MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Nấm mộc nhĩ đen đã đƣợc nuôi trồng từ rất lâu, không những là nấm ăn mà nó còn là một loại dƣợc liệu. Từ xa xƣa đến nay nấm mộc nhĩ đen vẫn đƣợc xem là nguồn thực phẩm cao cấp với mùi vị thơm đặc trƣng. Vì vậy nấm mộc nhĩ đen không chỉ là thức ăn ngon mà còn là thực phẩm chức năng tốt cho sức khoẻ con ngƣời.
Cũng nhƣ nhiều loại nấm khác, nấm mộc nhĩ đen có hàm lƣợng chất béo thấp. Thành phần chất béo chủ yếu là axít béo chƣa no, rất thích hợp cho những ngƣời ăn kiêng, chống béo phì. Ngoài những giá trị về dinh dƣỡng, nấm mộc nhĩ đen còn là một loại dƣợc liệu. Những khảo sát dƣợc lý và lâm sàng hiện nay cho thấy nấm mộc nhĩ đen không có độc tính, không có tác dụng phụ dùng dài ngày, không tƣơng kỵ với những dƣợc liệu khác hoặc tân dƣợc trong điều trị và có nhiều công dụng dùng để chữa một số bệnh rất hữu hiệu nhƣ : lỵ, táo bón, giải độc gan, phòng chống tình trạng đông máu do nghẽn mạch, ngăn cản sự hình thành các mảng vữa xơ trong lòng huyết quản.
Ngoài ra, còn có tác dụng chống lão hóa, chống ung thƣ và phóng xạ. Bởi vậy, nấm mộc nhĩ đen thƣờng đƣợc dùng cho những ngƣời bị cao huyết áp, xơ vữa động mạch, thiểu năng tuần hoàn não, thiểu năng động mạch vành và ung thƣ. Nhờ những giá trị dinh dƣỡng và dƣợc học mà ngày nay ở Việt Nam và trên toàn thế giới việc nuôi trồng, tiêu thụ nấm mộc nhĩ tăng mạnh. Các nƣớc sản xuất nấm mộc nhĩ đen chủ yếu là Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam.[7] Việt Nam là một nƣớc nông nghiệp và giàu tiềm năng về lâm nghiệp, do đó nguồn phế thải nông - lâm nghiệp nhƣ bã mía, rơm rạ, mạt cƣa, thân cây ngô,… rất dồi dào, những nguồn phế phẩm này thải ra gây ô nhiễm môi trƣờng rất lớn.
Do đó để góp phần làm giảm thiểu sự ô nhiễm môi trƣờng và nhận thấy nguồn phế phẩm này rất thích hợp cho việc trồng nấm. Nên tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Thử nghiệm trồng nấm mộc nhĩ đen (Auricularia auricula ) trên một số phế phẩm nông nghiệp tại Thành phố Tam Kỳ - tỉnh Quảng Nam ”. Mục tiêu nghiên cứu - Sử dụng các phế phải nông nghiệp nhƣ bã mía và thân cây ngô để nuôi trồng nấm mộc nhĩ đen từ đó giải quyết đƣợc tình trạng ô nhiễm môi trƣờng do các phế phẩm này gây nên. - Xác định một số tỷ lệ phối trộn dinh dƣỡng trên 2 loại nguyên liệu bã mía và thân cây ngô sao cho tối ƣu nhất để sản phẩm nấm thu đƣợc đạt chất lƣợng và năng suất cao.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu - Đối tƣợng nghiên cứu: Phế phẩm bã mía và thân cây ngô. - Phạm vi nghiên cứu: Sử dụng phế phẩm bã mía và thân cây ngô để trồng nấm mộc nhĩ đen tại Thành phố Tam Kỳ - tỉnh Quảng Nam. Phƣơng pháp nghiên cứu - Phƣơng pháp xử lí số liệu. - Phƣơng pháp thực nghiệm làm thí nghiệm tại phòng thí nghiệm sinh học của trƣờng Đại Học Quảng Nam.
- Phƣơng pháp nghiên cứu, tổng hợp tài liệu (sách, báo, internet…) - Phƣơng pháp nghiên cứu thực nghiệm. 2 PHẦN 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Thực trạng sử dụng phế phẩm nông nghiệp ở Việt Nam 1. Phế phẩm nông nghiệp và các vấn đề phát thải sau thu hoạch Hiện nay, phế phẩm nông nghiệp (rơm rạ, thân cây ngô, bã mía…) thƣờng đƣợc sử dụng làm thức ăn gia súc, trồng nấm và tận dụng làm phân bón hữu cơ.[9] - Làm thức ăn cho gia súc: Các phế phẩm nông nghiệp nhƣ rơm rạ, thân cây ngô, bã mía, ngọn sắn,.thƣờng đƣợc dùng thức ăn cho gia súc.
Đặc biệt đƣợc ủ với urê làm nguyên liệu giàu dinh dƣỡng, dữ trữ cho mùa đông thiếu thức ăn xanh. - Tận dụng phế phụ phẩm làm phân bón hữu cơ: Các phế phẩm nông nghiệp nhƣ thân cây ngô, thân cây lạc, rơm rạ đƣợc phối trộn lẫn với một số nguyên liệu khác nhƣ phân chuồng, đạm, chế phẩm vi sinh vật. - Sản xuất điện: Sử dụng phế phẩm nông nghiệp đã và đang đƣợc nghiên cứu. Các phế phẩm nông nghiệp đƣợc nghiên cứu là vỏ trấu, thân cây ngô, bã mía.
Năm 2006, Viện Cơ điện Nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch đã hoàn thiện công nghệ sản xuất điện từ các loại phế phẩm nông nghiệp. Viện đã xây dựng đƣợc 7 lò sấy và phát điện ở tỉnh Long An, Kiên Giang, TP Hồ Chí Minh, Gia Lai,… Theo nghiên cứu của Ấn Độ, việc đốt rơm rạ hay tàn dƣ cây trồng trong vùng đồng bằng sông Hằng thải ra khoảng 0,14 triệu tấn khí metan (CH)4. Số lƣợng này tƣơng đƣơng 20% của tổng khí CH4 thoát ra từ cánh đồng lúa nƣớc trong cùng một vùng. Khí CO2 sinh ra do việc dung dầu diesel để chạy máy nông nghiệp và do quá trình đốt cháy tàn dƣ cây trồng.
Cây ngô và phụ phẩm từ thân cây ngô Theo số liệu thống kê của Tổng cục thống kê Việt Nam, diện tích ngô trồng từ năm 2000 đến năm 2008 đƣợc thể hiện ở bảng 1.1: Diện tích gieo trồng ngô từ năm 2000 đến năm 2008 Năm Diện tích gieo trồng ( nghìn ha) Cả nƣớc Đồng Trung Bắc Tây Đông Đồng bằng du và trung bộ nguyên nam bộ bằng sông miền và duyên sông hồng núi phía hải miền cửa bắc trung long 2000 730,2 97,8 282,5 144,1 86,6 100,0 19,0 2004 99,1 89,8 384,4 211,4 209,2 99,8 32,5 2005 1052,6 88,3 371,5 225,6 236,6 95,7 34,9 2006 1033,1 85,3 369,6 224,4 227,6 92,5 33,7 2007 1096,1 91,0 426,3 213,9 235,6 92,6 36,7 2008 1125,9 98,4 440,5 219,7 236,9 89,5 40,9 Nếu ƣớc tính lƣợng phụ phẩm của cây ngô để lại trên đồng ruộng vào khoảng 50- 60 tấn/ha thì tổng lƣợng phụ phẩm của cây ngô hằng năm sẽ là 50-60 triệu tấn thân lá cây ngô. Đây là một lƣợng phụ phẩm rất lớn, nguyên liệu dồi dào cho nuôi trồng nấm. Phụ phẩm từ thân cây ngô bao gồm: thân, lá, bẹ và lõi ngô.[13] - Thân và lá cây ngô: Vào mùa thu hoạch ngƣời dân thƣờng bẻ trái ngô riêng, còn thân và lá hầu hết đƣợc chặt và phơi ngay tại ruộng (khoảng 90%) cho đến khi khô. Tùy theo từng vùng mà thân cây ngô có thể bị thải tại ruộng hoặc đƣợc vận chuyển về nhà sử dụng cho các mục đích khác nhau nhƣ làm thức ăn cho gia súc, làm chất đốt cho đun nấu gia đình.
4 - Lõi và bẹ ngô: Trái ngô sau khi thu hoạch về lá bẹ đƣợc bóc ra. Khi còn tƣơi bẹ dùng một phần làm thức ăn cho gia súc còn phần lớn đƣợc phơi khô để đun nấu. Trái ngô sau khi tách hạt còn lại lõi ngô, lõi ngô đƣợc phơi khô dùng để đun nấu hoặc vứt bỏ. Cây mía và phụ phẩm từ cây mía - Trong số những loại cây công nghiệp ngắn ngày phải kể đến cây mía.
Diện tích trồng mía năm 2010 đạt 300.000 ha, sản lƣợng đạt gần 564. Bã mía chiếm 29% khối lƣợng cây mía, điều này có nghĩa là một năm cả nƣớc sẽ thải ra 163. Khối lƣợng lớn nhƣ thế thì khó có thể giải quyết sớm đƣợc. Nên tình hình ô nhiễm môi trƣờng do bã mía ở nƣớc ta ngày càng diễn ra phổ biến hơn và mức độ nghiêm trọng hơn.
Khu vực thƣờng xuyên bị ô nhiễm là xung quanh khu vực nhà máy đƣờng. Công suất của các nhà máy mía đƣờng hiện nay từ vài chục tấn cho tới vài trăm tấn thì lƣợng bã mía thải ra cũng tƣơng đƣơng. Diện tích các nhà máy đa số đều không dành chỗ cho khu vực chứa bã mía hoặc có chăng là với một diện tích khá khiêm tốn. Các chủ nhà máy thƣờng xuyên lén đem bã mía bỏ ngoài sông, kênh rạch, hoặc thuê các ghe đem đỗ ở ngoài sông lớn.[10] - Hiện trạng sử dụng phế phẫm bã mía + Sử dụng bã mía làm nhiên liệu đốt lò hơi: Hiện nay nhiều nhà máy đƣờng ở nƣớc ta đã dùng bã mía để đốt lò hơi, tuy nhiên trên thực tế cũng nhƣ theo tính toán thì với nhà máy sử dụng bã mía để đốt chỉ dùng hết 80% lƣợng bã mía là đáp ứng đƣợc toàn bộ lƣợng hơi để sản xuất trong nhà máy.
+ Sử dụng bã mía làm thức ăn gia súc: Hàm lƣợng xơ trong bã mía là khá lớn, bã mía đƣợc xử lý thô thì năng lƣợng gia súc tiêu hóa bã mía lớn hơn năng lƣợng mà chúng nhận đƣợc từ bã mía chƣa đƣợc xử lý, cũng theo Issay Isaias, 1990 thì đối với con non khả năng tiêu hóa chất thô thƣờng 25% và 50% đối với con trƣởng thành. Tuy nhiên ngày nay với công nghệ phát triển, ngƣời ta đƣa bã mía vào ủ và xử lý hóa học nhằm phân hủy 1 phần chất xơ, tăng vị ngon đồng thời vẫn giữ đƣợc giá trị dinh dƣỡng. [5] 5 + Sử dụng bã mía để sản xuất tấm lợp, ván ép: Bã mía có chứa nhiều xenllulozo nên đƣợc dùng ứng dụng để làm ván ép, sản xuất giấy, trong công nghệ sản xuất chất dẻo, viên nén bã mía có thể dùng để làm đệm lót chuồng trại, ủ lên men làm phân bón, trồng nấm. Khái quát chung về nấm mộc nhĩ đen 1.
Giới thiệu về nấm mộc nhĩ đen [12] - Tên khoa học: Auricularia.spp - Tên tiếng Anh: Yew’s Ear, Wood Ear, Ear Fungus. - Tên khác: nấm tai mèo - Mộc nhĩ là tên chung để chỉ các loại nấm có ăn thuộc: Giới: Fungi Ngành Nấm thật: Eumycota Ngành phụ: Basidiomycotina Lớp: Hymenomycetes Lớp phụ: Auriculariomycetidae Bộ: Auriculariales Họ : Auriculariaceae Chi: Auricularia Theo Lowry (1951) có tất cả 10 loài nấm mộc nhĩ. Tùy loài, có loài cần nhiệt độ nóng. Thí dụ: ba loài A.
emini, chỉ mọc ở vùng nhiệt đới (tropics), ba loài khác, A. polytricha có thể mọc đƣợc ở hai vùng nhiệt độ: nhiệt đới và cận nhiệt đới (subtropics), nhƣng A. polytricha có nhiệt độ thấp tối thích là 27 0C và A. mesenterica, ngoài nhiệt độ thấp (topt = 25C), còn cần ẩm độ cao.
fuscosuccinea có khả năng thích nghi một cách linh động đối với nhiệt độ, tuy nhiên, A. fuscosuccinea lại thích hợp với nhiệt độ cao (32 0C). auricula lại thích hợp với nhiệt độ ôn hoà, chỉ nuôi trồng đƣợc ở vùng cận nhiệt đới. Đặc điểm hình thái và chu trình sống của nấm mộc nhĩ đen 1.
Đặc điểm hình thái Cắt ngang một phiến nấm mộc nhĩ đen và quan sát dƣới kính hiển vi thấy có cấu trúc nhƣ sau:[12, 16] - Lớp lông mềm (zona ptlosa): dày không quá 85 – 100. - Lớp sợi dày (zona compacta): dày 65 – 75 .