ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm qua, do ảnh hƣởng của nhiều nguyên nhân khác nhau, nên diện tích, trữ lƣợng rừng cũng nhƣ nguồn gen thực vật rừng nhiệt đới bị suy giảm mạnh, khiến cho khả năng phòng hộ và cung cấp gỗ, lâm sản cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội bị hạn chế. Vì vậy, phải đẩy mạnh công tác xây dựng vốn rừng, trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc. Chuyển hƣớng từ sử dụng lâm sản rừng tự nhiên sang sử dụng lâm sản khai thác từ rừng trồng, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế quốc dân, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, giải quyết việc làm, ổn định đời sống cho cộng đồng dân cƣ các dân tộc miền núi. Dự án “Trồng mới 5 triệu ha rừng” và Kế hoạch Bảo vệ, Phát triển rừng là một nhiệm vụ quan trọng của ngành Lâm nghiệp đang nỗ lực thực hiện, ngoài mục tiêu kinh tế thì các mục tiêu về bảo vệ môi trƣờng sinh thái, phục hồi hệ sinh thái rừng, bảo vệ đa dạng sinh học và phát triển các loài cây bản địa là đặc biệt có ý nghĩa quan trọng.
Nhiều loài cây bản địa đã đƣợc đƣa vào trồng rừng và cũng có những loài cây đang đƣợc nghiên cứu triển khai có nhiều triển vọng. Cây Ƣơi (Scaphium macropodum) thuộc họ Trôm (Sterculiaceae) là loài bản địa mọc nhanh, gỗ lớn cao 20 – 35m, đƣờng kính 50 – 100cm, thân thẳng vỏ nhiều xơ sợi, phân bố phân tán trong rừng tự nhiên ở một số tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Ƣơi là cây đa mục đích,quả có giá trị kinh tế cao. Theo Lê Mộng Chân (1992):gỗ Ƣơi có đặc điểm mềm, nhẹ phù hợp làm gỗ dán lạng và đóng đồ dùng thông thƣờng, vỏ hạt nhiều chất nhày làm đồ uống giải khát, nhân chứa chất béo ăn đƣợc.
Theo Đỗ Tất Lợi ( 2004): hạt Ƣơi vị ngọt, có tác dụng thanh nhiệt, lợi cổ họng, giải độc, thƣờng dùng chữa ho khan, cổ họng sƣng đau, nôn ra máu, chảy máu cam. Do quả Ƣơi có giá trị cao trên thị trƣờng nên hàng năm vào mùa quả chín, do thân thẳng, chiều cao dƣới cành lớn 15 – 25m khó lấy quả, ngƣời dân vào rừng chặt cây để khai thác quả dẫn tới loài này đang giảm sút về số lƣợng và chất lƣợng; ỞViệt Nam mới nghiên cứu đƣợc một số vấn đề cơ bản, trong đó tập trung vào nghiên cứu về đặc điểm sinh thái, kỹ thuật gây trồng cây con từ hạt, thử 2 nghiệm nhân giống vô tính bằng hom hoặc chiết cành, và một số các nghiên cứu về chọn cây trội, khảo nghiệm xuất xứ, sử dụng sản phẩm,…Tuy nhiên chƣa có các nghiên cứu sâu và cụ thể về kỹ thuật nhân giống vô tính bằng phƣơng pháp chiết, ghép cũng nhƣ kỹ thuật gây trồng bằng cây chiết, ghép. Đặc biệt là phát triển cây Ƣơi theo hƣớng kinh doanh nhƣ một loài cây ăn quả trong vƣờn hộ, có thân cây thấp, tán rộng, năng suất quả cao, dễ thu hái. Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu kỹ thuật chiết, ghép và gây trồng cây Ươi (Scaphium macropodum) chiết, ghép tại vườn quốc gia Bạch Mã, tỉnh Thừa Thiên Huế” nhằm góp phần giải quyết các tồn tại nêu trên.TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Giới thiệu chung cây Ƣơi Cây Uơi tên khoa học là Scaphium macropodum, thuộc họ Trôm (Sterculiacea). Hình thái cây ươi: - Thân cây thẳng đứng dạng thân cau, lá có màu xanh đậm. Cây ƣơi cao từ 20-25m, nhánh non có lông hoe, đƣờng kính 50 – 100 cm. - Lá mọc tập trung ở đỉnh cành, lá có phiến từ 3-5 thùy ở thân non, bầu dục ở thân lớn, cuống lá dài từ 10-30cm.
- Hoa nhỏ, đài có ống dài. - Quả nang, mặt ngoài màu đỏ, mặt trong màu bạc. - Hạt to hình bầu dục hay thuôn dài màu đỏ nhạt. - Mùa hoa từ tháng 1 đến tháng 4, hoa chính tháng 3.
- Mùa quả từ tháng 6 đến tháng 8, chín rộ tháng 5. - Chu kỳ sai quả từ 4 – 5 năm cho quả một lần. Phân bố: - Ƣơi phân bố tại các vùng nhƣ miền Trung nhƣ: Thừa Thiên - Huế(A Lƣới, Phú Lộc, Nam Đông), Quảng Nam (Phƣớc Sơn, Trà My, Tây Giang, Nam Giang), Quảng Ngãi (Trà Bồng), Bình Định (Vĩnh Thanh, Tây Sơn), Phú Yên, Bình Thuận, Khánh Hoà, Tây Ninh, Đồng Nai (Tân Phú, Vĩnh An). Tại các tỉnh Tây Nguyên nhƣ:Kon Tum (Đăk Hà, Đăk Glây, Đăk Long, Đăk Tô, Kon Plông, Sa Thày), Gia Lai (Kbang, An Khê, Chƣ Pah, Chƣ Prông), Đăk Lăk (Đăk Mil), Đăk Nông, Lâm Đồng (Bảo Lộc, Đa Hoài).
Tại các tỉnh Đông Nam Bộ nhƣ:Đồng Nai (Vĩnh Cửu, Cát Tiên). - Cây mọcthành đám, cụm có khi mọc rải rác trong rừng rậm nhiệt đới thƣờng xanh mƣa mùa ẩm, ở độ cao không quá 1000 m, trên đất dày, màu mỡ. Giá trị: Cây Ƣơi không cho giá trị cao về gỗ mà giá trị là ở quả của nó. Giá trị về dƣợc liệu: 4 - Quả Ƣơi có vị ngọt, tính hàn, không độc vào kinh phế, có tác dụng: giải nhiệt, giải độc, thanh phế nhiệt, chống viêm, lợi yết hầu, thông tiện, nhuận tràng.
- Quả Ƣơi thƣờng dùng làm nƣớc giải khát, chữa các chứng bệnh do nhiệt gây ra, chữa ho khan mất tiếng, sƣng đau cổ họng, chảy máu cam, nôn ra máu, giúp thông tiểu tiện, nhuận tràng, các chứng đau ruột và các bệnh tiêu hóa… Giá trị về kinh tế: Quả Ƣơi có giá trị cao về kinh tế, giá bán trên thị trƣờng dao động từ 80.000 VNĐ/1kg, có thời điểm (2016) giá bán tới 180. Cơ sở khoa học kỹ thuật chiết, ghép Theo viện sĩ Maximop, mỗi bộ phận của cây, ngay đến mỗi tế bào, đều có tính độc lập về mặt sinh lí rất cao. Chúng có khả năng khôi phục lại các cơ quan, bộ phận không đầy đủ và trở thành một cá thể mới hoàn chỉnh. Phương pháp chiết cành: Cơ sở khoa học của phƣơng pháp là sau khi ta tiến hành khoanh vỏ, dƣới ảnh hƣởng của các chất nội sinh trong tế bào nhƣ auxin, cytokinin khi gặp điều kiện nhiệt độ, độ ẩm thích hợp sẽ kích thích sự hoạt động của tƣợng tầng và hình thành mô sẹo rồi sau đó rễ đƣợc hình thành.
Quá trình hình thành rễ bất định có thể chia làm 3 giai đoạn Giai đoạn 1: Tái sinh phân chia tƣợng tầng Giai đoạn 2: Xuất hiện mầm rễ Giai đoạn 3: Sinh trƣởng và kéo dài của rễ, rễ đâm qua vỏ ngoài Vai trò của Auxin trong việc hình thành rễ: Auxinđóng vai trò quan trọng trong quá trình phát sinh hình thái. Đặc tính di chuyển và hiệu ứng theo nồng độ của auxin quyết định chiều hƣớng và tính hữu cực trong sự phát sinh cơ quan (Sachs, 1993) [24]. Từ khi auxin lần đầu đƣợc mô tả, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy sự liên hệ chặt chẽgiữa auxin với sự phát triển rễ (Overvoordeetal, 2010) [22]. Auxin giúp sự kéo dài tế bào, sự phân chia, sự phát triển và duy trì mô phân sinh ngọn rễ (Mironova et al,2010) [20].
5 Một trong những hiệu ứng rõ nét nhất của auxin đối với sự phân hóa tế bào đã đƣợc chứng thực từ năm 1934 (Went, Skoog, Thimann) là khả năng phát sinh rễ. Hiệu ứng đó tạo nên một trong các ứng dụng quan trọng của auxin hoặc các chất gần giống auxin, là cơ sở của tất cả các sản phẩm thƣơng mại (bột nhão hay dungdịch) nhằm xúc tiến sự giâm cành (Nguyễn Nhƣ Khanh, 2007) [6]. Auxin ở nồng độ cao kích thích sự tạo sơ khởi rễ (phát thể non của rễ), nhƣng ngăn cản sựtăng trƣởng của các sơ khởi này. Đặc tính này đƣợc ứng dụng phổ biến trong giâm cành, hiện tƣợngđƣợc chứng minh bao gồm ít ra là hai giai đoạn: tạo sơ khởi và kéo dài sơ khởi này (Mai Trần NgọcTiếng và các cs, 1980) [9].
Trong sự tạo rễ, auxin cần phối hợp với các Vitamin (nhƣ thiamin mà rễ không tổng hợp đƣợc), axit amin (nhƣ arginin) và nhất là các hợp chất ortho-diphenolic (nhƣ axit cafeic, axit chlorogenic) (Bùi Trang Việt, 2000) [11]. Trong kĩ thuật nhân giống vô tính thì việc sử dụng auxin để kích thích sự ra rễ là cực kì quan trọng và bắt buộc (Vũ Văn Vụ, 1999) [12].Nhiều nghiên cứu chứng minh rằng auxin cảm ứng sự tƣợng rễ bất định (adventitious root initiation) ở các nồng độ auxin khác nhau (Lund et al., 2008; Mironova et al., 2010; Sorin et al. Cùng với bản chất, nồng độ và khuynh độ của auxin (auxin gradients) giải thích đƣợc phần nào về sự tạo rễ bất định ở mức phân tử (Gutierrez et al, 2009) [17]. Những thay đổi nồng độ auxin nội sinh liên quan với những giai đoạn sinh lí của rễ, nồng độ auxin nội sinh cao thƣờng ứng với giai đoạn hình thành sơ khởi rễ.
Khi xử lí auxin ngoại sinh trên khúc cắt, nồng độ auxin nội sinh đạt tới đỉnh cao trùng với thời điểm tạo sơ khởi rễ (Pop et al.Điều đáng lƣu ý là việc sử dụng auxin có hiệu quả ức chế ngay ở nồng độ thấp đối với hệ rễ. Đối với rễ, auxin có tác dụng kích thích ở nồng độ thấp khoảng 10-10 –10- 12 M; ở thân nồng độ cao hơn 10-6 –10-7M. Trong các auxin thì NAA và IBA là hai loại đƣợc sử dụng nhiều trong nhân giống vô tính. Phương pháp ghép: Cơ sở khoa học của phƣơng pháp là khi ghép, bằng những phƣơng pháp nhất định làm cho tƣợng tầng của gốc ghép và thân ghép tiếp xúc với nhau, nhờ sự hoạt 6 động và khả năng tái sinh của tƣợng tầng làm cho mắt ghép và gốc ghép gắn liền với nhau.
Cây gốc ghép và phần ghép đều có những khả năng sinh tồn khác nhau, bổ sung hỗ trợ lẫn nhau tạo thành một tổ hợp cộng sinh hữu cơ, dựa vào nhau cùng tồn tại, tạo thành một thể thống nhất. Bộ rễ của cây gốc ghép hút nƣớc và chất khoáng đồng thời tạo thành axit hữu cơ và axit amino cung cấp cho thân, cành, lá của phần ghép phía trên. Ngƣợc lại, những vật chất đồng hóa đƣợc do phần ghép phía trên nhờ tác dụng quang hợp, cung cấp trở lại cho bộ rễ. Ngoài ra, tỷ lệ ra hoa đậu quả, sức đề kháng sâu bệnh.
của tổ hợp ghép còn chịu ảnh hƣởng của cảphần ghép và gốc ghép. Nguyên lý ghép cây: - Quá trình liền vết ghép: Khi bị tổn thƣơng, cây có thể tự làm lành vết thƣơng và ghép cây là tận dụng khả năng đó của cây. Khi ghép, đòi hỏi tầng sinh gỗ (mô phân sinh) trên mặt cắt của phần ghép tiếp hợp chặt chẽvới tầng sinh gỗ trên mặt cắt của cây gốc ghép và nhƣ vậy vết ghép mới mau liền lại để tạo thành 1 cây mới, tức là thao tác ghép phải chuẩn và đúng kỹ thuật.