Tổng quan luận án
Nấm ăn và nấm dược liệu giữ vai trò thiết yếu trong chu trình tuần hoàn vật chất sinh học tự nhiên, đồng thời cung cấp nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng và các hoạt chất sinh học hỗ trợ điều trị bệnh. Việc tận dụng nguồn phụ phẩm nông - lâm nghiệp dồi dào như rơm rạ, bông phế loại, mùn cưa, bã mía và thân lõi ngô để nuôi trồng nấm không chỉ tạo ra các sản phẩm kinh tế có giá trị cao mà còn chuyển hóa chất thải thành phân bón hữu cơ, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
Nấm Sò vua (Pleurotus eryngii (DC.) Quél) là loài nấm ăn có giá trị dinh dưỡng và dược học nổi bật, hàm lượng protein cao, chứa đầy đủ 8 loại axit amin không thay thế, giàu khoáng chất, vitamin và không chứa độc tố. Nấm Vân chi (Trametes versicolor (L.) Pilát) là loại nấm dược liệu quý chứa các phức hệ polysaccharid gắn protein gồm Polysaccharide Peptide (PSP) và Polysaccharide Krestin (PSK), có khả năng ức chế nhiều dòng tế bào ung thư và nâng cao hệ miễn dịch.
Mặc dù nhu cầu tiêu thụ trong nước ngày càng gia tăng, phần lớn sản phẩm trên thị trường vẫn phải nhập khẩu, hoặc phụ thuộc vào phương thức sản xuất truyền thống sử dụng giống thể rắn. Công nghệ nhân giống thể rắn bộc lộ nhiều hạn chế: tỷ lệ nhiễm bệnh cao, thời gian nuôi cấy một cấp giống kéo dài từ 10 đến 25 ngày, chu kỳ từ khi cấy giống vào cơ chất đến lúc thu hoạch quả thể kéo dài tới 2 tháng, dẫn đến chi phí sản xuất cao. Việc thiếu hụt dữ liệu di truyền học phân tử và quy trình nhân giống dịch thể cho các chủng nấm thích ứng với khí hậu Việt Nam là khoảng trống nghiên cứu cần giải quyết.
Mục tiêu của đề tài được xác định cụ thể:
- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của các chủng giống nấm Sò vua và nấm Vân chi để xác định được chủng nấm sinh trưởng phát triển tốt nhất trong điều kiện khí hậu Việt Nam.
- Xây dựng công nghệ nhân giống các chủng nấm trên ở dạng dịch thể nhằm nâng cao hiệu quả trong sản xuất nấm ăn và nấm dược liệu.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu gồm 6 chủng nấm Sò vua (ký hiệu E1, E2, E3, E4, E5, E6) và 2 chủng nấm Vân chi (ký hiệu Tra-1, Tra-2).
- Phạm vi nghiên cứu: Thực nghiệm sinh học, phân tích di truyền phân tử, khảo sát công nghệ lên men dịch thể 3 cấp và thử nghiệm nuôi trồng cơ chất rắn thu quả thể được tiến hành tại Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, Trung tâm Công nghệ Sinh học Thực vật, Trung tâm Nấm Văn Giang và Viện Vi sinh vật và Công nghệ Sinh học thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội trong giai đoạn 2010 - 2014.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng hợp hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đặc điểm sinh học, công nghệ nhân giống dịch thể, nuôi trồng và phân tích di truyền của nấm:
- Nghiên cứu nhân giống dịch thể và nuôi cấy chìm trên thế giới:
- Diamantopoulou và cộng sự (2012), Liu và cộng sự (2010), Kwon và cộng sự (2009) khẳng định nuôi cấy dịch thể tầng sâu là giải pháp thay thế nhanh chóng để thu sinh khối sợi nấm chất lượng cao, giảm thiểu nguy cơ nhiễm tạp.
- Sukumar và cộng sự (2008) chỉ ra sinh khối sợi nấm Vân chi đạt tối ưu ở pH 5 - 6 (2,99 - 4,28 g/lít) và nhiệt độ 30°C (4,32 g/lít); nguồn carbon glucose cho sinh khối 5,54 g/lít, fructose đạt 5,41 g/lít, ammonium sulfate 0,3% đạt 4,16 g/lít.
- Bolla và cộng sự (2010) ghi nhận maltose (8,6 g/lít sau 7 ngày), cao nấm men và gelatin là nguồn dinh dưỡng thích hợp cho sinh khối nấm Vân chi.
- Adebayo và Ugwu (2011) khảo sát 10 nguồn carbon và 10 nguồn nitơ, xác định casein, cao nấm men và các axit amin như alanine, valine, aspartic giúp nấm Vân chi đạt đỉnh sinh khối sớm.
- Jiang và cộng sự (2005) tối ưu hóa môi trường lên men lỏng cho nấm Sò vua gồm 10% cám mì, 1% glucose, 0,3% pepton, 0,1% KH2PO4, 0,05% MgSO4, giúp rút ngắn thời gian sinh trưởng so với thể rắn từ 10 đến 20 ngày.
- Marquez-Rocha và cộng sự (1999), Lee và cộng sự (2004), Hwang và cộng sự (2004) làm rõ tác động của tốc độ khuấy và cường độ sục khí (0,5 - 1,16 V/V/M) đến hình thái khuẩn lạc cầu và độ nhớt môi trường.
- Nghiên cứu cơ chất nuôi trồng quả thể:
- Wang và cộng sự (2006), Rodriguez và Royse (2005, 2007, 2008), Kirbag và Akyuz (2008a, 2008b), Gregori và cộng sự (2008), Torng và cộng sự (2000), Obodai và cộng sự (2003) khảo sát việc phối trộn mùn cưa, vỏ hạt bông, rơm lúa mì, bã mía bổ sung cám gạo, cám mì, bột ngô, khoáng CaSO4, Ca(OH)2, CaCO3 để nâng cao hiệu suất sinh học của nấm Sò vua.
- Gugerrero (2011) thử nghiệm nuôi nấm Vân chi trên mùn cưa gỗ sồi có bổ sung dinh dưỡng đạt hiệu suất sinh học 20,3%.
- Phân tích đa dạng di truyền bằng kỹ thuật RAPD:
- Calvo-Bado và cộng sự (2001), Moore và cộng sự (2001) ứng dụng chỉ thị RAPD phân tích đa hình đơn bào tử và các chủng nấm Mỡ.
- Zervakis và cộng sự (2001) sử dụng 5 mồi RAPD phân tích 46 chủng Pleurotus eryngii, phát hiện 45 băng đa hình và phân chia thành 5 nhóm; Yan và cộng sự (2004) dùng 8 mồi RAPD phân loại 11 chủng mộc nhĩ thành 3 nhóm ở mức tương đồng 70%.
- Tình hình nghiên cứu trong nước:
- Nguyễn Thị Chính và cộng sự (2005, 2011), Nguyễn Thị Hồng Nở (2005), Lê Thị Hoàng Yến và cộng sự (2003, 2004), Lê Vũ Định Tường (2006), Đinh Xuân Linh và cộng sự (2012), Nguyễn Thị Sơn (2010) tập trung vào tách chiết sinh khối dược liệu, khảo sát nuôi cấy nấm Linh chi, Vân chi, Đông trùng hạ thảo và thử nghiệm nuôi trồng nấm Sò vua bằng giống hạt truyền thống.
- Trần Đông Anh và Trịnh Tam Kiệt (2008), Nguyễn Huỳnh Minh Quyên (2005) ứng dụng RAPD trên nấm rơm và nấm Linh chi.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Trước thời điểm luận án thực hiện, tại Việt Nam chưa có công trình nào công bố kết quả nghiên cứu toàn diện về đa dạng di truyền của các chủng nấm Sò vua và nấm Vân chi bằng kỹ thuật sinh học phân tử, đồng thời chưa có quy trình nhân giống dịch thể 3 cấp hoàn chỉnh kết nối trực tiếp với sản xuất quả thể trên cơ chất rắn ở quy mô công nghiệp.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở phân loại học nấm lớn theo hệ thống của Trịnh Tam Kiệt (2011, 2012):
- Nấm Sò vua: Giới Fungi, ngành Basidiomycota, lớp Agaricomycetes, bộ Agaricales, họ Pleurotaceae, chi Pleurotus, loài Pleurotus eryngii (DC.) Quél.
- Nấm Vân chi: Giới Fungi, ngành Basidiomycota, lớp Agaricomycetes, bộ Polyporales, họ Polyporaceae, chi Trametes, loài Trametes versicolor (L.) Pilát.
Khung lý thuyết về chu trình phát triển cá thể của nấm đảm bao gồm giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng vô hạn ở đỉnh sợi và phân nhánh tạo hệ sợi sơ cấp đơn nhân (monokaryon), kết hợp tạo hệ sợi thứ cấp song nhân (dikaryon) có khóa (clamp connection). Khi gặp điều kiện ngoại cảnh thích hợp (sốc nhiệt, ánh sáng khuếch tán, độ thông thoáng), hệ sợi kết bện hình thành mầm quả thể (primordia), phát triển thành quả thể hoàn chỉnh và thực hiện giảm phân tại tế bào đảm (basidie) trên các tiểu bình để phóng thích bào tử đảm đơn bội (n).
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm bao gồm:
- Phương pháp sinh học phân tử đánh giá sai khác di truyền:
- Tách chiết DNA tổng số bằng phương pháp CTAB (Cetyltrimethylammonium bromide), làm sạch và bảo quản trong đệm TE.
- Phản ứng PCR-RAPD sử dụng enzyme Taq polymerase, hỗn hợp dNTPs (dATP, dTTP, dGTP, dCTP), DNA khuôn và các đoạn mồi ngẫu nhiên 10 nucleotide (gồm OPN2, OPN10, S202, OPA04, OPN09, OPN14, OPO13, OPO06, OPN05, OPO12, OPO11).
- Chu trình nhiệt: Biến tính ban đầu ở 94°C - 95°C, gắn mồi ở 35°C - 36°C, kéo dài chuỗi ở 72°C.
- Điện di sản phẩm trên gel agarose, nhuộm ethidium bromide, quan sát dưới ánh sáng UV, xác định kích thước băng DNA với thang chuẩn Marker 1Kb và phân tích mức độ tương đồng di truyền.
- Phương pháp sinh học và vi học:
- Nuôi cấy thuần khiết trên môi trường thạch PGA ở các mức nhiệt độ 18°C, 22°C, 26°C, 30°C và 34°C (sai số ± 1°C) để đo tốc độ sinh trưởng hệ sợi.
- Quan sát cấu trúc vi học của đảm, tiểu bình và bào tử đảm trên kính hiển vi quang học và kính hiển vi điện tử quét (SEM) ở độ phóng đại từ 750 lần đến 20.000 lần.
- Phương pháp nhân giống dịch thể 3 cấp:
- Giống cấp 1: Bình tam giác trên máy lắc điều nhiệt, khảo sát pH ban đầu, nguồn dinh dưỡng (carbon, nitơ, khoáng, cao nấm men), tốc độ lắc (vòng/phút) và thời gian nuôi.
- Giống trung gian (cấp 2): Bình nuôi lắc hoặc bình sục khí, xác định tỷ lệ tiếp giống từ cấp 1 và cường độ cấp khí.
- Giống thương phẩm (cấp 3): Nuôi cấy trong nồi lên men dịch thể chuyên dụng có hệ thống kiểm soát sục khí (V/V/M), cánh khuấy và nhiệt độ; theo dõi mật độ khuẩn lạc cầu (KLC).
- Phương pháp nuôi trồng quả thể và phân tích số liệu:
- Bố trí thí nghiệm nuôi trồng trên cơ chất đóng bịch (mùn cưa, bông phế loại, cám gạo, bột ngô, CaCO3), khử trùng bằng nồi hấp áp lực hoặc hơi nước bão hòa 100°C.
- Cấy giống dịch thể bằng dụng cụ chuyên dụng, theo dõi thời gian lan sợi, thời gian xuất hiện mầm, kích thước quả thể, năng suất thực thu và hạch toán hiệu quả kinh tế.
- Số liệu thực nghiệm được xử lý thống kê sinh học theo các phương pháp phân tích phương sai chuẩn.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương 1 trình bày tổng quan 40 trang về tình hình nghiên cứu, sản xuất nấm ăn và nấm dược liệu trên thế giới và tại Việt Nam. Tác giả phân tích nguồn gốc, vị trí phân loại học, chu trình sống, đặc điểm hình thái và các yếu tố ngoại cảnh (nhiệt độ, độ ẩm, pH, ánh sáng, nồng độ CO2, nguồn dinh dưỡng C/N/khoáng/vitamin) tác động đến nấm Sò vua và nấm Vân chi. Chương này cũng tổng kết các nghiên cứu về hoạt tính chống khối u của PSP, PSK từ nấm Vân chi và giá trị dinh dưỡng, dược tính kháng khuẩn, hạ cholesterol, chống oxy hóa của nấm Sò vua, đồng thời trích dẫn định hướng phát triển ngành nấm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đến năm 2020.
Chương 2: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết vật liệu gồm 6 chủng nấm Sò vua và 2 chủng nấm Vân chi được thu thập, lưu giữ; các thiết bị máy lắc, nồi lên men dịch thể, kính hiển vi điện tử quét, máy PCR; thành phần hóa chất, môi trường PGA, môi trường dịch thể và các cơ chất hữu cơ. Tác giả thiết kế hệ thống phương pháp nghiên cứu từ đặc tính sinh học, quy trình phản ứng PCR-RAPD, kỹ thuật lên men dịch thể qua 3 cấp đến phương pháp bố trí thí nghiệm nông học đánh giá năng suất quả thể trên các công thức phối trộn giá thể.
Chương 3: Kết quả và thảo luận
Chương 3 là phần thực nghiệm trọng tâm, thể hiện kết quả nghiên cứu qua các nội dung:
- Đặc điểm sinh học của nấm Sò vua và nấm Vân chi:
- Hệ sợi nấm Sò vua sinh trưởng tốt trong khoảng nhiệt độ 22°C - 26°C; tại 30°C - 34°C hệ sợi phát triển yếu hoặc ngừng trệ. Giai đoạn kích thích tạo mầm quả thể đòi hỏi sốc nhiệt ở 10°C - 15°C, nhiệt độ phát triển quả thể ổn định ở 13°C - 18°C. Chủng E1 và E6 thể hiện ưu thế sinh trưởng, quả thể đồng đều, khối lượng bịch và năng suất cao.
- Hệ sợi nấm Vân chi sinh trưởng thích hợp tại 29°C - 30°C. Quả thể hình thành và phát triển tốt ở 20°C - 25°C trong thời vụ từ tháng 2 đến tháng 5. Ánh sáng đóng vai trò quan trọng trong việc phân hóa màu sắc các vòng đồng tâm trên mũ nấm Vân chi (khảo sát ở 100 lux và 300 lux).
- Ảnh chụp kính hiển vi điện tử quét (SEM) xác định kích thước, hình thái đặc trưng của bào tử hình elip trụ ở nấm Sò vua (3 - 4 x 7 - 8,5 µm) và cấu trúc đảm, tiểu bình mang 4 bào tử đảm nhẵn ở nấm Vân chi (1,5 - 2,5 x 4 - 7 µm).
- Đánh giá sự khác biệt di truyền bằng chỉ thị RAPD-PCR:
- Kết quả điện di sản phẩm RAPD-PCR với các mồi OPN2, OPN10, S202 cho thấy sự đa hình rõ rệt giữa 6 chủng nấm Sò vua, cho phép lập ma trận hệ số tương đồng di truyền và xây dựng sơ đồ phân nhánh phả hệ.
- Các mồi OPA04, OPN09, OPN14, OPO13, OPO06, OPN05, OPO12, OPO11 phân tách rõ sự sai khác di truyền giữa 2 chủng nấm Vân chi Tra-1 và Tra-2.
- Công nghệ nhân giống nấm dạng dịch thể:
- Xác định môi trường dịch thể tối ưu cấp 1 cho nấm Sò vua và nấm Vân chi gồm đường glucose, cao nấm men, pepton, cám mì, bột ngô kết hợp khoáng KH2PO4, MgSO4.7H2O, pH ban đầu 6,0 - 6,5, nhiệt độ nuôi 25°C (Sò vua) và 28°C - 30°C (Vân chi), tốc độ lắc 150 - 180 vòng/phút.
- Nhân giống cấp trung gian và cấp thương phẩm trong nồi lên men có sục khí với cường độ 0,5 - 1,0 V/V/M, tỷ lệ tiếp giống 5% - 10%, thời gian nuôi cấy đạt sinh khối cực đại và tạo khuẩn lạc cầu (KLC) đồng đều chỉ sau 72 - 96 giờ (3 - 4 ngày).
- Ứng dụng giống dịch thể trong nuôi trồng quả thể và hiệu quả kinh tế:
- Giống dịch thể cấy vào cơ chất giá thể lan sợi nhanh, mật độ sợi dày, rút ngắn thời gian ươm bịch từ 7 đến 10 ngày so với giống hạt.
- Công thức phối trộn cơ chất tối ưu cho nấm Sò vua gồm 43% mùn cưa + 43% bông phế loại + 7% cám gạo + 6% bột ngô + 1% CaCO3.
- Nấm Vân chi sinh trưởng tốt trên cơ chất mùn cưa bổ sung dinh dưỡng cám gạo, bột ngô, cho năng suất sinh học ổn định.
| Chỉ tiêu kỹ thuật / Kinh tế | Công nghệ giống thể rắn (Truyền thống) | Công nghệ giống dịch thể (Luận án) |
|---|---|---|
| Thời gian nhân giống 1 cấp | 10 - 25 ngày | 3 - 5 ngày (72 - 96 giờ) |
| Mức độ đồng đều và thuần khiết | Phụ thuộc cơ chất hạt, dễ phân tầng | Cao, sinh khối phân tán dạng khuẩn lạc cầu |
| Tỷ lệ nhiễm bệnh trung gian | Tương đối cao do thao tác cấy hở | Giảm thiểu rõ rệt nhờ hệ thống lên men kín |
| Thời gian nuôi sợi trên bịch cơ chất | Kéo dài 25 - 35 ngày | Rút ngắn 7 - 10 ngày |
| Ứng dụng quy mô công nghiệp | Khó cơ giới hóa, tốn diện tích phòng nuôi | Rất thuận lợi cho tự động hóa và nạp giống vô trùng |
| Hiệu quả kinh tế | Chi phí nhân công và hao hụt cao | Giảm chi phí sản xuất giống, tăng năng suất thực thu |
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đã đạt được các kết quả khoa học và đóng góp mới sau:
- Đóng góp về mặt lý luận:
- Cung cấp hệ thống dữ liệu khoa học về đặc tính sinh học, hình thái cấu trúc siêu vi (đảm, tiểu bình, bào tử đảm qua kính hiển vi điện tử quét SEM) và nhu cầu sinh thái của các chủng nấm Sò vua (Pleurotus eryngii) và nấm Vân chi (Trametes versicolor) tại Việt Nam.
- Thiết lập dữ liệu về tính đa dạng và quan hệ di truyền phân tử giữa 6 chủng nấm Sò vua và 2 chủng nấm Vân chi thông qua kỹ thuật RAPD-PCR, làm cơ sở khoa học cho công tác quản lý nguồn gen và chọn tạo giống nấm.
- Đóng góp về mặt thực tiễn:
- Tuyển chọn được chủng nấm Sò vua (E1, E6) và nấm Vân chi (Tra-1) có khả năng sinh trưởng mạnh, năng suất cao, phù hợp điều kiện khí hậu và nguồn phụ phẩm nông nghiệp Việt Nam.
- Xây dựng thành công quy trình công nghệ nhân giống dạng dịch thể 3 cấp (cấp 1 -> cấp trung gian -> cấp thương phẩm) cho nấm Sò vua và nấm Vân chi, rút ngắn thời gian nuôi cấy một cấp giống xuống còn 3 - 5 ngày.
- Hoàn thiện công thức phối trộn cơ chất và kỹ thuật nuôi trồng quả thể bằng nguồn giống dịch thể, giúp giảm tỷ lệ nhiễm bệnh, rút ngắn chu kỳ sản xuất, nâng cao năng suất quả thể và hiệu quả kinh tế so với công nghệ truyền thống.
- Kiến nghị và giải pháp đề xuất:
- Khuyến nghị ứng dụng quy trình nhân giống dịch thể và công thức nuôi trồng đã hoàn thiện vào các cơ sở sản xuất nấm quy mô bán công nghiệp và công nghiệp.
- Đề xuất tiếp tục đầu tư hoàn thiện trang thiết bị nồi lên men dịch thể chuyên dụng phù hợp với điều kiện sản xuất trong nước.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Số lượng mẫu nghiên cứu tập trung vào 6 chủng Sò vua và 2 chủng Vân chi hiện có trong tập đoàn lưu giữ.
- Nuôi trồng nấm Sò vua đòi hỏi điều kiện nhiệt độ thấp ở giai đoạn ra quả thể (10°C - 15°C để tạo mầm và 13°C - 18°C để nuôi quả thể), do đó việc nuôi trồng đại trà phụ thuộc vào mùa đông lạnh ở miền Bắc hoặc cơ sở có hệ thống điều hòa nhiệt độ.
- Kỹ thuật sinh học phân tử trong luận án mới tiếp cận ở mức độ chỉ thị RAPD-PCR.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng ứng dụng các kỹ thuật sinh học phân tử chuyên sâu hơn (như giải trình tự vùng gen ITS, chỉ thị SSR, SNP) để đánh giá chi tiết nguồn gen nấm lớn.
- Nghiên cứu tối ưu hóa quy trình tách chiết sâu các hoạt chất sinh học (PSP, PSK từ nấm Vân chi và beta-glucan từ nấm Sò vua) từ sinh khối lên men lỏng để sản xuất thực phẩm chức năng và dược phẩm.
- Mở rộng thử nghiệm nhân giống dịch thể cho các loài nấm ăn và nấm dược liệu có giá trị kinh tế khác.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Khoa học cây trồng, Công nghệ sinh học, Vi sinh vật học và Nông nghiệp ứng dụng.
- Giảng viên đại học sử dụng làm tài liệu giảng dạy về công nghệ vi sinh, sinh học nấm lớn và công nghệ lên men chìm.
- Các trung tâm nghiên cứu, doanh nghiệp sản xuất giống và nuôi trồng nấm ăn, nấm dược liệu quy mô công nghiệp để tiếp nhận chuyển giao công nghệ lên men dịch thể.
- Cơ quan quản lý nông nghiệp và cán bộ khuyến nông tham khảo xây dựng chính sách phát triển nấm thành sản phẩm hàng hóa quốc gia.
Phần có giá trị tham khảo ứng dụng cao nhất là Chương 2 và Chương 3, đặc biệt là các công thức môi trường dinh dưỡng dịch thể, thông số kỹ thuật vận hành nồi lên men (pH, tốc độ lắc, cường độ sục khí) và tỷ lệ phối trộn cơ chất mùn cưa, bông phế loại nuôi trồng quả thể.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao công nghệ nhân giống nấm dạng dịch thể lại ưu việt hơn phương pháp nhân giống thể rắn truyền thống? Công nghệ nhân giống dịch thể nuôi cấy sợi nấm trong môi trường lỏng tầng sâu, cung cấp dinh dưỡng và oxy hòa tan đồng đều. Quy trình này rút ngắn thời gian nuôi cấy một cấp giống từ 10 - 25 ngày (thể rắn) xuống chỉ còn 3 - 5 ngày (72 - 96 giờ), giảm thiểu nguy cơ nhiễm tạp nhờ hệ thống lên men khép kín, tạo sinh khối khuẩn lạc cầu đồng đều và cho phép cơ giới hóa việc cấy giống vào cơ chất nuôi trồng.
2. Nấm Sò vua và nấm Vân chi đòi hỏi điều kiện nhiệt độ như thế nào cho từng giai đoạn phát triển? Đối với nấm Sò vua (Pleurotus eryngii), hệ sợi sinh trưởng tối ưu ở nhiệt độ 22°C - 26°C; giai đoạn kích thích hình thành mầm quả thể đòi hỏi nhiệt độ lạnh từ 10°C - 15°C, sau đó duy trì ở 13°C - 18°C để quả thể phát triển. Đối với nấm Vân chi (Trametes versicolor), hệ sợi sinh trưởng tốt nhất ở 29°C - 30°C, còn giai đoạn ra quả thể thích hợp trong khoảng nhiệt độ 20°C - 25°C.
3. Luận án đã sử dụng kỹ thuật sinh học phân tử nào để phân biệt các chủng nấm? Luận án sử dụng kỹ thuật RAPD-PCR (Random Amplified Polymorphism DNA) kết hợp với các đoạn mồi ngẫu nhiên 10 nucleotide (như OPN2, OPN10, S202 đối với nấm Sò vua và OPA04, OPN09, OPN14, OPO13 đối với nấm Vân chi) để nhân bản các đoạn DNA, điện di trên gel agarose và phân tích hệ số tương đồng di truyền nhằm phân loại chính xác các chủng nghiên cứu.
4. Cơ chất phối trộn nào cho hiệu quả nuôi trồng nấm Sò vua cao nhất trong nghiên cứu? Công thức phối trộn cơ chất cho kết quả sinh trưởng và năng suất quả thể nấm Sò vua tốt nhất là: 43% mùn cưa + 43% bông phế loại + 7% cám gạo + 6% bột ngô + 1% CaCO3. Bịch cơ chất sau khi hấp khử trùng được cấy giống dịch thể giúp hệ sợi phát triển nhanh và rút ngắn thời gian thu hoạch.
5. Hoạt chất sinh học chính có giá trị dược liệu trong nấm Vân chi được đề cập là gì? Nấm Vân chi chứa hai hợp chất polysaccharide liên kết protein chủ yếu là PSP (polysaccharide peptide) và PSK (polysaccharide krestin). Các hoạt chất này có tác dụng ức chế tế bào ung thư (như ung thư biểu mô, ung thư máu, dạ dày, đại tràng, vú, phổi), tăng cường miễn dịch và trung hòa các gốc tự do.
Kết luận
Luận án tiến sĩ nông nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Bích Thùy đã giải quyết trọn vẹn cả hai mục tiêu nghiên cứu về cơ sở sinh học và công nghệ nhân giống, nuôi trồng nấm Sò vua (Pleurotus eryngii) và nấm Vân chi (Trametes versicolor) tại Việt Nam. Công trình đã xác lập các dẫn liệu khoa học về đặc điểm cấu trúc siêu vi, sai khác di truyền bằng chỉ thị RAPD-PCR, đồng thời làm chủ quy trình công nghệ sản xuất giống nấm dạng dịch thể 3 cấp với thời gian rút ngắn chỉ còn 3 - 5 ngày/cấp. Kết quả thực nghiệm nuôi trồng quả thể khẳng định tính khả thi cao, mở ra hướng ứng dụng hiệu quả công nghệ sinh học lên men dịch thể vào sản xuất nấm quy mô công nghiệp tại Việt Nam.