mở đầu cho giai đoạn bắt đầu có sự quan tâm chăm sóc GD TKT, song cũng chỉ có những ghi chép về việc chăm sóc trẻ khiếm thính và trẻ khiếm thị. * Giai đoạn từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XX Ở thời kỳ này các nhà khoa học, GD đã tìm ra được những người KT không những về mặt thể xác (câm, điếc) như các nghiên cứu trước mà còn tìm ra được KT về tâm thần. Locke (1832 - 1704) đã phân biệt được người điên và người mất trí. Đến thế kỷ XIX, nhà GD Howe đã thành lập và thử nghiệm thành công một trường thí điểm cho người mất trí từ năm 1855 có tên là “Trường Massachusetts cho TKT và chậm phát triển trí tuệ” [12].
* Giai đoạn từ đầu thế Kỷ XX đến nay Đây là thời kỳ phát triển và hưng thịnh của mô hình GD chuyên biệt TKT. Với sự phát triển như vũ bão của các ngành khoa học, đặc biệt là y học, sinh lý học, GD học, tâm lý học.thì quan niệm của xã hội về người KT nói chung có sự thay đổi. Người ta cho rằng KT nói chung cũng như trẻ em KT có khả năng phục hồi các chức năng khiếm khuyết nếu được chữa trị, can thiệp 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kịp thời, họ cũng có nhu cầu sống, nhu cầu tồn tại, có những khả năng nhất định để tham gia vào đời sống xã hội. Nhiều văn bản có tính Quốc tế và Quốc gia về người tàn tật đã được ban hành.
GD TKT đã trở thành một bộ phận trong hệ thống GD quốc dân và hệ thống trường lớp chuyên biệt phát triển mạnh ở nhiều nước như: Nga, Đức, Mỹ, Thụy Điển, Hà Lan, Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha [12]. Đến những năm 70, khái niệm bình thường hóa ra đời. Sau đó, trong suốt một thời gian dài, đã có rất nhiều chương trình ra đời thực hiện GDHN cho TKT. Mỗi một chương trình đều đặt ra những mục tiêu cho GDHN trong đó mục tiêu GD chung nhất là “Giúp người KT sống, học tập và làm việc trong môi trường mà ở đó họ sẽ có cơ hội lớn nhất để càng độc lập được bao nhiêu càng tốt” [20].
Nhìn chung, các nghiên cứu mới tập trung ở việc nghiên cứu các mô hình GDHN cho TKT và cách thức tổ chức, điều kiện thực hiện. mà chưa có những nghiên cứu chuyên sâu vào vấn đề QL việc thực hiện GDHN trong nhà trường phổ thông nói chung, nhà trường MN nói riêng. Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam Giáo dục TKT ở Việt Nam ra đời muộn hơn nhiều so với giáo dục TKT Thế giới. Theo tác giả Nguyễn Xuân Hải trong cuốn “Giáo dục học trẻ khuyết tật” lịch sử nghiên cứu về giáo dục TKT được ghi chép lại như sau: * Giai đoạn trước cách mạng tháng Tám Chủ yếu là GD cho trẻ khiếm thính và trẻ khiếm thị.
- GD cho trẻ khiếm thính: Năm 1896 trường điếc đầu tiên ra đời ở Bình Dương do một linh mục người Pháp tên là Azenmar thành lập [12]. - GD cho trẻ khiếm thị: Trường mù đầu tiên ra đời được đặt tại bệnh viện chợ Rẫy - Sài Gòn do ông Nguyễn Văn Chí, một người mù từ Pháp trở về thành lập năm 1903 đến năm 1945 trường giải thể [12]. * Giai đoạn 1945-1975 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Giai đoạn này vẫn tiếp tục phát triển GD cho trẻ khiếm thính và khiếm thị, mở thêm một số cơ sở GD ra Hà Nội cụ thể: - Dòng thánh Phalo ở nhà thờ Hàng Bột (nay thuộc đường Tôn Đức Thắng). Cũng trong thời gian đó viện Tai - Mũi - Họng Trung ương, Bộ Y tế mở lớp thí điểm dạy trẻ điếc [12].
- GD trẻ khiếm thị ở giai đoạn này được quan tâm hơn: Năm 1952 tiền thân của trường Nguyễn Đình Chiểu thành phố Hồ Chí Minh hiện nay dành cho trẻ mù được thành lập mang tên là trường “Thiếu niên mù’[12]. * Giai đoạn 1975 đến nay Ngày 6/1/1975, Bộ Giáo Dục đã có quyết định thành lập Tổ nghiên cứu GD TKT, sau đó trở thành Ban và Trung tâm nghiên cứu GD TKT thuộc Viện khoa học Giáo dục [12]. Theo tác giả Trịnh Đức Duy có viết trong cuốn “Sổ tay giáo dục trẻ khuyết tật ở Việt Nam”: GD cho TKT nên theo hai mô hình là chuyên biệt và hòa nhập [9]. Năm 1995, Trung tâm Đào tạo và Phát triển GD Đặc biệt thuộc trường đại học Sư Phạm Hà Nội được thành lập [6].
Năm 1998 - 2001, Vụ GDMN đã chỉ đạo xây dựng thí điểm mô hình can thiệp sớm và GDHN cho TKT MN tại 3 nơi: Quận Hoàn Kiếm - Hà Nội, Huyện Bình Lục - Nam Hà, Huyện Cam Lộ - Quảng Trị. Năm 2001, Khoa GD Đặc biệt đầu tiên trong cả nước được thành lập tại trường Đại học sư phạm Hà Nội. Với nhiệm vụ đào tạo giáo viên, chuyên gia GD đặc biệt [7]. Những năm gần đây GDMN được quan tâm và đầu tư hơn vì vậy vấn đề GDHN cho TKT trong độ tuổi MN cũng được nhiều tác giả đặc biệt quan tâm như: - Nghiên cứu giải pháp và thực trạng GDHN cho TKT tuổi mẫu giáo, luận văn thạc sỹ Phan Thị Ngọc Anh, Viện nghiên cứu chiến lược và chương trình GD Hà Nội 2004.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - QL GDHN cho trẻ tăng động trong trường mầm non hòa nhập, luận văn thạc sỹ Phạm Thị Thơm, trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc Gia Hà Nội 2015. - Kinh nghiệm trong việc triển khai công tác GD TKT tại trường MN thực hành Hoa Sen, Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh và các cộng sự, Hà Nội 2015. Nhìn chung các tác giả nêu trên đã nghiên cứu và đề cập đến việc tổ chức các hoạt động GDHN cho TKT trong trường MN từ nhiều khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên tất cả các công trình nghiên cứu trên chưa có công trình nào nghiên cứu về QL việc thực hiện GDHN cho TKT trong trường MN thuộc phạm vi cấp huyện.
Do vậy, việc nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần bổ sung về lý luận và thực tiễn cho công tác QL GDHN cho TKT ở cấp MN. Quản lí hoạt động giáo dục trong trƣờng mầm non 1. Quản lí Xuất phát từ thực tiễn, qua quá trình nghiên cứu và đúc rút kinh nghiệm các nhà nghiên cứu đã đưa ra các định nghĩa khác nhau về “Quản lí”. Khái niệm “Quản lí” được vận dụng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội (trong QL lao động sản xuất, QL kinh tế, QL hành chính, QLGD.
Dưới mỗi góc độ đều có cách nhìn nhận khác nhau về “Quản lí”. Nhà nghiên cứu về QL nổi tiếng thế giới Harold Koontz cho rằng: " QL là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và mục tiêu đã định" [16] .G cho rằng: " QL con người có nghĩa là tác động đến anh ta sao cho hành vi, công việc và hoạt động của anh ta đáp ứng những yêu cầu của xã hội tập thể, để những cái đó có lợi cho cả tập thể và cá nhân, thúc đẩy sự tiến bộ của cả tập thể và cá nhân"[1]. Nói đến hoạt động QL, người ta không thể không nhắc tới ý tưởng sâu sắc của C.Mác: "Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng"[13].
- “Quản lí” theo quan niệm của các tác giả trong nước: + Tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “QL là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể QL đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể QL) nhằm đạt được những mục tiêu dự kiến" [18]. + Tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ cho rằng: “QL là một quá trình định hướng, có mục tiêu, QL một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định "[17]. + Thuật ngữ “Quản lí " (tiếng Việt gốc Hán) đã lột tả được bản chất hoạt động QL trong thực tiễn. Quản lí = “Quản” + “Lí”, nó gồm 2 quá trình tích hợp vào nhau: Quá trình “Quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định; quá trình “Lí” gồm tự sửa sang, sắp xếp, đổi mới, đưa vào hệ thống phát triển.
Nếu người đứng đầu chỉ chăm lo đến việc “Quản” tức là chăm lo đến việc coi sóc, giữ gìn thì tổ chức đó sẽ trì trệ, không phát triển. Tuy nhiên, nếu chỉ chăm lo đến việc “Lí” tức là chỉ lo đến việc sửa sang, sắp xếp, đổi mới mà không đặt trên nền tảng của sự ổn định thì sự phát triển của tổ chức sẽ không bền vững. Trong “Quản” phải có “Lí”, trong “Lí” phải có “Quản” để động thái của hệ ở thế cân bằng động. Hệ vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong mối tương tác giữa các nhân tố bên trong (nội lực) nhân tố bên ngoài (ngoại lực) Để có thể xây dựng được mô hình lý luận QLGD cần hiểu rõ những tiền đề sau: QL là một động từ chứ không phải là một danh từ: QL có nghĩa là tiến hành một công việc, là làm cho một sự kiện nảy sinh, là quá trình lôi cuốn tất cả mọi người vào hoạt động của họ trong tổ chức.
QL là một khái niệm có tính tình huống cụ thể. QL là một quá trình đòi hỏi sự chấp nhận, tích 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hợp và đồng hóa. QL lôi cuốn sự biến đổi [15]. Chức năng của quản lí Xét theo quá trình QL có bốn chức năng QL cơ bản sau: * Chức năng kế hoạch hoá: Đây là giai đoạn quan trọng nhất của quá trình QL.
Kế hoạch hóa là quá trình xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó. Để làm tốt chức năng kế hoạch hóa người lãnh đạo cần phải: + Định rõ kế hoạch, các mục tiêu cần đạt tới. + Lựa chọn các biện pháp. + Lập chương trình của nhà trường trong suốt năm học.
+ Thông qua tập thể sư phạm và trình lên cấp trên. + Điều chỉnh và hoàn thiện kế hoạch.