CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số lý luận chung về bán hàng và xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp Công ty TNHH Minh Hưng Lợi là một doanh nghiệp có quy mô vừa, hiện tại công ty đang áp dụng chế độ kế toán theo Thông tư 133/2016/TT-BTC, vì vậy trong phần cơ sở lý luận này tôi sử dụng chủ yếu Thông tư này làm căn cứ để nghiên cứu đề tài.1 Những vấn đề chung về bán hàng trong doanh nghiệp 1.1 Khái niệm Hàng hóa là sản phẩm kinh tế hữu hình (máy giặt, bột giặt, công cụ, máy móc.) trực tiếp hay gián tiếp góp phần vào việc thỏa mãn nhu cầu của con người.” (Theo Nguyễn Văn Ngọc (2006), Từ điển Kinh tế học, Đại học Kinh tế Quốc dân) Bán hàng là khâu cuối cùng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thương mại, là quá trình người bán giao quyền sở hữu hàng hóa cho người mua để nhận quyền sở hữu về tiền tệ hoặc quyền đòi tiền ở người mua. Đặc điểm Hoạt động bán hàng có những đặc điểm sau: - Việc mua bán diễn ra giữa hai hoặc nhiều bên. - Bán hàng bao gồm người bán và người mua.
- Hàng hóa và dịch vụ được trao đổi lấy tài sản và tiền. - Việc bán hàng được xem là một thỏa thuận trên thị trường tài chính và có sự đồng ý giữa người bán và người mua. - Tại đây, bảo đảm được giao cho người mua theo khoản bồi thường đã thỏa thuận. - Việc mua bán liên quan đến việc chuyển giao tài sản từ bên này sang bên khác.
- Hoạt động bán hàng đòi hỏi người bán phải chủ động tìm kiếm khách hàng, giới thiệu sản phẩm hoặc dịch vụ, thuyết phục khách hàng mua hàng. 6 - Hoạt động bán hàng diễn ra trong môi trường cạnh tranh, đòi hỏi người bán phải có những chiến lược và kỹ năng bán hàng hiệu quả để vượt qua đối thủ của mình trên thị trường. Phân loại Việc bán hàng được thực hiện bởi nhiều phương thức khác nhau, theo đó các sản phẩm được vận động từ tay các DN đến tận tay người tiêu dùng. Việc lựa chọn và áp dụng linh hoạt các phương thức tiêu thụ đã góp phần không nhỏ vào việc thực hiện kế hoạch tiêu thụ của DN.
Hiện nay, một số phương thức bán hàng chủ yếu được các DN sản xuất thường áp dụng: a) Các phương thức bán hàng chủ yếu - Phương thức bán hàng trực tiếp: Theo phương thức này, khi mua hàng, bên mua cử cán bộ nghiệp vụ đến nhận hàng tại kho hoặc tại các phân xưởng SX của DN. Sau khi mua hàng xong, bên mua sẽ ký vào chứng từ bán hàng thì hàng được xác định là đã tiêu thụ. Lúc ấy, mọi tổn thất trong việc vận chuyển hàng về do người mua chịu. - Phương thức chuyển hàng chờ chấp nhận: Theo phương thức này, DN chuyển hàng đến cho người mua theo địa điểm ghi trên hợp đồng kinh tế đã ký kết (chứng từ mua hàng), lúc đó số hàng đó được xem là đã tiêu thụ.
Nhưng mọi tổn thất trong quá trình vận chuyển hàng đến cho người mua đều do DN chịu. Song phương thức này thường được áp dụng đối với những khách hàng có quan hệ mua bán thường xuyên với DN. - Phương thức bán hàng qua đại lý, ký gởi: Nội dung của phương thức này nói rằng, DN sẽ chuyển hàng hóa đến hệ thống các đại lý theo các điều khoản đã ký kết trong hợp đồng. Tuy nhiên, số hàng gửi này vẫn thuộc quyền sở hữu của DN cho đến khi chúng được xác định đã tiêu thụ.
Sau khi kết thúc hợp đồng, DN sẽ trả lại cho các đại lý một khoản thù lao về việc bán hàng này – còn gọi là hoa hồng đại lý. Hoa hồng đại lý được tính theo phần trăm trên tổng giá bán. - Phương thức bán hàng trả chậm, trả góp: Với những mặt hàng có giá trị tương đối cao, để những người có thu nhập trung bình có thể tiêu thụ được, các DN sẽ tiến hành bán hàng theo phương thức trả chậm, trả góp. Theo phương thức này, khi giao hàng cho người mua thì được xác định là đã tiêu thụ.
Người mua sẽ thanh toán ngay lần đầu tại thời điểm mua một phần số tiền phải trả, phần còn lại sẽ trả dần trong 7 nhiều kỳ, tuy nhiên họ phải chịu một phần số tiền lãi nhất định gọi là lãi trả chậm, trả góp. Thông thường số tiền phải trả ở mỗi kỳ bằng nhau bao gồm một phần doanh thu gốc và một phần lãi trả chậm. b) Các phương thức bán hàng khác + Hàng đổi trả: là phương thức tiêu thụ mà người bán đổi SP, hàng hóa của mình để đổi lấy vật tư, hàng hóa của người mua. Giá trao đổi là giá thỏa thuận hoặc giá bán của hàng hóa, vật tư đó trên thị trường.
Khi mang hàng hóa đi trao đổi với khách hàng, DN phải lập đầy đủ chứng từ giống như các phương thức tiêu thụ khác. + Tiêu thụ nội bộ: Việc mua, bán sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ giữa đơn vị chính với các đơn vị trực thuộc hay giữa các đơn vị với nhau trong cùng một Công ty, Tổng công ty, Tập đoàn, Liên hiệp xí nghiệp. Biếu tặng và sử dụng nội bộ: là trường hợp DN dùng SP, hàng hóa của mình để để biếu tặng hoặc điều chỉnh giữa các chi nhánh đơn vị hạch toán về cơ sở kinh doanh. Trả lương: là hình thức DN trả lương cho người lao động, cán bộ công nhân viên của DN bằng SP, hàng hóa mà DN sản xuất kinh doanh.
Khen thưởng bằng sản phẩm, hàng hóa: là hình thức DN dùng sản phẩm, hàng hóa của chính DN để khen thưởng cho cán bộ công nhân viên, người lao động trong DN.2 Những vấn đề chung về xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp 1. Khái niệm Theo điều 68 Thông tư 133/2016/TT- BTC: “Kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm: Kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh, kết quả hoạt động tài chính và kết quả hoạt động khác”. Phương pháp xác định kết quả kinh doanh Kết quả kinh doanh được biểu hiện qua chỉ tiêu lợi nhuận thuần của hoạt động kinh doanh. Được xác định bằng công thức: 8 Kết quả hoạt Kết quả hoạt Kết quả hoạt Kết quả kinh doanh = động sản xuất, + + động tài chính động khác.
kinh doanh Kết quả hoạt động Doanh thu thuần Chi phí quản = - Giá vốn hàng bán - sản xuất kinh doanh về bán hàng lý kinh doanh Các khoản giảm trừ doanh thu Doanh thu thuần về Doanh thu về bán = - (chiết khấu thương mại, hàng bán bán hàng và CCDV hàng và CCDV bị trả lại, giảm giá hàng bán) Kết quả hoạt động Doanh thu thuần = - Chi phí hoạt động tài chính tài chính hoạt động tài chính Kết quả hoạt động khác = Thu nhập khác - Chi phí khác 1. Lý luận về kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp 1.1 Vai trò, ý nghĩa, nhiệm vụ của kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp 1. Vai trò Trong giai đoạn nền kinh tế khó khăn cạnh tranh như hiện nay, mỗi doanh nghiệp cần phải kết nối với khách hàng cập nhật xu thế thường xuyên để nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ của mình. Và yếu tố bán hàng là yếu tố quan trọng, nó quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Đây không chỉ là phương tiện để mang sản phẩm đến tay người tiêu dùng, mà còn là công cụ để doanh nghiệp hiểu rõ được nhu cầu của khách hàng và đáp ứng để xây dựng uy tín trước khách hàng. Kết quả hoạt động bán hàng còn là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh kết quả tài chính cuối cùng của hoạt động kinh doanh có trong doanh nghiệp. Qua đó có thể đánh giá được tình hình tài chính của doanh nghiệp. Đồng thời, kết quả kinh doanh giúp cho doanh nghiệp nắm bắt được mọi hoạt động của doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu phản ánh KQKD.
Từ đó, qua quan sát và phân 9 tích doanh nghiệp xác định được rõ các nhân tố ảnh hưởng đến sản phẩm doanh nghiệp đang cạnh tranh trên thị trường Mặt khác, việc xác định chính xác kết quả kinh doanh của doanh nghiệp không chỉ hiện hiện sự minh bạch và trung thực trong các hoạt động tài chính, nó còn là tiền đề cho việc gây dựng niềm tin của doanh nghiệp trước nhà nước thông qua việc đóng nộp thuế đầy đủ. Tóm lại, bán hàng và xác định kết quả kinh doanh có mối liên kết chặt chẽ, đều đóng vai trò quan trọng đối với việc phát triển doanh nghiệp nói riêng và ổn định nền kinh tế nói chung. Ý nghĩa Kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh thông qua việc chuyển đổi sản phẩm hoặc dịch vụ thành doanh số bán hàng, công tác bán hàng giúp đảm bảo nguồn thu nhập cho doanh nghiệp. Ngoài ra kế toán bán hàng cung cấp cơ sở dữ liệu để thực hiện dự báo tài chính và phát triển chiến lược kinh doanh.
Việc hiểu rõ về xu hướng bán hàng và chi phí giúp doanh nghiệp xây dựng kế hoạch dài hạn và đưa ra quyết định chiến lược hợp lí. Nhiệm vụ Để đáp ứng được yêu cầu của công tác bán hàng và xác định kết quả kinh doanh kế toán có những nhiệm vụ chủ yếu sau: - Theo dõi và ghi chép đầy đủ, kịp thời thông tin về giao dịch bán hàng như: hóa đơn, các khoản chi phí có liên quan, các khoản thuế có liên quan phải nộp theo quy định, các khoản giảm trừ doanh thu. - Hỗ trợ tư vấn khách hàng, tiến hành tiếp nhận và tổng hợp thông tin nhanh chóng để phản ánh cho doanh nghiệp. - Xác định chính xác tổng doanh thu tiêu thụ hàng bán cũng như doanh thu từng loại hàng bán theo yêu cầu của công tác quản lý.
Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch doanh thu và đề xuất các biện pháp hoàn thiện phương hướng sản xuất, tăng doanh số bán. - Xác định kết quả tiêu thụ chung của toàn bộ sản phẩm, cũng như riêng từng mặt hàng theo yêu cầu của công tác quản lý, từ đó đánh giá được tình hình, đem ra ý 10 kiến đề xuất phù hợp với tình hình nhằm tạo ra doanh số, gia tăng lợi nhuận, nâng cao tài chính cho doanh nghiệp. Nội dung công tác kế toán bán hàng trong doanh nghiệp 1. Kế toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trong doanh nghiệp a.