Đặt vấn đề Thế giới không ngừng phát triển, nhu cầu tiêu dùng tăng, kèm theo đó là van dé sức khỏe được ưu tiên hàng đầu, khuynh hướng sử dụng thực pham tự nhiên ngày càng nhiều. Bởi sự an toàn không những không hóa chất, không độc hại còn bé sung cho cơ thê nhiều chất dinh dưỡng. Nam là một trong những nguồn thực phâm và cung cấp giá trị dinh đưỡng vừa là nguồn được liệu quý dùng điều trị rất nhiều bệnh và nâng cao sức đề kháng cơ thể, điển hình như nắm Đông trùng hạ thảo, nam Hau thủ,. Ngoài giá trị dược liệu cao nắm Hầu thủ còn được sử dụng làm nguồn thực phẩm từ rất lâu trên thế giới vì đây là nguồn thức ăn rất giàu đạm, trong đó có chứa hầu hết các acid amin thiết yếu, vitamin, khoáng chất,.
còn được xem như là loại “rau sạch” và “thịt sạch”, được sử dụng ngày càng rộng rãi trong các bữa ăn của con người. Nắm Hầu thủ từ lâu đã được xem là loại được liệu quý được sử dụng trong y học cô truyền châu Á (Ouali và ctv., 2018) và là loại nắm ăn có nhiều giá trị dinh dưỡng. Có khoảng 19 loại acid amin thiết yếu; carbohydrat, chất béo, protein; các chất khoáng như kali, phospho, đồng, kẽm và một số hợp chất thơm khác với hàm lượng cao được tim thấy trong giống nam nay (Sokol và ctv. Hợp chat hericenones được chiết xuất từ nắm Hầu thủ có khả năng gây độc đối với tế bào ung thư, kiểm soát một số tế bào ung thư ở người như tế bào ung thư gan, ung thư ruột, ung thư dạ dày, ung thư vú bằng cách gây ra quá trình apotosis.
Ngoài ra, các polysaccharide còn cho thay khả năng làm gia tăng số lượng tế bào lympho và đại thực bào. Từ đó cho thấy hoạt tính chống ung thư và tăng cường miễn dịch ở nắm Hầu thủ (Sokol và ctv. Bên cạnh đó, hợp chất hericenone và erinacines kích thích tổng hợp yếu tố tăng trưởng thần kinh (NGF) giúp duy trì và ôn định tô chức chức năng của các tế bảo thần kinh, chống trầm cảm (Stamets, 2005; Khan, 2013; Friedman, 2015; Wong, 2016). Nam Hau thủ còn cho thấy hoạt tính kháng khuẩn Staphylococcus aureus, Salmonella typhi, Helicobacter pylori; kháng nam Aspergillus va Candida; khang viém (Van der Berg, 2018; Stamets, 2005; Sokol va ctv, 2015).
Trong nghiên cứu của (Friedman, 2015), nắm Hau thủ còn có hoạt tinh 1 chông oxy hóa và lão hóa, giúp giảm mỡ máu, ức chê sự tập kêt tiêu câu và nâng cao khả năng tuân hoàn máu. Tuy nhiên đây là loại nắm ôn đới nên chủ yếu được nghiên cứu và nuôi trồng chủ yếu ở một số tỉnh miền Bắc hay Lâm Đồng (Đà Lạt). Nhưng do cơ sở sản xuất ít, nguồn cung không đủ cầu nên đa phần lượng nắm Hau thủ tiêu ding ở nước ta đều được nhập khẩu từ các cơ sở Trung Quốc. Chính vì vậy dé góp phần nhân rộng quy mô nuôi trồng, tăng sản lượng từ việc trồng đưa nguồn duoc liệu cũng như nguồn thực pham giàu dinh dưỡng đến gần với người tiêu dùng hơn dé tài “Khao sát thành phần dinh dưỡng đến sự sinh trưởng và phát triển của nắm Hau Thủ tại thành phó Hồ Chí Minh” được thực hiện.
Mục tiêu đề tài Từ khảo sát ảnh hưởng của môi trường dinh dưỡng đến sự phát triển của nam ở các giai đoạn. Lựa chọn ra được môi trường cấp một, môi trường cấp hai và môi trường bịch phôi thích hợp cho sự phát triển của nắm Hầu thủ ở giai đoạn hệ sợi và giai đoạn phát triển quả thé.Danh giá các chỉ tiêu năng suất qua thé dựa trên các chỉ tiêu quả thé nắm sau thu hoạch. Nội dung thực hiện Khao sát thành phần dinh dưỡng ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của tơ nắm trên môi trường nhân giống cấp một. Khảo sát thành phần dinh dưỡng của bột bắp và bột đậu nành ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của tơ nam trên môi trường nhân giống cấp hai.
Khảo sát thành phần dinh dưỡng bột bắp và cám gạo ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của tơ nắm trên môi trường giá thé mat cưa cao su. Đánh giá các chỉ tiêu năng suất quả thể sau thu hoạch trên các môi trường khác nhau. TONG QUAN TÀI LIEU 2. Tong quan về giới nam 2.
Giới thiệu sơ lược Giới nam (Fungus) bao gồm những sinh vật nhân thực, dị dưỡng có thành tế bao bằng kitin (Chitin). Nhà khoa học người Mỹ R. Whitaker vào năm 1969 đã đưa ra hệ thống phân loại 5 giới (Kingdom) gồm: Giới khởi sinh (Monera); Giới nguyên sinh (Protista); Giới nam (Fungi hay Mycetalia, Mycota); Giới thực vật (Plantae hay Vegetabilia); Giới động vật (Animalia). Sau đó, đến năm 1973 nhà khoa học A.
Takhtadjan đã đưa ra hệ thống phân loại như sau: Giới Mycota (gồm vi khuan và vi khuan lam); Giới nam, giới thực vật, giới động vật (Nguyễn Lân Dũng, 2004). Hiện nay phân loại nắm hiện đại bao gồm các ngành và ngành phụ như sau: Ngành nắm nhay (Myxomycota): loài nắm này có cả hai tinh chất động vật và thực vật, chúng sinh sản bằng bào tử, nhưng tế bào lại là khối sinh chất không có vách ngăn bao boc, di chuyền và nuốt thức ăn như động vật. Ngành nắm thật (Eumycotina): chiếm số lượng lớn, bao gồm các tế bào với nhân tương đối hoàn chỉnh. Tế bao nam có vách bao bọc như tế bào thực vật, đa số cau tạo bởi chitin.
Một số loài sinh sản theo lối tạo những giao tử có lông roi để di động (động bao tử), nhưng hợp tử lại phát triển theo một kiểu chung của nam. Dựa theo sự sinh sản hữu tính, các nha phân loại đã chia chúng thành các ngành phụ như sau: Nganh phy nam tién mao (Mastigomycotina) Ngành phụ nam tiếp hop (Zygomycotina) Ngành phụ nam túi (Ascomycotina) Ngành phụ nam đảm (Basidiomycotina) Ngành phụ nắm bắt toàn (Deuteromycotina) Nam không phải là thực vật bởi vì nắm không có lục lap, không có khả năng quang hợp như cây xanh nên không thê sống tự dưỡng, không có sự phân hóa thành 3 thân, lá, rễ, không có hoa, phần lớn không chứa cellulose trong thành tế bào mà chủ yêu là chitin và glucan. Chitin là chất gặp nhiều ở động vật hơn thực vật, chủ yếu ở nhóm giáp xác và côn trùng, tạo thành lớp vỏ hoặc cách cứng cho các loài này. Nắm phải sống nhờ những sinh vật khác do không thé sông tự dưỡng như thực vật, nam sống ký sinh trên các cây hoặc động vật đề hấp thụ chất dinh dưỡng từ chúng.
Các nắm sống trên chất hữu cơ chết (xác động thực vật phân huỷ tạo ra) thì được gọi là nắm hoại sinh, các nắm sống trên cơ thê sông thì được gọi là nắm ký sinh. Nắm không có một chu trình phát triển chung như những loài thực vật. Nắm dự trữ đường đưới dạng glycogen thay vì tinh bột như thực vật. Mặc dù vậy, nam cũng không phải động vật, vì nắm sinh sản bằng bào tử hữu tính và vô tính, nắm lấy chất dinh dưỡng thông qua màng tế bào của sợi nam.
Nam là một mắt xích quan trong trong việc phân huỷ chất hữu cơ của chu trình tuân hoan vật chat. Vì vay nam được xêp vao một giới riêng gọi là giới Nam. Trong tự nhiên, nấm đóng một vai trò quan trọng, đó là bộ máy tái chế sơ cấp. Chúng tạo ra các enzyme dé phân hủy vật chất hữu cơ (thường là các cấu tử gỗ).
Phần lớn nắm có khả năng sản sinh ra các enzyme phá hủy nguyên liệu thực vật thuộc lớp nam túi (Ascomycetes) va nam đảm (Basidiomycetes). Phan loai nam Giới nam được phân ra thành nắm men, nam mốc (vi nắm) và nắm lớn. Nắm lớn gồm những nam có thé sinh bào tử (hay thường được gọi là quả thể) đạt kích thước lớn hơn 0,5 mm trở lên. Nam lớn bao gồm những nam nhay có kích thước lớn của Myxomecetes, một số nam có quả thé là phôi thai của họ Engdogonaceae trong Zygomycetes, một số nam có nang quả thuộc dang chai nằm sâu trong mô của Pyrenomycetes và đại đa số nam đảm trừ nắm ri, nắm than và nam chưa hoàn chỉnh.
Nắm lớn có số lượng loài lớn ở Châu Âu có khoảng 6000 loài. Ở Nhật Bản có khoảng hơn 3000 loài, Trung Quốc có khoảng 8000 loài (Trinh Tam Kiệt, 2014). Nam quả thé chỉ những loài nấm thuộc ngành Basidiomycota va Agaricomycetes, gôm hai loài nam ăn va nam độc (Arora va ctv, 2004). Nam ăn là một loại thực pham do có chứa day đủ thành phan như đường, đạm, vitamin va khoáng chat nên được sử dụng trong nhiêu món ăn, tạo nên văn hóa âm thực khác nhau ở các nước trên thế giới.
Nắm là thực phâm chứa nhiều chất dinh 4 dưỡng, có hàm lượng đạm cao, đầy đủ các acid amin thiết yếu, ít chất béo và là những acid béo chưa bão hoà, tốt cho sức khỏe. Bên cạnh đó nắm còn có giá trị năng lượng cao, giàu khoáng chất và vitamin, chứa nhiều vitamin nhóm B và C (Arora và ctv,2004). Trong số nam ăn của Việt Nam có khoảng hon 200 loài trong đó có khoảng 50 loài là nắm quý hiểm thuộc các đại điện của nam Đảm (Basidiomycota) và một số Ít thuộc loại nắm Túi (Ascomycota) có thể ví dụ như các loại nắm Mộc nhĩ thuộc chi Auricularia (7 loài), Ngan nhĩ — Tremella (5 loài), nam Đông cô , nam Rom, nam Mối, nam Thông, nam Cham, nam Trang khéng lồ, nam Cỏ dày, nắm Bảo ngư, nam Mao ga, nam Ngoc Chau, nam Kim cham (Arora va ctv. Biến dưỡng nam Nam chủ yếu sống dị dưỡng, lay thức ăn từ các nguồn hữu cơ (động vật và thực vật).
Hau hết các loài nam đều lấy dinh dưỡng qua màng tế bào sợi (giống rễ cây). Nhiều nắm có hệ men (enzyme) phân giải tương đối mạnh, chúng có khả năng sản xuất enzyme ngoại bào, những enzyme ngoại bào này giúp cho nam biến đổi những chất hữu cơ phức tạp thành dạng hòa tan dễ hấp thu. Dựa vào cách hấp thu dinh dưỡng của nam có thé chia làm 3 nhóm: Hoai sinh: là đặc tinh chung của hau hết các loài nam. Trong đó có nam trồng.
Thức ăn là xác bã thực vật hay động vật. Ký sinh: chủ yếu các loài nắm gây bệnh, chúng sống bám vào cơ thê sinh vật khác đề hút thức ăn của sinh vật chủ. Cộng sinh: là nhóm nam đặc biệt. Lay thức ăn từ cơ thé sinh vat chủ nhưng không làm tổn hại sinh vật chủ, ngược lại còn giúp cho chúng phát triển tốt hơn (như nam Tuber hay Boletus cộng sinh với cây Thông sồi.
Vì vậy các loài này có mối quan hệ mật thiết với ký chủ. Do đó việc nuôi trồng những giống nắm này rất phức tạp.