Luận văn tốt nghiệp - Kinh nghiệm trồng cây không đất tại Úc

Tài liệu tham khảo toàn diện cho luận văn tốt nghiệp ngành Khoa học Máy tính và Công nghệ Thông tin, tổng hợp kiến thức và phương pháp nghiên cứu hiện đại.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn
164
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về kỹ thuật thủy canh trong nông nghiệp hiện đại

Kỹ thuật thủy canh là phương pháp canh tác không sử dụng đất, thay vào đó cây trồng được nuôi dưỡng bằng dung dịch dinh dưỡng hòa tan trong nước. Phương pháp này cho phép kiểm soát chính xác lượng nước, chất dinh dưỡng và ánh sáng, giúp cây phát triển nhanh hơn và cho năng suất cao. Thủy canh đặc biệt hữu ích ở những vùng có khí hậu khắc nghiệt hoặc đất canh tác kém, như tại Úc, nơi mùa đông lạnh kéo dài làm gián đoạn mùa vụ. Kỹ thuật này giảm thiểu sâu bệnh và ô nhiễm thuốc trừ sâu, cung cấp rau sạch an toàn. Với sự đơn giản trong thiết lập và vận hành, thủy canh phù hợp cho mọi người, từ nông trại lớn đến vườn nhà. Ứng dụng thủy canh đã giúp nông dân duy trì sản lượng ổn định, cung cấp hàng ngày cho các chợ đông đúc, chứng minh hiệu quả vượt trội so với canh tác truyền thống.

1.1. Định nghĩa và nguyên lý hoạt động của thủy canh

Thủy canh là kỹ thuật trồng cây trực tiếp trong dung dịch dinh dưỡng thay vì đất. Nguyên lý hoạt động dựa trên việc cung cấp các nguyên tố thiết yếu như nitơ, phốt pho, kali thông qua nước, giúp cây hấp thụ dễ dàng hơn. Hệ thống có thể bao gồm các bồn chứa, ống dẫn và bộ điều khiển pH, nồng độ dinh dưỡng. Phương pháp này loại bỏ các vấn đề về đất như ô nhiễm hay thiếu hụt chất dinh dưỡng, đảm bảo cây phát triển khỏe mạnh. Thủy canh được ứng dụng rộng rãi trong nông nghiệp đô thị và nông trại quy mô lớn.

1.2. Ưu điểm vượt trội so với canh tác truyền thống

Thủy canh mang lại nhiều ưu điểm như tăng năng suất thu hoạch, giảm thời gian canh tác và tiết kiệm nước. Cây trồng trong thủy canh không bị ảnh hưởng bởi sâu bệnh từ đất, giảm nhu cầu sử dụng thuốc trừ sâu. Phương pháp này cho phép canh tác quanh năm, bất kể điều kiện thời tiết, như ở Sydney nơi mùa đông lạnh. Nông dân có thể dễ dàng kiểm soát dinh dưỡng, dẫn đến rau quả chất lượng cao hơn. Thủy canh cũng tiết kiệm công lao động, một người có thể quản lý diện tích lớn, tương đương nhiều người trong canh tác đất.

II. Phân tích thách thức trong canh tác truyền thống và ô nhiễm thuốc trừ sâu

Canh tác truyền thống đối mặt nhiều thách thức, đặc biệt về môi trường và an toàn thực phẩm. Đất canh tác thường bị ô nhiễm do sử dụng thuốc trừ sâu và hóa chất quá mức, gây hại cho người nông dân và người tiêu dùng. Tại Úc, báo chí từng cảnh báo về rau cải không an toàn từ nông trại người di dân gốc Á, do thiếu ý thức về tác hại của thuốc sát trùng. Thời tiết khắc nghiệt, như mùa đông dài, làm gián đoạn mùa vụ, giảm sản lượng. Sâu bệnh và biến đổi khí hậu cũng đe dọa cây trồng, đòi hỏi giải pháp bền vững hơn. Những vấn đề này thúc đẩy sự chuyển đổi sang kỹ thuật thủy canh, nhằm đảm bảo an toàn và hiệu quả kinh tế.

2.1. Vấn đề ô nhiễm môi trường và sức khỏe từ thuốc trừ sâu

Trong canh tác truyền thống, thuốc trừ sâu được sử dụng rộng rãi để kiểm soát sâu bệnh, nhưng gây ô nhiễm đất và nước. Người nông dân thường phun thuốc mà không có đồ bảo hộ, dẫn đến nguy cơ ngộ độc. Người tiêu dùng cũng bị ảnh hưởng bởi dư lượng thuốc trên rau quả. Các nông trại gốc Á tại Úc từng bị chỉ trích vì thiếu an toàn, làm giảm niềm tin vào sản phẩm nông nghiệp. Điều này đòi hỏi áp dụng các phương pháp sạch hơn như thủy canh để loại bỏ rủi ro hóa chất.

2.2. Thách thức về khí hậu và hiệu suất canh tác thấp

Khí hậu khắc nghiệt, như mùa đông lạnh tại Sydney, làm ngắn quang kỳ và gián đoạn mùa canh tác. Trồng cây trong đất đòi hỏi nhiều công sức, đặc biệt sau mưa lớn phải trồng lại. Năng suất thu hoạch thường thấp, không đủ cung cấp cho thị trường. So với thủy canh, canh tác truyền thống tốn thời gian và lao động hơn, với sản lượng không ổn định. Các yếu tố này làm giảm hiệu quả kinh tế và thúc đẩу nông dân tìm kiếm giải pháp tiên tiến.

III. Giải pháp áp dụng kỹ thuật thủy canh và quản lý dinh dưỡng cây trồng

Thủy canh cung cấp giải pháp hiệu quả cho các vấn đề canh tác truyền thống. Hệ thống thủy canh có thể thiết lập đơn giản trong nhà lồng plastic, kiểm soát nhiệt độ và ánh sáng. Dung dịch dinh dưỡng được pha chế chính xác, cung cấp nguyên tố vi lượng như sắt, mangan, đảm bảo cây phát triển cân đối. Quản lý triệu chứng thiếu chất dựa trên bảng phân tích, giúp điều chỉnh kịp thời. Kỹ thuật này cho phép canh tác liên tục, tăng năng suất lên gấp nhiều lần. Ví dụ, nông trại tại Úc cung cấp hàng ngày rau cho chợ Cabramatta chỉ với thủy canh, tương đương nhiều lao động trong canh tác đất. Áp dụng thủy canh cần kiến thức về dinh dưỡng cây trồng và kỹ thuật thực hành, nhưng dễ học hỏi qua tài liệu và thực hành.

3.1. Thiết lập và vận hành hệ thống thủy canh hiệu quả

Thiết lập hệ thống thủy canh bắt đầu với việc chọn địa điểm, xây dựng bồn chứa và hệ thống dẫn nước. Nhà lồng plastic giúp bảo vệ cây khỏi thời tiết xấu, kiểm soát sâu bệnh. Dung dịch dinh dưỡng được pha theo công thức chuẩn, với nồng độ ppm chính xác cho từng nguyên tố. Vận hành bao gồm theo dõi pH, thay nước định kỳ và điều chỉnh dinh dưỡng dựa trên giai đoạn cây trồng. Hệ thống này tiết kiệm nước và không gian, phù hợp cho nông trại quy mô lớn hoặc nhỏ.

3.2. Quản lý dinh dưỡng và chẩn đoán triệu chứng thiếu chất

Quản lý dinh dưỡng trong thủy canh đòi hỏi hiểu biết về nhu cầu của cây. Bảng triệu chứng thiếu chất giúp nhận diện vấn đề, ví dụ lá vàng do thiếu sắt hay nitơ. Công thức pha phân cốt tính toán lượng nguyên tố như canxi, magie, dựa trên nồng độ ppm và khả năng hòa tan. Việc chẩn đoán chính xác giúp điều chỉnh dung dịch kịp thời, tránh ngộ độc do dư phân. Kỹ thuật này đảm bảo cây khỏe mạnh, tăng năng suất và chất lượng thu hoạch.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn của kỹ thuật thủy canh trong nông nghiệp

Kỹ thuật thủy canh đã chứng minh hiệu quả vượt trội trong nông nghiệp hiện đại, đặc biệt ở những vùng khí hậu khắc nghiệt như Úc. Phương pháp này giúp tăng năng suất, giảm ô nhiễm và cung cấp rau sạch an toàn. Ứng dụng thực tiễn cho thấy thủy canh có thể cung cấp hàng ngày sản phẩm cho thị trường, giảm công lao động so với canh tác truyền thống. Tuy nhiên, thành công đòi hỏi kiến thức và thực hành liên tục, như quản lý dinh dưỡng và chẩn đoán triệu chứng. Tương lai, thủy canh có tiềm năng mở rộng, áp dụng công nghệ cao như IoT để tối ưu hóa. Nông dân có thể tiếp cận thông qua khóa huấn luyện và tài liệu, đảm bảo canh tác bền vững và hiệu quả kinh tế.

4.1. Kết quả đạt được từ thực hành thủy canh tại các nông trại

Thực hành thủy canh tại nông trại ở Úc cho kết quả ấn tượng: cung cấp đều đặn rau cho chợ đông người Việt, tương đương sản lượng từ nhiều lao động canh tác đất. Năng suất tăng do kiểm soát tốt dinh dưỡng và môi trường. Chất lượng rau quả cao hơn, không dư lượng thuốc trừ sâu, an toàn cho người tiêu dùng. Hệ thống thủy canh cũng giúp nông trại sống vững qua mùa đông lạnh, duy trì sản xuất quanh năm. Đây là minh chứng cho tính khả thi của kỹ thuật này.

4.2. Tiềm năng ứng dụng và phát triển trong nông nghiệp bền vững

Thủy canh có tiềm năng lớn trong nông nghiệp bền vững, giảm tác động môi trường và tiết kiệm tài nguyên. Ứng dụng công nghệ như cảm biến và tự động hóa có thể nâng cao hiệu quả. Phương pháp này phù hợp cho nông nghiệp đô thị, nơi đất canh tác hạn chế. Các chương trình huấn luyện, như của Bộ Nông Nghiệp, giúp nông dân áp dụng thủy canh. Tương lai, thủy canh có thể kết hợp với năng lượng tái tạo, tạo ra hệ thống canh tác thông minh và thân thiện môi trường.

21/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

Thư Ngỏ Quyển sách nầy căn cứ trên kinh-nghiệm cá-nhân của một người thợ máy ham thích trồng cây và sau nầy tìm hiểu và trở nên say mê kỹ-thuật Trồng Cây Không Đất, bởi kết- qủa vượt trội về phẩm cũng như về lượng thu-hoạch của kỹ-thuật nầy. Do tác-giả chưa hề trãi qua bất cứ một trường học nào về canh nông, nên những điều ghi lại trong sách nầy hoàn-toàn do tự tác-giả tìm hiểu qua tài-liệu, sách vở và sau đó tự thực-hành lấy. Đơn-giản, dễ thực-hành, thích-hợp cho mọi người. Tác-gỉa đang sống tại Úc và nhận thấy điều-kiện trồng-trọt trong đất hoặc bằng thủy- canh đều khó-khăn hơn tại Việt-Nam. Bởi tại nơi tác-giả đang ở, thành-phố Sydney, tiểu- bang New South Wales là gần về phía Nam của Úc-châu, mùa Đông lạnh kéo dài và quang- kỳ ngắn khiến mùa canh-tác bị gián-đoạn. Thủy-canh đã giúp nông-trại anh em tôi sống vững từ hơn 20 năm rồi và vẫn còn đang tiếp-tục. Hiện hai vợ chồng em tôi, chỉ với phương-pháp thủy-canh mà hàng ngày đều-đặn cung-cấp cho khu chợ Cabramatta, đông nhất người Việt tại Úc, một xe thùng rau các loại. Số-lượng nầy nếu trồng ngoài đất thì phải do ít nhất 6 người lao-động cật-lực. Đó là chưa kể nếu trồng trong đất thì phải trồng hay gầy lại sau mỗi trận mưa lớn. Việc tôi tìm hiểu và thực-hành trồng thủy-canh là do một chuyện tình-cờ. Đó là vào khoảng năm 2007-2008, một bài báo của tờ Sydney Morning Herald đăng một bài lưu-ý mạnh-mẽ về sự không an-toàn của rau cải của các nhà vườn người di-dân gốc Á. Bài báo đăng kèm hình của một phụ-nữ gốc Campuchia đang xịt thuốc sát trùng trong nhà kiếng kín mít mà không mặc áo bảo-vệ cũng như mặt nạ. Người viết bài nầy nhấn mạnh rằng điều đó có nghĩa những người nông-dân gốc Á không có chút ý-thức nào về tác hại của thuốc sát trùng cho chính người xịt thuốc và người ăn rau. Ngay sau đó, tôi đi vòng hết các nông-trại người Việt và gom lại được hơn 30 người để lập thành Hội Nông-Gia Việt-Nam NSW. Số hội-viên như vậy là không nhỏ, tôi liên-lạc với Bộ Nông-Nghiệp Tiểu-bang NSW và Bộ Nông-Nghiệp Liên-bang đến tham-dự ngày chúng tôi tổ-chức lễ ra mắt Hội. Cả hai nơi nầy đều có phái đại-diện đến tham-dự. May mắn cho chúng tôi là trong Bộ Nông-Nghiệp Tiểu- bang có một người Viêt đang làm việc tại đó là Tiến-sĩ Nguyễn-Khắc-Vọng. Ông có mặt với chúng tôi ngày ra mắt và sau đó giúp chúng tôi xin được cấp ngân-qũy để tổ-chức hơn 10 khóa huấn-luyện về sử-dụng thuốc sát-trùng, hóa-chất và kỹ-thuật canh-tác cho nông-gia người Việt. Chương-trình vẫn còn đang tiếp-tục. Điểm đặc-biệt là các gian-hàng rau trái tại Úc rất phong-phú. Các loại cây rau người Việt mình quen ăn, dần dần cũng không thiếu thứ gì. Nhưng trồng ngoài đất thì nhiêu-khê lắm, tốn rất nhiều công mà thu-hoạch không được bao nhiêu. Do đó tôi nãy ra ý ứng-dụng những điều mà tôi đọc được từ sách vở cho việc trồng trọt bằng phương pháp thủy-canh. Nông trại của em tôi rộng 10 Acres (1 Acre = 0.4046 Hectare) có 8 nhà lồng plastic 16 x 20m. Em tôi trồng trong nhà lồng cà, dưa leo luân phiên. Ngoài trời, em trồng dưa Zuccini, cà, khổ qua, bí đao, bầu… Tất cả đều trồng trong đất. Tôi hỏi em tôi để được dùng 2 mét vuông trong một cái nhà lồng và mua vật-liệu về thiết-lập 2 kiểu trồng không đất : cái thứ nhất trồng trong giá-thể đất sét viên nung phồng, tôi trồng dưa leo và đặt chung trong đó 1 vài cọng xà-lách son; cái thứ hai không có gía-thể, tôi trồng khổ-qua, cùng chung với rau muống. Lúc đó tôi ở cách xa em tôi 40 cây-số, hàng ngày tôi lái xe đi về để săn-sóc cái nông-trại bé như hạt cải đó của tôi. Vậy mà tôi cũng lăng-xăng xem độ pH, xem nồng-độ phân. Rồi, một cách hết sức nghiêm-trang, tôi chỉnh lại pH, thêm phân, thêm nước hoặc thay nước mới… Bao nhiêu đó thôi mà mỗi ngày, sáng tôi đến thật sớm, chiều về thật trễ. Kết-quả thật khích-lệ : Xa-lách son, rau muống lên ngon lành; dưa được 3 trái lớn hơn… ngón chân cái còn khổ-qua thì được 2 trái, độ lớn hơi … khiêm nhượng nên không thể dồn thịt được! Chỉ vậy thôi cũng đủ để tôi hết sức vui mừng, bởi tôi hiểu ra rằng : “Sức sống của cây cối rất là mạnh-mẽ, chúng ta chỉ cho những thứ chúng cần là thấy ngay kết-qủa”. Tôi sau đó hỏi em tôi để dùng khoảnh đất 2500 mét vuông. Tôi dựng lên một nhà lồng plastic 20 x 100 m, cao 6 m. Trong đó tôi làm 50 liếp trồng ngang 1 m cao 1 m đầu cao và 9 tấc đầu thấp chảy vào máng hồi-lưu do 2 bơm đưa dung-dịch về 2 bồn chứa 4500 L x 2. Tôi vừa làm liếp thủy-canh, vừa trồng dưa leo dưới đất trong nhà kiếng, 25 liếp, mỗi liếp dài 6 mét để tặng cho người em Út tôi, lúc đó vợ chồng đứa em nầy vừa mang con sang Úc trị bịnh. Tôi trồng đám đưa nầy với ý-niệm thủy-canh trong đầu, và lại may-mắn nữa nên số thu-hoạch hết sức bất ngờ là được trên 7 ngàn đô! Tôi sẽ kể lại sau, tôi trồng như thế nào. Những điều tôi ghi lại trong sách nầy chỉ là kinh-nghiệm của một tay ngang, tôi không biết được nhiều về kiến-thức sâu xa của Ngành Nông-học nói chung và Ngành Viên-học nói riêng. Do đó tôi rất cám ơn ông Nguyễn Bá Hùng, Giám-đốc Nông-trại trồng rau hữu-cơ ở Đà-Lạt, đã tiếp đãi, hướng-dẫn và giải-thích tường-tận công việc của nông-trại ông. Tôi cũng chân-thành cám ơn Tiến-sĩ Trần Thi Ba, Khoa Nông-Nghiệp Trường Đại-học Cần-Thơ về những tiếp đãi, đưa đi xem, cũng như những giải-thích đã dành cho tôi. Tôi hết sức trân- trọng tâm huyết của Bà dành cho Ngành chuyên-môn của Bà. Sau cùng, đối với quý độc-giả, chắc-chắn cũng say mê trồng cây bằng phương-pháp thủy-canh nầy như tôi, dĩ-nhiên quyển sách nầy không tránh khỏi khiếm-khuyết, vậy xin rộng-lượng giúp tôi hoàn-chỉnh, bổ-túc. Cách riêng đối với qúy bạn đang trồng mà bị trục- trặc cần sự góp ý, thì xin hỏi tôi ở địa-chỉ của em tôi dưới đây, tôi rất sẵn-sàng chia sẻ tận nơi, những kinh-nghiệm ít ỏi của tôi, những lúc tôi có mặt ở Việt-nam, mong rằng không nhiều thì ít cũng hữu-ích. Qúy là ở lòng chân-thành giữa những người đồng-điệu với nhau. Mà là “Đồng-điệu” gì vậy? Đây, dân trồng cây không đất lúc nào cũng kháo nhau : “Dân Thủy-canh, người nào tóc cũng bạc hết!” Kính Nguyễn Văn Trung  Đia-chỉ : 2 Chương 1: GIỚI THIỆU Khi làm quen với phuơng-pháp trồng cây nầy, tôi tìm hiểu và ngạc-nhiên thấy rằng cách trồng nầy không mới.1 Quá-khứ Từ xa xưa, vườn treo Babylon, vườn nổi Aztecs của Mexico … và hàng mấy thế-kỷ trước niên-lịch người Ai-cập cổ đã trồng cây trong nước rồi! Những thử-nghiệm được ghi lại của khoa-học-gia người Bỉ Jan Van Helmont năm 1600 cho thấy cây nhận nhiều chất từ nước. Ông trồng một cây liễu nặng 2kg trong một ống đựng 180 kg đất khô, được che-chắn cẩn-thận để chắc-chắn rằng không có bất cứ gì khác sẽ được thêm vào, kể cả bụi bặm. Ông tưới bằng nước mưa và nuôi trồng cây liễu này suốt 5 năm. Rồi ông đem cây và đất ra cân. Cây tăng trọng-lượng đáng kể : 135 kg. Trong khi đất nhẹ đi mất 60 gram! Ông tuyên-bố rằng trước nay người ta cho rằng cây nhận chất bổ từ nước là đúng! Nhưng ông không nhận thấy rằng cây cũng nhận oxy và carbon dioxide từ không-khí nữa… 99 năm sau, John Woodward, một người Anh, lập lại thí-nghiệm trên nhưng bằng nhiều chậu, mỗi chậu đựng một số lượng đất nhiều ít khác nhau. Kết-qủa các cây trong các chậu có nhiều đất phát-triển hơn các chậu ít đất. Do đó ông kết-luận rằng cây lớn lên do phần lớn các chất hút từ đất chớ không phải chỉ riêng từ nưóc. Cuộc nghiên-cứu tiếp-tục, mục-đích biết rõ thêm tên các chất mà cây cần để tăng- trưởng. Các kỹ-thuật tìm tòi càng lúc càng phức-tạp trong lãnh-vực hóa-học. Mãi đến giữa thế-kỷ 19, một nhà hóa-học người Pháp Boussingault (1851) đã cho ra kết - quả là cây cần chủ-yếu là nước, trong đó có hydrogen và oxygen cùng với carbon từ khí trời công với nitrogen và một số khoáng-tố. Cuộc tìm kiếm không ngừng. Các nhà khảo-cứu sau đó đã có thể trình-diễn cho thấy cây tăng-trưởng trong giá - thể trơ (không chứa bất cứ chất gì). Giá - thể trơ nầy được làm ẩm bằng nước có pha các khoáng-tố cây cần. Người ta còn đi xa hơn bằng cách hoàn-toàn không dùng một chút giá-thể nào mà chỉ cung-cấp cho cây dung-dịch nước pha các khoáng-tố theo nhu-cầu của cây mà thôi. Thành-đạt nầy do bởi hai khoa-học gia người Đức, Sachs (1860) và Knop (1861). Đây là khởi-thủy của phương-pháp trồng cây bằng dung-dịch dinh-dưởng, tiền-thân của phương-pháp thủy-canh ngày nay. Theo như kết-qủa của những cuộc nghiên-cứu rất sớm trên, người ta có thể thực- nghiệm để thấy rằng cây cối tăng-trưởng bình-thường bằng cách nhúng rễ vào trong 3 nước có pha các khoáng-tố : nitrogen (N), phosphorus (P), sulfur (S), potassium (K), calcium (Ca) and magnesium (Mg) là những chất được xem như là thành-tố chính dinh- dưởng cây, ngoài ra còn có thêm một số chất khác, tuy chỉ cần một lượng nhỏ, gọi là vi- lượng nhưng cây rất cần để phát-triển mạnh. Những năm sau đó, các nhà nghiên-cứu đã triển-khai nhiều công-thức căn-bản cho dung-dịch dinh-dưởng. Trong khoảng thời-gian nầy, các công-thức đó vẫn còn nằm trong phòng thí-nghiệm cho đến vào khoảng 1925 khi nông-gia ở nhiều nơi bắt đầu dùng nhà kiếng trong nông-nghiệp. Ý-niệm tạo một khoảng bầu trời thu nhỏ lại (trong nhà kiếng), với những điều-kiện tối-ưu cho cây sinh-trưởng kể cả tại những vùng khí- hậu khắc-nghiệt đã thổi một luồng sinh-khí cho ngành viên-học và cho những nhà trồng rẫy. Nhưng chẳng bao lâu, có vấn-đề nãy sinh về cấu trúc của đất, phân-bón tồn-đọng và các loại sâu, trùng (nhất là tuyến-trùng nematode). Để vượt qua, người ta bắt đầu nghĩ đến việc thực nghiệm cung cấp dinh dưỡng cho cây với qui-mô lớn để sản xuất trong nông-nghiệp, hoàn-toàn khác hẳn với lối canh-tác cổ-truyền. Giữa 1925-1935 là khoảng thời-gian ráo-riết hoàn-thiện để đưa phương-pháp nầy từ phòng thí-nghiệm ra sản-xuất cho người tiêu-dùng. Đầu thập-niên 30 của thế-kỷ trước, W. Gericke, University of California, ứng- dụng các kết quả đã có trong phòng thí-nghiệm ra sản-xuất thương-mại. Khi làm như vậy, ông đặt tên cho hệ-thống cung-cấp dinh-dưỡng cây theo phương-pháp nầy là hydroponics. Xuất-phát từ hai chữ Hy-lạp hydro (water = nước) và ponos (labor = lao- động). Sát nghĩa là “nước làm” = Thủy Canh. Thủy-Canh hydroponics có thể định-nghĩa như là một khoa trồng cây nhưng không dùng đất, mà thay vào đó là một “giá-thể trơ” như sõi, sạn, mùn tảo (peat), các chất lấy ra từ nham-thạch (vermiculite, perlite, pumice, rockwool…), mạt cưa, vỏ vây, trấu, xơ dừa… sau đó một dung-dịch có chứa các chất cây cần để tăng-trưởng được tưới vào.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ