Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Hoạt động tạo hình là một trong những hoạt động giáo dục thẩm mỹ giữ vị trí quan trọng trong chương trình chăm sóc, giáo dục trẻ tại các cơ sở giáo dục mầm non. Hoạt động này tác động đồng bộ lên sự phát triển nhân cách của trẻ mẫu giáo về các mặt đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và thể chất; đồng thời rèn luyện sự khéo léo của đôi bàn tay, khả năng phối hợp giữa mắt và tay, cũng như hình thành những mầm mống đầu tiên của tư duy sáng tạo. Đối với trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi, sự phát triển tâm sinh lý tạo điều kiện thuận lợi để trẻ cảm nhận cái đẹp từ thế giới xung quanh và bộc lộ cảm xúc thông qua ngôn ngữ tạo hình. Trong đó, vẽ tranh theo đề tài lễ hội là phương thức giúp trẻ tiếp cận các giá trị văn hóa truyền thống, phong tục tập quán và di sản lịch sử của quê hương, đất nước.

Tuy nhiên, qua khảo sát thực tế tại huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa, tác giả Bùi Thùy Hương nhận thấy việc tổ chức hoạt động vẽ tranh theo đề tài lễ hội cho trẻ mẫu giáo lớn còn tồn tại nhiều bất cập: nội dung giáo dục còn nghèo nàn, mang tính khuôn mẫu, chưa gắn liền với thực tiễn đời sống của trẻ; giáo viên mầm non còn hạn chế về vốn hiểu biết văn hóa - xã hội cũng như năng khiếu mỹ thuật; phương pháp hướng dẫn còn rập khuôn, chủ yếu cho trẻ sao chép mô phỏng mà chưa khai thác tối đa tính độc lập, sáng tạo của trẻ trong quá trình tạo ra sản phẩm. Xuất phát từ thực trạng trên, đề tài "Thực trạng của việc vẽ tranh theo đề tài lễ hội cho trẻ 5 - 6 tuổi ở một số trường mầm non huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa" đã được lựa chọn nghiên cứu.

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là tìm hiểu thực trạng tổ chức và kết quả hoạt động vẽ tranh theo đề tài lễ hội cho trẻ 5 - 6 tuổi tại các trường mầm non trên địa bàn huyện Thọ Xuân, từ đó làm căn cứ đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tạo hình.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể gồm 3 nhiệm vụ:

  1. Hình thành ở trẻ tính tích cực sáng tạo, tập cho trẻ biết miêu tả, biểu cảm theo ý đồ sáng kiến của bản thân, biết cách giải quyết vấn đề tạo hình một cách độc lập trong sự hợp tác.
  2. Giúp trẻ lĩnh hội những kiến thức sơ đẳng, có điều kiện biểu lộ thái độ, xúc cảm, tình cảm của mình đối với những gì thể hiện qua quá trình vẽ tranh.
  3. Hình thành ở trẻ khả năng nhận thức thẩm mĩ, hình thành thái độ thẩm mĩ trước vẻ đẹp của thế giới xung quanh.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là giáo viên mầm non và tranh vẽ đề tài lễ hội của trẻ 5 - 6 tuổi. Phạm vi nghiên cứu được giới hạn tại 03 trường mầm non thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa, gồm: Trường Mầm non Thị trấn Sao Vàng, Trường Mầm non Xuân Hưng và Trường Mầm non Xuân Trường.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở pháp lý của đề tài dựa trên Điều lệ trường mầm non được ban hành kèm theo Quyết định số 14/2008/QĐ-BGD&ĐT ngày 07/04/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Về mặt lý luận, khóa luận xác lập các khái niệm chuyên ngành:

  • Tổ chức hoạt động: Là quá trình sắp xếp và bố trí việc thực hiện các kế hoạch giáo dục một cách khoa học, hợp lý nhằm đạt hiệu quả sư phạm.
  • Hoạt động vẽ: Hoạt động nhận thức đặc biệt mang tính sáng tạo, phản ánh hiện thực khách quan bằng các hình tượng nghệ thuật, cải tạo hiện thực theo quy luật của cái đẹp, gửi gắm tình cảm và tâm hồn của người vẽ.
  • Vẽ tranh theo đề tài: Thể loại tạo hình có sự phối hợp giữa đường nét, hình mảng, đậm nhạt, màu sắc và cảm xúc của người vẽ để tái tạo cảnh sinh hoạt hay các sự kiện trong cuộc sống; là hoạt động mang tính tự do, ít phụ thuộc vào vật mẫu, đòi hỏi trẻ phải tái hiện các biểu tượng từ trí nhớ và kết hợp liên tưởng, tưởng tượng.
  • Tranh vẽ đề tài lễ hội: Hình thức tái hiện và diễn đạt phong tục, lễ hội địa phương (Lễ hội Lam Kinh, Lễ hội Lê Hoàn, Trò Xuân Phả, Tết cổ truyền...) nhằm giới thiệu nét văn hóa truyền thống của quê hương và bồi dưỡng tình cảm cội nguồn cho trẻ.

Tác giả xác định ý nghĩa của vẽ tranh đề tài lễ hội đối với trẻ 5 - 6 tuổi trên 5 lĩnh vực phát triển: giáo dục thẩm mỹ (phát triển tri giác hình dáng, màu sắc, bố cục); giáo dục trí tuệ và nhận thức (mở rộng hiểu biết thế giới quan, rèn luyện tư duy trực quan hình tượng và ngôn ngữ); giáo dục tình cảm - đạo đức - kỹ năng giao tiếp xã hội (hình thành tình yêu quê hương, khả năng hợp tác); giáo dục thể chất (rèn luyện sự khéo léo của cơ bàn tay, ngón tay để chuẩn bị học viết); và giáo dục lao động (ý thức giữ gìn đồ dùng, thu dọn sản phẩm).

Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả sử dụng gồm hai nhóm:

  • Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích - tổng hợp tài liệu chuyên ngành để xây dựng cơ sở lý luận; Phân loại và hệ thống hóa tri thức khoa học thành hệ thống logic phục vụ đề tài.
  • Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp điều tra (sử dụng hệ thống câu hỏi khảo sát và quan sát sư phạm hoạt động tạo hình của giáo viên và trẻ); Phương pháp thống kê phân loại (phân tích, xử lý số liệu điều tra thực trạng); Phương pháp thực nghiệm sư phạm (tổ chức các bài dạy vẽ đề tài lễ hội trên trẻ 5 - 6 tuổi và kiểm tra kết quả sản phẩm).

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu gồm: tài liệu thống kê kinh tế - xã hội và số liệu giáo dục mầm non của huyện Thọ Xuân; báo cáo đội ngũ và cơ sở vật chất của 3 trường mầm non khảo sát; hệ thống kế hoạch giảng dạy lồng ghép và 09 bài vẽ thực tế của trẻ mẫu giáo lớn tại 3 trường.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở khoa học

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở pháp lý, cơ sở lý luận về giáo dục tạo hình và làm rõ cơ sở thực tiễn tại địa bàn nghiên cứu.

Huyện Thọ Xuân nằm ở phía tây tỉnh Thanh Hóa, diện tích tự nhiên 295,885 km², quy mô dân số năm 2015 là 218.464 người với 38 xã và 03 thị trấn (Thọ Xuân, Lam Sơn, Sao Vàng). Kinh tế huyện thuần nông, sản xuất lúa và mía đường (gắn với Nhà máy mía đường Lam Sơn); tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 11,1%/năm; thu nhập bình quân đầu người dưới 371,5 USD/năm; bình quân lương thực đạt 495 kg/người/năm. Thọ Xuân có truyền thống văn hóa - lịch sử phong phú với các di tích quốc gia như Khu di tích Lam Kinh, Đền thờ Lê Hoàn, cùng di sản nghệ thuật Trò Xuân Phả. Hệ thống giao thông gồm Quốc lộ 15, Quốc lộ 47, sông Chu và Cảng hàng không Thọ Xuân (đưa vào khai thác từ năm 2013).

Về mạng lưới giáo dục mầm non, toàn huyện có 43 trường mầm non (41 trường xã/thị trấn và 02 trường trực thuộc doanh nghiệp mía đường và giấy Lam Sơn), 408 lớp, 383 phòng học (34 phòng kiên cố, 349 phòng cấp bốn ngói, 33 phòng tạm). Đội ngũ giáo viên toàn huyện gồm 787 người (179 biên chế, 458 hợp đồng tỉnh, 150 hợp đồng cấp huyện/xã); cán bộ quản lý gồm 116 người (111 biên chế, 5 hợp đồng; 111 trình độ đại học); giáo viên đứng lớp gồm 643 người (111 đại học, 416 cao đẳng, 227 trung cấp). Tổng số trẻ mầm non toàn huyện theo số liệu tháng 04/2011 là 14.633 trẻ, tỷ lệ ra lớp đạt 64,7% (9.475 trẻ); trong đó trẻ 5 - 6 tuổi ra lớp đạt tỷ lệ 100% (2.561/2.561 trẻ).

Đặc điểm cụ thể tại 03 trường khảo sát được tác giả thống kê như sau:

Tiêu chí Trường MN Thị trấn Sao Vàng Trường MN Xuân Hưng Trường MN Xuân Trường
Năm thành lập 1974 1978 (chuẩn quốc gia 12/2017) 1975
Tổng số CBGVNV 28 người (3 BGH, 19 GV, 6 NV) 24 người (16 GV đứng lớp) 26 người
Cơ cấu hợp đồng 21 biên chế, 7 hợp đồng xã 10 biên chế, 6 HĐ huyện, 8 HĐ xã Đang chuẩn hóa đội ngũ
Trình độ chuyên môn 100% ĐH - CĐ; CBQL trên chuẩn 3/3; GV trên chuẩn 17/19 100% đạt chuẩn; trên chuẩn: CBQL 3/3, GV 15/24 (62,5%); GV lớp 5 tuổi trên chuẩn 4/4 (100%) ĐH: 20 cô, CĐ: 2 cô, Trung cấp: 4 cô
Quy mô học sinh 303 trẻ / 10 lớp (lớp lớn: 67 trẻ / 2 lớp) 247 trẻ / 9 lớp (lớp lớn: 89 trẻ / 3 lớp) 230 trẻ / 9 lớp (lớp lớn: 57 trẻ / 2 lớp)
Tỷ lệ ăn bán trú 100% 94% (232/247 trẻ) 65% (năm học 2015 - 2016)
Cơ sở vật chất Phòng học rộng, có sân vườn, gần trung đoàn 923 9/9 phòng (6 kiên cố = 67%, 3 phòng tạm = 33%); 2/2 lớp 5 tuổi đủ thiết bị tối thiểu Có khuôn viên mở rộng, phòng học thoáng mát, sân vận động

Chương 2: Thực trạng của việc vẽ tranh theo đề tài lễ hội cho trẻ 5 - 6 tuổi ở một số trường mầm non huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa

Chương 2 phản ánh chi tiết thực trạng nhận thức của giáo viên, điều kiện vật chất và chất lượng tranh vẽ của trẻ 5 - 6 tuổi tại 3 trường khảo sát.

Thực trạng nhận thức và chuyên môn của giáo viên:

  • Ưu điểm: Đội ngũ giáo viên nhiệt tình, nắm vững phương pháp dạy học mầm non, biết ứng dụng các biện pháp gây hứng thú, triển khai chuyên đề trọng tâm "Xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm" (giai đoạn 2016 - 2020), lồng ghép các hoạt động văn hóa truyền thống vào giờ học.
  • Hạn chế: Một số giáo viên xem hoạt động tạo hình theo đề tài thực tế là hoạt động phụ; thiếu kiến thức chuyên sâu về nguồn gốc lễ hội; kỹ năng thị phạm mỹ thuật còn yếu; giờ dạy còn chủ quan, nặng về truyền đạt lý thuyết hoặc cho trẻ quan sát tranh mẫu có sẵn mà không tổ chức quan sát trực tiếp ngoài không gian thực tế; chưa tạo được môi trường mở kích thích tư duy thẩm mỹ.

Thực trạng cơ sở vật chất và học liệu: Cơ sở vật chất ở cả 3 trường còn thiếu thốn: phương tiện nghe nhìn trực quan (máy chiếu, băng hình, video) chưa đáp ứng đồng bộ; học liệu phục vụ môn vẽ còn nghèo nàn, chủ yếu là bút sáp và giấy vẽ thông thường, thiếu các loại giấy màu và tranh ảnh nghệ thuật đa dạng; diện tích phòng học tại một số điểm trường (như MN Xuân Trường) còn chật chội, hạn chế không gian hoạt động góc và trưng bày sản phẩm.

Khảo sát việc lồng ghép đề tài lễ hội qua các chủ đề: Tác giả đã lập kế hoạch giảng dạy tích hợp và phân tích 09 bài vẽ tiêu biểu của trẻ 5 - 6 tuổi qua 3 chủ đề:

Chủ đề lồng ghép Trường khảo sát Tên bài vẽ & Trẻ thực hiện Nhận xét ưu điểm từ văn bản Nhận xét nhược điểm từ văn bản
Trường mầm non MN TT Sao Vàng (Bảng 1A) "Vẽ, tô màu chân dung cô giáo" - Phan Kim Ngọc (Lớp A2) Biết tô tóc màu đen, biết tạo nét mặt, trang phục; phối màu sinh động. Nét vẽ thô và cứng; bố cục chưa cân đối; hình vẽ và màu tô chưa kín.
MN Xuân Hưng (Bảng 2A) "Tô màu trường mầm non" - Lê Văn Dương (Lớp A1) Biết phối hợp nhiều màu sắc tô các bộ phận của trường học. Kỹ thuật tô đơn giản; tô chưa kín hình, bị lem ra ngoài, còn bỏ trống khoảng bài.
MN Xuân Trường (Bảng 3A) "Vẽ hoa lá trang trí" - Lê Văn Bình (Lớp A1) Vẽ được hoa cánh dài, cánh tròn, nhụy, thân, lá; màu tươi sáng; bố cục hợp lý. Nét vẽ chưa mượt, chưa mềm mại, còn thô; trang trí chưa thật đẹp mắt.
Tết và mùa xuân MN TT Sao Vàng (Bảng 1B) "Vẽ, tô màu các loại quả trung thu" - Phan Thị Yến Nhi (Lớp A1) Dùng màu sáp nguyên chất; hình dung được các loại quả bằng nét tròn, thẳng, xiên. Bố cục đơn giản; màu tô lem; nét vẽ thô cứng, nét quả bị mờ do cơ tay yếu.
MN Xuân Hưng (Bảng 2B) "Vẽ, tô màu cây cối, hoa lá" - Đỗ Minh Đạt (Lớp A3) Vẽ nét đứt làm tia nắng; thể hiện trí tưởng tượng; tô màu sáp đúng đặc điểm sự vật. Họa tiết đơn giản; bố cục tranh chưa có nhịp điệu, sắp xếp chưa cân đối.
MN Xuân Trường (Bảng 3B) "Vẽ bánh trưng, bánh giày" - Đỗ Huyền Trang (Lớp A1) Vẽ bánh chưng hình vuông, bánh giầy hình tròn; vẽ được dây lạt; phối màu xanh, vàng, trắng. Nét vẽ chưa đẹp; kỹ thuật tô màu đơn giản, chưa kín hình và bị chườm ra ngoài.
Quê hương - Đất nước - Bác Hồ MN TT Sao Vàng (Bảng 1C) "Vẽ, tô màu tháp rùa" - Hà Diệu Linh (Lớp A2) Phân biệt và dùng màu hợp đặc điểm Tháp Rùa; vẽ thêm mặt trời và tia nắng đỏ. Tô màu chưa kín, bị lem ra ngoài, màu chưa mịn; nét vẽ hình còn thô.
MN Xuân Hưng (Bảng 2C) "Vẽ, tô màu máy bay" - Nguyễn Thị Hoa (Lớp A2) Dùng nét cong, tròn, xiên tạo hình máy bay; phân chia rõ các bộ phận; phối màu hợp lý. Một số bài chưa hoàn thiện; tô màu chưa kín, lem ra ngoài, nét tô chưa đẹp mắt.
MN Xuân Trường (Bảng 3C) "Vẽ lăng Bác Hồ" - Hoàng Gia Huy (Lớp A2) Biết vẽ và tô màu xen kẽ; sáng tạo thêm cây xanh bên lăng, mặt trời đỏ và lá cờ trên lăng. Tô màu chưa kín, màu lem ra ngoài; nét tô chưa đẹp; bố cục tranh còn mang tính đồng đều.

Kết quả thực nghiệm sư phạm: Khi giáo viên chuẩn bị đầy đủ cơ sở vật chất, mô hình, tranh ảnh trực quan và áp dụng biện pháp gợi mở, sản phẩm tạo hình của trẻ có sự chuyển biến rõ nét: trẻ bộc lộ cảm xúc tự nhiên, tác phẩm có hồn hơn; trẻ thao tác chủ động, tự tin sử dụng trí tưởng tượng và vận dụng kinh nghiệm đã tích lũy để tái tạo hình ảnh mà không cần phụ thuộc hoàn toàn vào mẫu thị phạm trực tiếp của cô.


Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của việc vẽ tranh theo đề tài lễ hội của trẻ 5 - 6 tuổi ở một số trường mầm non huyện Thọ Xuân

Dựa trên kết quả khảo sát thực trạng, tác giả xác định các nội dung và yêu cầu sư phạm nhằm nâng cao chất lượng hoạt động vẽ tranh đề tài lễ hội:

  • Xây dựng nội dung thực nghiệm và chuẩn đánh giá: Xây dựng hệ thống bài học tạo hình bám sát đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi 5 - 6 tuổi; xác lập chuẩn và thang đánh giá sản phẩm tạo hình dựa trên mức độ nhận thức, tính sáng tạo và kỹ năng vận động của trẻ, không áp đặt tiêu chuẩn kỹ thuật của người lớn lên tranh vẽ trẻ thơ.
  • Tổ chức hoạt động khoa học: Kết hợp linh hoạt giữa hoạt động có chủ đích trong lớp với các hoạt động ngoài trời, dạo chơi tham quan di tích lịch sử - văn hóa địa phương (khu di tích Lam Kinh, đền Lê Hoàn, hội Trò Xuân Phả); tích hợp thơ ca, âm nhạc, đồng dao và trò chơi dân gian vào giờ vẽ nhằm khơi gợi cảm xúc thẩm mỹ.
  • Yêu cầu đối với trường mầm non và cán bộ quản lý: Nhà trường cần tăng cường đầu tư mua sắm trang thiết bị, bổ sung học liệu tạo hình đa dạng (giấy vẽ nhiều kích cỡ, giấy màu, màu nước, tranh nghệ thuật); trang bị máy chiếu, máy tính kết nối internet phục vụ bài giảng trực quan. Cán bộ quản lý cần tăng cường bồi dưỡng chuyên môn, tổ chức dự giờ, chia sẻ kinh nghiệm giảng dạy và chỉ đạo đưa nội dung văn hóa truyền thống địa phương vào kế hoạch năm học.
  • Yêu cầu đối với giáo viên: Giáo viên phải không ngừng tự bồi dưỡng kiến thức văn hóa và năng khiếu mỹ thuật; đổi mới phương pháp giảng dạy theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm; tránh làm thay hoặc ép buộc trẻ vẽ theo mẫu có sẵn; chú trọng rèn luyện tư thế ngồi, kỹ năng cầm bút, kỹ thuật uốn lượn đường nét và phương pháp tô màu không lem; khuyến khích trẻ tự do trao đổi, nhận xét sản phẩm của mình và của bạn.
  • Yêu cầu đối với trẻ: Trẻ cần được tạo điều kiện tối đa để rèn luyện thói quen quan sát thế giới xung quanh, tích cực tham gia hoạt động, biết phối hợp các kỹ năng vẽ cơ bản để thể hiện ý tưởng độc lập và có ý thức giữ gìn, bảo vệ sản phẩm tạo hình do chính mình làm ra.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã phản ánh toàn diện bức tranh thực tiễn về công tác chăm sóc, giáo dục tạo hình cho trẻ 5 - 6 tuổi tại huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa thông qua hệ thống dữ liệu xác thực:

  • Ghi nhận đầy đủ thực trạng mạng lưới giáo dục mầm non huyện Thọ Xuân với 43 trường, 787 cán bộ giáo viên, tỷ lệ trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi ra lớp đạt tuyệt đối 100% (2.561/2.561 cháu).
  • Phân tích chi tiết điều kiện nhân sự, cơ sở vật chất và chương trình giảng dạy tại 03 trường đại diện (MN Thị trấn Sao Vàng, MN Xuân Hưng, MN Xuân Trường).
  • Đánh giá trực tiếp 09 sản phẩm tranh vẽ thực tế của học sinh qua 3 chủ đề trọng tâm, chỉ ra những hạn chế kỹ thuật điển hình của trẻ 5 - 6 tuổi: cơ tay còn yếu dẫn đến nét vẽ thô mờ, bố cục thiếu nhịp điệu, kỹ thuật tô màu chưa kín hình và hay bị lem ra ngoài.
  • Minh chứng tính khả thi của phương pháp dạy học tích hợp, lấy trẻ làm trung tâm: khi trẻ được cung cấp biểu tượng trực quan phong phú và gợi mở cảm xúc, sản phẩm tạo hình thể hiện rõ trí tưởng tượng độc lập và giảm dần tính chất sao chép thụ động.

Về mặt đóng góp học thuật và thực tiễn, tác giả đã đi sâu vào mảng đề tài vẽ tranh lễ hội truyền thống cho trẻ mầm non - một nội dung chuyên biệt chưa có công trình nghiên cứu độc lập nào trước đó tại địa phương đi sâu khảo sát mà chỉ mới dừng lại ở các bài viết chung tại hội thảo hoặc tạp chí khoa học. Công trình đã gắn kết nội dung giáo dục thẩm mỹ mầm non với việc bảo tồn di sản văn hóa, phong tục tập quán địa phương như Lễ hội Lam Kinh, đền Lê Hoàn, Trò Xuân Phả.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận được thực hiện trong phạm vi điều tra và thực nghiệm sư phạm tại 03 trường mầm non trên địa bàn một huyện, chưa bao quát được toàn bộ các cơ sở giáo dục mầm non thuộc vùng sâu, vùng xa khác của tỉnh Thanh Hóa. Số lượng sản phẩm tranh vẽ được phân tích sâu dừng lại ở 09 bài vẽ tiêu biểu của từng chủ đề.

Hướng mở nghiên cứu tiếp theo được văn bản định hướng là tiếp tục hoàn thiện hệ thống giáo án thực nghiệm, xây dựng tiêu chuẩn thang đo định lượng cụ thể cho từng mức độ đạt được của sản phẩm tạo hình lễ hội, đồng thời mở rộng phạm vi ứng dụng các giải pháp sang các chủ đề văn hóa dân gian khác trong chương trình giáo dục mầm non mới.


Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên ngành Giáo dục Mầm non tham khảo về phương pháp thiết kế nghiên cứu thực trạng sư phạm, kỹ năng xây dựng kế hoạch bài giảng tạo hình lồng ghép và phương pháp quan sát, phân tích tranh vẽ của trẻ em.
  • Giáo viên mầm non đang trực tiếp giảng dạy lớp mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) tham khảo các bảng kế hoạch hoạt động 3 nhánh (hoạt động ngoài trời, hoạt động có chủ đích, hoạt động chiều) theo 3 chủ đề giáo dục thực tế.
  • Cán bộ quản lý chuyên môn tại các trường mầm non trong công tác bồi dưỡng nghiệp vụ cho giáo viên về phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục thẩm mỹ gắn với di sản văn hóa địa phương.

Câu hỏi thường gặp

Khóa luận tiến hành khảo sát thực trạng và thực nghiệm tại những cơ sở giáo dục nào?
Nghiên cứu được tiến hành tại 03 cơ sở giáo dục mầm non thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa: Trường Mầm non Thị trấn Sao Vàng, Trường Mầm non Xuân Hưng và Trường Mầm non Xuân Trường.

Đề tài lễ hội được tác giả khảo sát lồng ghép vào những chủ đề giáo dục mầm non nào?
Đề tài lễ hội được khảo sát lồng ghép vào 03 chủ đề cụ thể: chủ đề "Trường mầm non", chủ đề "Tết và mùa xuân", và chủ đề "Quê hương - Đất nước - Bác Hồ".

Những lỗi kỹ thuật phổ biến nhất trong tranh vẽ của trẻ 5 - 6 tuổi được tác giả ghi nhận là gì?
Qua phân tích các bài vẽ của trẻ, tác giả chỉ ra các hạn chế phổ biến gồm: nét vẽ còn thô cứng, nét mờ do cơ tay của trẻ còn yếu; kỹ thuật tô màu đơn giản, màu tô chưa mịn, chưa kín hình và thường xuyên bị lem ra ngoài; bố cục tranh chưa cân đối và thiếu tính nhịp điệu.

Tỷ lệ huy động trẻ 5 - 6 tuổi đến trường tại huyện Thọ Xuân được tác giả công bố là bao nhiêu?
Theo số liệu thống kê ngành học mầm non huyện Thọ Xuân được tác giả trích dẫn trong khóa luận, số trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi đến trường đạt 2.561/2.561 cháu, đạt tỷ lệ tuyệt đối 100%.

Những di tích và loại hình văn hóa lễ hội nào của huyện Thọ Xuân được tác giả đề cập để tích hợp vào tranh vẽ trẻ em?
Văn bản đề cập đến các di tích lịch sử và loại hình văn hóa đặc sắc của địa phương gồm: Khu di tích lịch sử Lam Kinh, Đền thờ Lê Hoàn, nghệ thuật Trò Xuân Phả (xã Xuân Trường), cùng các phong tục ngày Tết cổ truyền, Tết Trung thu và lễ hội quê hương.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Thùy Hương đã giải quyết trọn vẹn nhiệm vụ khảo sát thực trạng dạy và học vẽ tranh đề tài lễ hội cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi tại 3 trường mầm non trên địa bàn huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa. Tác giả đã tổng hợp hệ thống số liệu cụ thể về cơ sở vật chất, năng lực đội ngũ và phân tích chi tiết sản phẩm tạo hình thực tế của trẻ qua từng chủ đề tích hợp. Các giải pháp sư phạm đề xuất mang tính đồng bộ từ cấp quản lý, giáo viên đến trẻ, hướng tới mục tiêu khắc phục tính rập khuôn, nâng cao chất lượng giáo dục thẩm mỹ và gìn giữ bản sắc văn hóa truyền thống cho trẻ lứa tuổi mầm non.