Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Nấm Đùi gà (Pleurotus eryngii), còn được gọi là nấm bào ngư Nhật hay nấm Sò vua, là loài nấm ăn ôn đới có giá trị thương phẩm cao nhờ hình thái quả thể lớn, cấu trúc thịt chắc giòn, hương thơm đặc trưng cùng thành phần dinh dưỡng phong phú (chứa protein cao, 8 loại axit amin không thay thế, giàu khoáng chất, vitamin và các hợp chất có hoạt tính sinh học như beta-glucan, lovastatin, flavonoid). Tại thị trường Việt Nam, nhu cầu tiêu thụ nấm Đùi gà tại các khu vực đô thị tăng cao, tuy nhiên nguồn cung phần lớn vẫn phụ thuộc vào nấm nhập khẩu qua nhiều kênh phân phối trung gian, dẫn đến suy giảm độ tươi ngon và khó kiểm soát an toàn vệ sinh thực phẩm. Bên cạnh đó, các cơ sở sản xuất trong nước gặp khó khăn trong việc thiết lập môi trường dinh dưỡng tối ưu và quy trình kiểm soát vi khí hậu phù hợp với loài nấm có nguồn gốc ôn đới này.
Xuất phát từ thực tế đó, đề tài khóa luận "Khảo sát môi trường dinh dưỡng nuôi trồng nấm Đùi gà (Pleurotus eryngii) quy mô phòng thí nghiệm tại Thành phố Hồ Chí Minh" được thực hiện với các mục tiêu cụ thể:
- Nghiên cứu quá trình sinh trưởng của giống nấm Đùi gà (Pleurotus eryngii) thông qua việc khảo sát ảnh hưởng của các môi trường nhân giống cấp một, cấp hai và môi trường giá thể nuôi trồng đến khả năng phát triển của hệ sợi nấm.
- Đề xuất quy trình công nghệ nuôi trồng nấm Đùi gà thích hợp ở quy mô phòng thí nghiệm tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Để hoàn thành mục tiêu, nghiên cứu triển khai 4 nhiệm vụ (nội dung thực hiện):
- ND1: Phân lập mô thịt và làm thuần chủng giống nấm Đùi gà.
- ND2: Khảo sát ảnh hưởng của các môi trường dinh dưỡng nhân giống cấp một lên tốc độ lan tơ.
- ND3: Khảo sát ảnh hưởng của hàm lượng cám bắp và cám gạo trong môi trường hạt lúa nhân giống cấp hai lên tốc độ và chất lượng hệ tơ.
- ND4: Khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ phối trộn mùn cưa cao su, bông thải và chất phụ gia lên thời gian lan tơ, khả năng hình thành quả thể, năng suất và hiệu suất sinh học của nấm Đùi gà.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Quả thể nấm Đùi gà (Pleurotus eryngii) Việt Nam được cung cấp bởi Phòng thí nghiệm Nấm ăn và Dược liệu thuộc Viện Nghiên cứu Công nghệ Sinh học và Môi trường, Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh.
- Phạm vi không gian: Phòng thí nghiệm Nấm ăn và Dược liệu và Trại thực nghiệm Công nghệ Sinh học và Môi trường, Khoa Khoa học Sinh học, Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh.
- Phạm vi thời gian: Đề tài được tiến hành từ tháng 07/2022 đến tháng 03/2023.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Cơ sở lý thuyết và sinh học thực nghiệm
Nghiên cứu dựa trên hệ thống phân loại học của nấm Đùi gà: Giới Fungi, Ngành Basidiomycota, Lớp Agaricomycetes, Bộ Agaricales, Họ Pleurotaceae, Chi Pleurotus, Loài Pleurotus eryngii. Vòng đời của nấm trải qua các giai đoạn: bào tử nảy mầm hình thành sợi sơ cấp đơn nhân, kết hợp tạo sợi thứ cấp nhị nhân phát triển mạng sợi, tích lũy dinh dưỡng tạo mầm quả thể và phát triển thành quả thể hoàn chỉnh.
Về nhu cầu sinh thái và dinh dưỡng, hệ sợi nấm đòi hỏi nguồn carbon (C) từ đường đơn, oligosaccharide hoặc polysaccharide (cellulose, hemicellulose, lignin) và nguồn nitơ (N) từ peptone, cao nấm men, cám ngũ cốc để tổng hợp protein và enzyme phân giải cơ chất. Các yếu tố môi trường bao gồm: nhiệt độ nuôi sợi tối thích 25 – 30°C; nhiệt độ kích thích ra quả thể (sốc nhiệt) 10 – 15°C; nhiệt độ quả thể phát triển 13 – 22°C; độ ẩm giá thể 65 – 70%; độ ẩm không khí giai đoạn nuôi sợi 70 – 76% và giai đoạn ra quả thể 80 – 90%; pH tối thích 6,5 – 7,0; nồng độ CO2 dưới 0,2% (500 – 1000 ppm) trong giai đoạn tạo quả thể để tránh hiện tượng chân dài, mũ teo.
Nghiên cứu tận dụng hai nguồn phế phụ phẩm nông - công nghiệp chính tại địa phương:
- Mùn cưa cao su: Cơ chất giàu cellulose và lignin (71,2%), carbohydrate hòa tan (25,4%), protein thô (1,5%), tỷ lệ C/N xấp xỉ 72, có độ thoáng khí và giữ ẩm tốt.
- Bông thải (phụ phẩm ngành dệt sợi): Chứa hàm lượng protein cao (17,6%), lipid thô (8,8%), cellulose (37 – 48%), lignin (29 – 42%), N tổng số (1,5%), P (0,66%), K (1,2%), cung cấp nguồn dinh dưỡng hữu cơ dồi dào.
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Nghiên cứu sử dụng phương pháp thực nghiệm sinh học với thiết kế thí nghiệm hoàn toàn ngẫu nhiên một yếu tố (Completely Randomized Design - CRD), bao gồm các công đoạn kỹ thuật:
Phân lập mô thịt nấm (môi trường thạch nghiêng PGA)
Làm thuần chủng giống gốc (cấy chuyền sang PGA)
Khảo sát môi trường nhân giống cấp 1 (5 nghiệm thức thạch đĩa Petri, 3 lần lặp lại, n = 45 đĩa)
Khảo sát môi trường nhân giống cấp 2 (4 nghiệm thức cơ chất hạt lúa, 3 lần lặp lại, n = 36 chai)
Khảo sát môi trường giá thể cấp 3 (7 nghiệm thức mùn cưa + bông thải, 3 lần lặp lại, n = 147 bịch phôi)
Chăm sóc, sốc nhiệt và thu hoạch quả thể trong nhà trồng có kiểm soát nhiệt độ, độ ẩm
- Phương pháp phân lập và thuần hóa: Cắt tách mô thịt nấm tươi khỏe từ phần mũ nấm trong tủ cấy vô trùng, cấy lên thạch nghiêng PGA (Potato Glucose Agar), ủ tối ở 26 – 29°C. Cấy chuyền làm thuần một lần nữa để thu giống gốc.
- Thí nghiệm cấp một (Nhân giống thạch): Đánh giá 5 môi trường: PGA, PGAY (PGA bổ sung 2 g/L cao nấm men), Agaricus (PGA bổ sung 2 g/L peptone, 0,5 g/L MgSO4.7H2O), RAPER và CHANG. Theo dõi thời gian bung sợi, tốc độ lan tơ (mm/ngày), mật độ và hình thái sợi tơ.
- Thí nghiệm cấp hai (Nhân giống hạt): Sử dụng hạt lúa luộc nứt vỏ trấu phối trộn 4 công thức dinh dưỡng: ĐC (98% Lúa + 2% CaCO3), NT1 (90% Lúa + 8% Cám bắp + 2% CaCO3), NT2 (90% Lúa + 8% Cám gạo + 2% CaCO3), NT3 (90% Lúa + 4% Cám bắp + 4% Cám gạo + 2% CaCO3). Đóng chai thủy tinh 600 g, hấp khử trùng 121°C trong 20 phút.
- Thí nghiệm cấp ba (Giá thể nuôi trồng): Phối trộn 7 nghiệm thức với tỷ lệ mùn cưa cao su và bông thải biến thiên, bổ sung cố định cám bắp (9%), cám gạo (3%), CaCO3 (2%). Đóng bịch phôi 1,2 kg, hấp khử trùng hơi nước ở 95 – 100°C trong 8 giờ. Ủ tơ ở 26 – 28°C (ẩm độ 70 – 76%), cào bề mặt tạo mầm, sốc nhiệt ở 15 – 16°C trong 24 – 48 giờ, sau đó nuôi quả thể ở 20 – 22°C (ẩm độ 80 – 90%).
- Chỉ tiêu đo lường: Tốc độ lan tơ ($X = \sum X_i / n$), thời gian lan kín cơ chất (ngày), tỷ lệ nhiễm (%), tỷ lệ ra quả thể (%), kích thước tai nấm (đường kính mũ, đường kính cuống, chiều dài quả thể bằng thước kẹp), trọng lượng tươi trung bình (g/bịch), hiệu suất sinh học (BE% = [Khối lượng nấm tươi / Khối lượng cơ chất khô] × 100).
- Phương pháp xử lý số liệu: Phân tích phương sai một yếu tố (One-way ANOVA) và kiểm định phân hạng Tukey bằng phần mềm Minitab 16 ở các mức ý nghĩa P < 0,05 và P < 0,01. Xử lý đồ thị bằng Microsoft Excel.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Đặt vấn đề
Chương này nêu rõ tính cấp thiết của việc phát triển nguồn nấm ăn và nấm dược liệu chất lượng cao tại Việt Nam. Tác giả phân tích tiềm năng của loài nấm Đùi gà (Pleurotus eryngii) trên thị trường, đồng thời chỉ ra thực trạng thiếu hụt quy trình sản xuất giống và nuôi trồng ổn định trong điều kiện khí hậu nhiệt đới phía Nam. Từ đó xác định rõ 2 mục tiêu và 4 nội dung thực hiện của đề tài nhằm xây dựng quy trình nuôi trồng nấm Đùi gà quy mô phòng thí nghiệm tại TP. Hồ Chí Minh.
Chương 2. Tổng quan tài liệu
Chương 2 tổng hợp các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về nấm Đùi gà:
- Hệ thống hóa đặc điểm hình thái, chu trình sinh học, các yếu tố ngoại cảnh (nhiệt độ, ẩm độ, pH, ánh sáng, thông khí) và thành phần dinh dưỡng thiết yếu (C, N, khoáng, vitamin).
- Trình bày giá trị dược học gồm hoạt tính chống oxy hóa (chứa polyphenol, flavonoid, ergothioneine), hoạt chất eryngeolysin, tác dụng ức chế loãng xương do suy giảm estrogen và khả năng tích lũy selen hữu cơ.
- Phân tích đặc tính lý hóa và thành phần dinh dưỡng của mùn cưa cao su (C/N ~72) và phụ phẩm bông dệt sợi (protein 17,6%, cellulose 37 – 48%).
- Điểm luận các nghiên cứu kinh điển trên thế giới (Kong 2004; Jiang et al. 2005; Wang et al. 2006; Biswas 2011) và các nghiên cứu tại Việt Nam (Nguyễn Thị Sơn 2010; Đinh Xuân Linh et al. 2012; Nguyễn Thị Bích Thùy 2014, 2019; Nguyễn Duy Trình et al. 2020) về nhân giống thể lỏng, cơ chất phụ phẩm và chọn lọc chủng giống.
Chương 3. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Tác giả mô tả chi tiết danh mục hóa chất tinh khiết, trang thiết bị (nồi hấp Autoclave, tủ cấy vô trùng TTS-V1000, máy đo nhiệt ẩm HTC-2, tủ mát Sanaky) và dụng cụ thí nghiệm. Trình bày chi tiết công thức phối chế 5 loại môi trường cấp một, 4 công thức môi trường cấp hai, 7 công thức giá thể nuôi trồng cấp ba cùng kỹ thuật khử trùng, cấy chuyền, cào mầm, sốc nhiệt và chăm sóc thu hái. Thiết lập công thức tính toán các chỉ tiêu tăng trưởng, trọng lượng tươi, hiệu suất sinh học và phương pháp phân tích thống kê ANOVA qua phần mềm Minitab 16.
Chương 4. Kết quả và thảo luận
Chương 4 trình bày toàn bộ số liệu thực nghiệm thu được qua các giai đoạn nghiên cứu:
1. Kết quả phân lập và thuần hóa giống: Mô nấm phân lập trên môi trường PGA bung sợi sau 2 – 3 ngày, tạo hệ sợi màu trắng, dày và phân nhánh đều, đạt độ thuần khiết cao sau khi cấy chuyền lần hai.
2. Khảo sát môi trường nhân giống cấp một:
- Môi trường PGAY đạt tốc độ lan tơ trung bình nhanh nhất (7,95 ± 0,03 mm/ngày), thời gian lan kín đĩa nhanh nhất (6,67 ngày), hệ tơ có màu trắng, rất dày, phân nhánh nhiều và phân bố đồng đều.
- Môi trường PGA và Agaricus có tốc độ lan tơ lần lượt là 7,91 ± 0,04 mm/ngày và 7,83 ± 0,14 mm/ngày (cùng thuộc nhóm ý nghĩa thống kê A theo kiểm định Tukey).
- Môi trường CHANG cho kết quả thấp nhất với tốc độ lan tơ 5,91 ± 0,14 mm/ngày, sợi tơ rất mỏng và phân nhánh thưa thớt.
| Môi trường cấp 1 |
Thành phần cơ bản |
Tốc độ lan tơ TB (mm/ngày) |
Thời gian lan kín (ngày) |
Đặc điểm hình thái hệ sợi |
| PGAY |
Khoai tây 200g, Glucose 20g, Agar 20g, Cao nấm men 2g, Nước 1L |
7,95 ± 0,03^a |
6,67 |
Trắng, rất dày, phân nhánh nhiều, đều |
| PGA |
Khoai tây 200g, Glucose 20g, Agar 20g, Nước 1L |
7,91 ± 0,04^a |
7,00 |
Trắng, dày, phân nhánh nhiều, đều |
| Agaricus |
Khoai tây 200g, Glucose 20g, Agar 20g, Peptone 2g, MgSO4 0,5g |
7,83 ± 0,14^a |
7,00 |
Trắng, dày, phân nhánh nhiều, không đều |
| RAPER |
Glucose 20g, Agar 20g, Cao nấm men 2g, Peptone 2g, Muối khoáng |
6,73 ± 0,06^b |
8,33 |
Trắng, mỏng, phân nhánh nhiều, đều |
| CHANG |
Glucose 20g, Agar 2g, Peptone 2g, Muối khoáng, Vitamin B1 |
5,91 ± 0,14^c |
9,67 |
Trắng, rất mỏng, ít nhánh, không đều |
(Hệ số biến thiên CV = 1,17%; các chữ cái chỉ số mũ khác nhau thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức P < 0,05).
3. Khảo sát môi trường nhân giống cấp hai (Meo hạt):
- Nghiệm thức ĐC (98% Lúa + 2% CaCO3) có tốc độ lan tơ nhanh nhất (7,73 ± 0,03 mm/ngày, thời gian 19 ngày) nhưng sợi tơ phát triển rất mỏng, mật độ thưa do thiếu hụt dinh dưỡng bổ sung.
- Nghiệm thức NT3 (90% Lúa + 4% Cám bắp + 4% Cám gạo + 2% CaCO3) đạt tốc độ 6,70 ± 0,32 mm/ngày (thời gian lan kín 21 ngày), sợi tơ màu trắng, dày đặc và phân nhánh khỏe nhất nhờ sự kết hợp cân đối giữa nguồn đạm, vitamin nhóm B và khoáng chất trong cám bắp và cám gạo.
| Nghiệm thức cấp 2 |
Tỷ lệ phối trộn nguyên liệu |
Tốc độ lan tơ TB (mm/ngày) |
Thời gian lan kín (ngày) |
Hình thái hệ tơ |
| ĐC |
98% Lúa + 2% CaCO3 |
7,73 ± 0,03^a |
19,00 |
Trắng, mỏng, ít phân nhánh |
| NT1 |
90% Lúa + 8% Cám bắp + 2% CaCO3 |
6,49 ± 0,28^b |
21,33 |
Trắng, khá dày, phân nhánh nhiều |
| NT2 |
90% Lúa + 8% Cám gạo + 2% CaCO3 |
6,65 ± 0,07^b |
21,00 |
Trắng, khá dày, phân nhánh nhiều |
| NT3 |
90% Lúa + 4% Cám bắp + 4% Cám gạo + 2% CaCO3 |
6,70 ± 0,32^b |
21,00 |
Trắng, dày, phân nhánh nhiều |
(Hệ số biến thiên CV = 2,61%; mức ý nghĩa P < 0,05).
4. Khảo sát môi trường giá thể nuôi trồng (Cấp ba) và đánh giá năng suất quả thể:
- Tốc độ lan tơ trên giá thể đạt cao nhất ở NT1 (5,95 ± 0,13 mm/ngày) và ĐC (5,71 ± 0,18 mm/ngày) nhưng hệ tơ rất mỏng, không đảm bảo năng lượng hình thành quả thể.
- Nghiệm thức NT4 (43% Mùn cưa + 43% Bông vải + 9% Cám bắp + 3% Cám gạo + 2% CaCO3) cho kết quả toàn diện nhất: tốc độ lan tơ đạt 4,96 ± 0,11 mm/ngày, thời gian lan tơ 36,77 ngày (36 – 37 ngày), hệ sợi trắng dày và phân bố đều khắp túi cơ chất.
- Về chỉ tiêu quả thể và năng suất thu hoạch: NT4 đạt tỷ lệ ra quả thể 90%, thời gian xuất hiện quả thể sau cấy 55 ngày, đường kính mũ 4,78 cm, đường kính cuống 4,48 cm, chiều dài quả thể 12,97 cm, số tai nấm đạt 3,67 tai/bịch, trọng lượng tươi trung bình đạt 189,27 ± 8,11 g/bịch và hiệu suất sinh học đạt mức cao nhất 37,31%.
| Nghiệm thức |
Công thức phối trộn giá thể |
Tốc độ lan tơ (mm/ngày) |
Thời gian lan tơ (ngày) |
Tỷ lệ ra quả thể (%) |
Trọng lượng tươi TB (g/bịch) |
Hiệu suất sinh học BE (%) |
| ĐC |
98% Mùn cưa + 2% CaCO3 |
5,71 ± 0,18^a |
33,67 |
90 |
92,63 ± 7,90^d |
15,44 |
| NT1 |
98% Bông vải + 2% CaCO3 |
5,95 ± 0,13^a |
32,33 |
85 |
78,47 ± 6,26^e |
20,18 |
| NT2 |
69% Mùn cưa + 17% Bông + 12% Phụ gia |
3,91 ± 0,07^c |
42,33 |
95 |
112,91 ± 1,22^d |
20,04 |
| NT3 |
52% Mùn cưa + 34% Bông + 12% Phụ gia |
4,18 ± 0,19^c |
39,33 |
100 |
156,88 ± 3,37^b |
32,15 |
| NT4 |
43% Mùn cưa + 43% Bông + 12% Phụ gia |
4,96 ± 0,11^b |
36,77 |
90 |
189,27 ± 8,11^a |
37,31 |
| NT5 |
34% Mùn cưa + 52% Bông + 12% Phụ gia |
4,88 ± 0,10^b |
37,00 |
100 |
161,28 ± 4,37^b |
34,70 |
| NT6 |
17% Mùn cưa + 69% Bông + 12% Phụ gia |
4,72 ± 0,06^b |
37,33 |
100 |
126,41 ± 3,07^c |
28,01 |
(Tỷ lệ 12% Phụ gia cố định trong NT2 - NT6 gồm: 9% Cám bắp + 3% Cám gạo + 2% CaCO3; CV = 4,41%; mức ý nghĩa P < 0,01).
Chương 5. Kết luận và đề nghị
Tổng kết 3 môi trường tối ưu tương ứng cho 3 giai đoạn nhân giống và nuôi trồng; đưa ra các đề xuất nghiên cứu tiếp theo về thử nghiệm môi trường thạch mới (MY, MEA), công nghệ nhân giống dịch thể và mở rộng cơ chất phụ phẩm nông nghiệp khác.
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính định lượng
Nghiên cứu đã xác lập các thông số định lượng rõ ràng cho từng công đoạn nhân giống và nuôi trồng nấm Đùi gà tại TP. Hồ Chí Minh:
- Giai đoạn cấp 1 (Môi trường thạch): Xác định môi trường PGAY (PGA + 2 g/L cao nấm men) tối ưu với tốc độ lan tơ 7,95 ± 0,03 mm/ngày, thời gian lan kín đĩa Petri đạt 6,67 ngày.
- Giai đoạn cấp 2 (Môi trường meo hạt): Xác định công thức NT3 (90% Lúa + 4% Cám bắp + 4% Cám gạo + 2% CaCO3) đạt tốc độ phát triển 6,70 ± 0,32 mm/ngày, hệ tơ trắng đặc, phân nhánh dày dặn.
- Giai đoạn cấp 3 (Môi trường giá thể): Xác định công thức phối trộn NT4 (43% Mùn cưa cao su + 43% Bông vải thải + 9% Cám bắp + 3% Cám gạo + 2% CaCO3) cho năng suất vượt trội: thời gian nuôi sợi 36,77 ngày; tốc độ lan tơ 4,96 ± 0,11 mm/ngày; trọng lượng nấm tươi trung bình 189,27 g/bịch phôi 1,2 kg; hiệu suất sinh học đạt 37,31%.
Quy trình kỹ thuật nuôi trồng đề xuất
Tác giả hoàn thiện sơ đồ quy trình gồm các bước:
- Tạo giống gốc: Phân lập mô thịt nấm trên PGA, ủ tối ở 27°C.
- Nhân giống cấp 1: Cấy chuyền sang đĩa thạch PGAY, ủ tối ở 27°C.
- Nhân giống cấp 2: Cấy sang môi trường hạt lúa phối trộn (90% Lúa + 4% Cám bắp + 4% Cám gạo + 2% CaCO3), ủ tối ở 27°C trong 21 ngày.
- Phối trộn giá thể cấp 3: Phối trộn 43% Mùn cưa + 43% Bông thải + 9% Cám bắp + 3% Cám gạo + 2% CaCO3 (độ ẩm 65%), đóng bịch 1,2 kg, hấp khử trùng ở 95 – 100°C trong 8 giờ.
- Nuôi sợi: Cấy giống hạt, ủ trong phòng tối thoáng gió ở nhiệt độ 26 – 28°C, độ ẩm không khí 70 – 76% trong 32 – 37 ngày cho đến khi sợi nấm ăn kín túi.
- Xử lý tạo mầm và sốc nhiệt: Cào bỏ lớp giống trên bề mặt, buộc thun miệng túi tạo hình nơm, ủ phục hồi sợi 5 – 6 ngày (hoặc 10 ngày để tơ ăn sâu); sau đó mở miệng túi, hạ nhiệt độ điều hòa xuống 15 – 16°C trong 24 – 48 giờ để kích thích phân hóa mầm quả thể.
- Nuôi quả thể và thu hoạch: Duy trì nhiệt độ phòng nuôi 20 – 22°C, độ ẩm 80 – 90%, chiếu sáng khuếch tán 3 – 8 giờ/ngày (hoặc tối thiểu 12 giờ/ngày khi quả thể lớn). Sau 7 – 9 ngày kể từ khi xuất hiện nụ nấm thì tiến hành thu hoạch.
Đóng góp so với các công trình công bố trước
- Khẳng định hiệu quả của việc phối trộn đồng tỷ lệ 1:1 giữa mùn cưa cao su và bông vải (43% : 43%) kết hợp hệ phụ gia cám bắp/cám gạo, giúp cải thiện độ thoáng xốp và cân bằng hàm lượng dinh dưỡng C/N so với việc sử dụng đơn lẻ mùn cưa truyền thống (vốn có năng suất thấp, BE chỉ đạt 15,44%).
- Hiệu suất sinh học của đề tài (37,31%) cao hơn nghiên cứu của Đinh Xuân Linh et al. (2012) tại Trung tâm Công nghệ Sinh học Thực vật (đạt 35%) và tương đương nghiên cứu của Nguyễn Thị Sơn (2010) (đạt 39,2%).
- Rút ngắn thời gian từ khi cấy giống đến khi thu hái quả thể từ 2 – 4 ngày so với các quy trình công nghệ truyền thống đã công bố trước đây.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu
- Nghiên cứu chỉ mới được thực hiện ở quy mô phòng thí nghiệm và trại thực nghiệm diện tích nhỏ, chưa đánh giá biến động năng suất ở quy mô bán công nghiệp hoặc trang trại lớn.
- Chưa khảo sát sâu sự tương tác đa biến giữa các mức nhiệt độ, ẩm độ và pH khác nhau trong giai đoạn chăm sóc quả thể nhằm tối ưu hóa chi phí vận hành hệ thống điều hòa làm mát tại khu vực miền Nam.
- Các phụ phẩm nông nghiệp tiềm năng khác chưa được đưa vào khảo sát đối chứng.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng khảo sát các môi trường thạch dinh dưỡng mới như MY (Malt Extract + Yeast Extract) và MEA (Malt Extract + Peptone) để tối ưu hóa giai đoạn nhân giống cấp một.
- Nghiên cứu ứng dụng công nghệ nhân giống nấm Đùi gà dạng dịch thể (nhân giống thể lỏng) nhằm rút ngắn chu kỳ nhân giống và giảm thiểu tỷ lệ nhiễm khuẩn.
- Khảo sát bổ sung hoặc thay thế bông thải bằng các nguồn phế phụ phẩm nông nghiệp sẵn có, giá thành rẻ tại khu vực phía Nam như bã mía, rơm rạ cắt vụn, lõi bắp nghiền.
- Tinh chỉnh các thông số vi khí hậu (độ thông thoáng, nồng độ CO2, chu kỳ chiếu sáng) trong phòng lạnh nuôi quả thể để giảm thiểu tiêu hao năng lượng.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo thực nghiệm hữu ích cho các đối tượng:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành: Ngành Công nghệ Sinh học, Sinh học Ứng dụng, Nông nghiệp, Trồng trọt và Bảo vệ Thực vật làm cơ sở lý thuyết và phương pháp bố trí thí nghiệm vi sinh - nấm học.
- Kỹ thuật viên và cơ sở nhân giống: Tham khảo chi tiết công thức môi trường PGAY cho giai đoạn nhân giống thạch và công thức hạt lúa bổ sung 4% cám bắp + 4% cám gạo cho giai đoạn sản xuất meo giống cấp hai.
- Trang trại và doanh nghiệp nuôi trồng nấm: Ứng dụng công thức phối trộn giá thể tận dụng phụ phẩm bông dệt sợi (43% mùn cưa + 43% bông thải + 12% phụ gia) cùng các thông số kiểm soát nhiệt độ sốc nhiệt (15 – 16°C) và nhiệt độ nuôi quả thể (20 – 22°C) để phát triển mô hình trồng nấm ôn đới tại các tỉnh thành phía Nam.
Câu hỏi thường gặp
1. Môi trường nào thích hợp nhất cho giai đoạn nhân giống cấp một của nấm Đùi gà và các chỉ tiêu sinh trưởng đạt được là gì?
Môi trường tối ưu cho giai đoạn cấp một là PGAY (200 g khoai tây + 20 g glucose + 20 g agar + 2 g cao nấm men trong 1 lít nước cất). Trên môi trường này, nấm đạt tốc độ lan tơ trung bình nhanh nhất là 7,95 ± 0,03 mm/ngày, thời gian lan kín đĩa Petri 6,67 ngày, hệ tơ có màu trắng tinh, mật độ rất dày, phân nhánh nhiều và phát triển đồng đều.
2. Vì sao nghiệm thức đối chứng (chỉ có lúa và CaCO3) ở cấp hai lan tơ nhanh hơn nhưng không được chọn làm môi trường tối ưu?
Nghiệm thức đối chứng (98% Lúa + 2% CaCO3) đạt tốc độ lan tơ 7,73 mm/ngày (nhanh hơn NT3 đạt 6,70 mm/ngày) do hệ sợi nấm phải vươn dài tìm kiếm nguồn dinh dưỡng trong môi trường nghèo đạm và vi chất, dẫn đến sợi tơ rất mỏng, mật độ thưa thớt và yếu ớt. Ngược lại, NT3 bổ sung 4% cám bắp và 4% cám gạo cung cấp dồi dào dinh dưỡng, kích thích hệ sợi tập trung tăng sinh khối, giúp tơ dày đặc, khỏe mạnh và phân nhánh nhiều, đáp ứng tốt tiêu chuẩn làm meo giống chuyển tiếp sang giá thể.
3. Tỷ lệ phối trộn cơ chất giá thể nào mang lại hiệu suất sinh học cao nhất trong nghiên cứu?
Nghiệm thức 4 (NT4) với tỷ lệ phối trộn 43% Mùn cưa cao su + 43% Bông vải thải + 9% Cám bắp + 3% Cám gạo + 2% CaCO3 mang lại hiệu quả cao nhất: thời gian nuôi sợi 36,77 ngày, tốc độ lan tơ 4,96 mm/ngày, tỷ lệ ra quả thể 90%, trọng lượng tươi trung bình 189,27 g/bịch phôi 1,2 kg và hiệu suất sinh học đạt 37,31%.
4. Quy trình xử lý sốc nhiệt và các điều kiện vi khí hậu để nấm Đùi gà ra quả thể được tác giả thiết lập như thế nào?
Sau khi hệ sợi ăn lan kín bịch phôi và được cào bỏ bề mặt giống già (ủ phục hồi 5 – 6 ngày), bịch phôi được mở miệng và hạ nhiệt độ điều hòa xuống 15 – 16°C trong vòng 24 – 48 giờ để tạo sốc nhiệt cảm ứng phân hóa mầm hoa nấm. Tiếp đó, nhiệt độ phòng nuôi được duy trì ở 20 – 22°C, độ ẩm không khí 80 – 90%, ánh sáng khuếch tán từ 3 – 8 giờ/ngày và bật quạt thông gió tạo độ thoáng nhẹ.
5. Đề tài đã ghi nhận những cải tiến gì về mặt thời gian và hiệu quả so với các công bố trước đó của các tác giả trong nước?
So với các nghiên cứu trước đây của Đinh Xuân Linh et al. (2012) (năng suất 35%) và Nguyễn Thị Sơn (2010) (năng suất 39,2%), công thức phối trộn giá thể NT4 của tác giả đạt hiệu suất sinh học 37,31% và đặc biệt đã rút ngắn được thời gian nuôi trồng tính từ lúc cấy giống đến khi thu hái quả thể sớm hơn từ 2 đến 4 ngày.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Như Hảo đã nghiên cứu thực nghiệm toàn diện các giai đoạn sinh trưởng của nấm Đùi gà (Pleurotus eryngii) từ phân lập giống gốc, nhân giống thạch, nhân meo hạt đến nuôi trồng giá thể tại TP. Hồ Chí Minh. Công trình đã xác định chính xác môi trường PGAY cho giai đoạn cấp một, môi trường lúa bổ sung 4% cám bắp + 4% cám gạo cho giai đoạn cấp hai, và môi trường phối trộn 43% mùn cưa + 43% bông thải + 12% phụ gia cho giai đoạn ra quả thể với hiệu suất sinh học đạt 37,31%. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và quy trình kỹ thuật hoàn chỉnh ở quy mô phòng thí nghiệm, mở ra triển vọng tận dụng hiệu quả nguồn phụ phẩm bông dệt sợi và mùn cưa cao su để phát triển mô hình trồng nấm ôn đới giá trị cao tại khu vực miền Nam.