linh chi chủyếu tù' hai nhóm chất có hoạt tính là polysaccharid và triterpenoid.
KỸ THUẬT TRÒNG VÀ SAU THU HOẠCH NÁM LINH CHI Polysaccharid gồm 2 loại chính : GL-A: Gal: Glu: Rham: Xyl (3,2: 2,7: 1,8; 1,0) M= 23.000 Da GL-B: Glu: Rham: Xyl (6,8: 2,0: 1,0) M= 25.000 Da - GL-A có thành phần chính là Gal, nên gọi là Galactan, còn GL-B có thành phần chính là Glu, nên gọi là Glucan. KỸ THUẬT TRÒNG VÀ SAU THU HOẠCH NÁM LINH CHI - b (1-3) -D-glucan, khi phức hợp với một protein, có tác dụng chống ung thư rõ rệt (Kishida & al. Polysaccharid có nguồn gốc từ Linh chi dùng điều trị ung thư đã được công nhận sáng chế (patent) ở Nhật. Năm 1976, Cty Kureha Chemical ĩndustry sản xuất chế phẩm trích từ Linh chi có tác dụng kháng carcinogen.
Năm 1982, Cty Teikoko Chemical Industry sản xuất sản phâm từ Linh chi có gốc glucoprotein làm chất ức chế neoplasm. Bằng sáng chế Mỹ 4051314, do Ohtsuka & al. (1977), sản xuất từ Linh chi chất mucopolysaccharid dùng chống ung thư. Triterpenoid đặc biệt là acid ganoderic có tác dụng chống dị ứng, ức chế sự giải phóng histamin, tăng cường sử dụng oxy và cải thiện chức năng gan.
Hiện nay, đã tìm thấy trên 80 dẫn xuất từ acid ganoderic. Trong đó ganodosteron được xem là chất kích thích hoạt động của gan và bảo vệ gan. Choi (1994), thì dịch chiết nước và methanol của quả thể Linh Chi ức chế sự nhân lên của virus. Hiệu quả cũng nhận thấy trên tế bào lympho T của người nhiễm HỈV-1.
Phân đoạn hon hợp methanol (A) kháng virus rất mạnh. Các phân đoạn khác, như hexan (B), etyl acetat (C), trung tính (E), kiềm (G). đều có tác dụng kháng virus tốt. Phân tích thành phần nguyên tố của nấm Linh chi, còn phát hiện thấy có rất nhiều nguyên tố (khoảng 40), trong đó phải kế đến germanium.
Germanium có liên quan chặt chẻ với hiệu quả lưu thông khí huyết, tăng cường chuyến vận oxy vào mô, đặc biệt là giảm bớt đau đớn cho người bệnh bị ung thư ở giai đoạn cuối.