Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây Me rừng (tên khoa học: Phyllanthus emblica Linn., thuộc họ Thầu dầu Euphorbiaceae) là loài thực vật nhiệt đới phân bố rộng rãi tại châu Á và nhiều tỉnh trung du, miền núi phía Bắc Việt Nam. Trong y học cổ truyền, hầu hết các bộ phận của cây Me rừng như quả, lá, vỏ thân và rễ đều được sử dụng trong các bài thuốc điều trị cảm mạo, sốt, ho, viêm họng, viêm ruột, phù thũng, tiêu chảy và hạ huyết áp. Các nghiên cứu dược lý hiện đại trên thế giới đã chứng minh các dịch chiết và hợp chất tinh khiết từ loài này có nhiều hoạt tính sinh học giá trị như kháng khuẩn, chống oxy hóa, bảo vệ tế bào gan, kháng virus herpes simplex (HSV-1, HSV-2), virus khảm thuốc lá (TMV) và gây độc đối với một số dòng tế bào ung thư (như HeLa, tế bào ung thư vú, HELF).

Mặc dù thành phần hóa học của quả, lá và rễ cây Me rừng đã được nghiên cứu ở nhiều quốc gia, nhưng tại Việt Nam các công trình nghiên cứu sâu về thành phần hóa thực vật của loài này còn tương đối hạn chế, đặc biệt là chưa có công trình nào khảo sát thành phần hóa học trên bộ phận vỏ thân.

Khóa luận được thực hiện nhằm giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:

  1. Thu hái, xử lý mẫu vỏ thân cây Me rừng tại tỉnh Bình Thuận và điều chế các phân đoạn cao chiết thô.
  2. Ứng dụng các kỹ thuật sắc ký cột và sắc ký lớp mỏng để phân lập, tinh chế các hợp chất hữu cơ sạch từ phân đoạn cao ethyl acetate.
  3. Xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất cô lập được thông qua việc phân tích dữ liệu phổ cộng hưởng từ hạt nhân một chiều (1D-NMR) và hai chiều (2D-NMR), kết hợp so sánh với các tài liệu chuẩn đã công bố.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Vỏ thân cây Me rừng (Phyllanthus emblica Linn.). Tên khoa học của mẫu nghiên cứu do TS. Phạm Văn Ngọt (Khoa Sinh học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh) định danh.
  • Phạm vi không gian: Mẫu vỏ thân cây được thu hái thực địa tại xã Tân Tiến, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận vào tháng 5 năm 2014. Quá trình thực nghiệm hóa học được triển khai tại Phòng thí nghiệm Hợp chất thiên nhiên, Khoa Hóa học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng trên cơ sở hóa học các hợp chất tự nhiên (Natural Product Chemistry), tổng quan các nhóm hoạt chất thứ cấp đặc trưng của chi Phyllanthus (như alkaloid, benzenoid, coumarin, diterpenoid, sesquiterpenoid, phenolic glycoside, tannin, steroid, flavonoid, triterpenoid) cùng các bằng chứng dược lý học thực nghiệm đã công bố.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm bao gồm:

  • Quy trình chiết xuất: Sử dụng phương pháp ngâm dầm bột vỏ thân khô với dung môi ethanol 96° ở nhiệt độ phòng. Dịch chiết sau đó được lọc và cô quay thu hồi dung môi dưới áp suất giảm để tạo cao ethanol thô. Tiến hành chiết phân bố lỏng - lỏng phân đoạn từ cao thô lần lượt với các dung môi có độ phân cực tăng dần: $n$-hexane và ethyl acetate.
  • Phương pháp sắc ký phân lập:
    • Sắc ký cột pha thường (silica gel kích thước hạt 40–63 $\mu$m của Merck và 230–400 $\mu$m của Himedia) và sắc ký cột pha đảo (RP-18 của Merck).
    • Sắc ký lớp mỏng (TLC) tráng sẵn hạt Kieselgel 60 $\text{F}_{254}$ trên nhôm và TLC pha đảo 25DC RP-18 của Merck để theo dõi, gộp phân đoạn.
    • Thuốc thử và điều kiện phát hiện vết: Đèn soi tử ngoại ở bước sóng $\lambda = 254\text{ nm}$ và $\lambda = 365\text{ nm}$, kết hợp dung dịch thuốc thử hóa học $\text{H}_2\text{SO}_4\text{ }20%$ nung nóng bảng mỏng.
    • Hệ dung môi giải ly sử dụng: $n$-hexane : ethyl acetate (H:EA), ethyl acetate : methanol (EA:Me), chloroform : methanol (C:Me), $n$-hexane : acetone : acetic acid (H:Ac:AcOH), chloroform : acetone : acetic acid (C:Ac:AcOH).
  • Phương pháp phổ nghiệm xác định cấu trúc:
    • Ghi phổ cộng hưởng từ hạt nhân $^1\text{H-NMR}$ (tần số 500 MHz), $^{13}\text{C-NMR}$ (tần số 125 MHz) và các phổ hai chiều: DEPT, COSY, HSQC, HMBC trên máy Bruker Avance.
    • Thiết bị đo phổ đặt tại Phòng thí nghiệm Phân tích trung tâm (Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) và Trung tâm các phương pháp phổ ứng dụng (Viện Hóa học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Hà Nội).
    • Dung môi đo phổ: Cloroform biến tính ($\text{CDCl}_3$).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan

Chương này trình bày hệ thống tài liệu về thực vật học, công dụng dân gian, dược tính hiện đại và thành phần hóa thực vật của cây Me rừng:

  • Đặc điểm thực vật: Cây Me rừng là loài cây gỗ nhỏ cao 2–7 m, thân phân nhánh nhiều, cành nhỏ mềm có lông; lá xếp hai dãy dạng lá kép lông chim; hoa đơn tính cùng gốc mọc ở nách lá; quả hình cầu mọng sau khô thành nang; hạt hình ba cạnh màu hồng nhạt.
  • Dược tính theo y học cổ truyền và hiện đại: Tổng hợp các nghiên cứu tác dụng kháng khuẩn đối với E. typhi, S. subtilis, C. niger; hoạt tính dọn gốc tự do DPPH ($\text{IC}{50} = 1{,}07\text{ mg/mL}$) và ABTS; tác dụng bảo vệ gan, hạ men gan trên chuột thực nghiệm ở liều 75 mg/kg/ngày; tác dụng ức chế virus HSV-1, HSV-2 của $1,2,4,6\text{-tetra-}O\text{-galloyl-}\beta\text{-D-glucose}$ và ức chế virus khảm thuốc lá TMV của emblirol A, emblirol B (79,6% và 82,1%); tác dụng độc tế bào ung thư vú, ung thư cổ tử cung (HeLa) và HELF ($\text{IC}{50} = 51{,}4\text{ }\mu\text{g/mL}$ của isocorilagin).
  • Thành phần hóa học đã biết: Bảng tổng hợp 75 hợp chất tiêu biểu đã được phân lập từ các bộ phận quả, rễ, lá, cành của Phyllanthus emblica Linn. từ các công bố quốc tế, thuộc nhiều nhóm chất: alkaloid (zeatin, zeatin riboside...), benzenoid (acid gallic, ethyl gallate, các dẫn xuất galloyl mucic acid...), diterpenoid (gibberellin A-1, A-3, A-4...), sesquiterpenoid (acid phyllaemblic...), phenolic glycoside, tannin (corilagin, isocorilagin, chebulagic acid, geraniin...), steroid ($\beta$-sitosterol, stigmasterol...) và flavonoid (kaempferol, quercetin, rutin...).

Chương 2. Hóa chất, thiết bị và phương pháp thực nghiệm

Chương 2 mô tả chi tiết quy trình xử lý nguyên liệu, điều chế các phân đoạn cao và các bước sắc ký phân lập chất:

  • Khối lượng nguyên liệu và cao thu nhận: Bột vỏ thân cây Me rừng khô ($16{,}2\text{ kg}$) sau khi ngâm dầm với ethanol 96° và cô quay chân không thu được $350{,}5\text{ g}$ cao ethanol thô. Chiết phân bố lỏng - lỏng thu được $11{,}5\text{ g}$ cao $n$-hexane, $85{,}4\text{ g}$ cao ethyl acetate và phần dịch chiết còn lại ($224\text{ g}$).
  • Quy trình phân đoạn cao ethyl acetate ($85{,}4\text{ g}$): Sắc ký cột silica gel pha thường với hệ dung môi H:EA (70% đến 100% EA) và EA:Me (5% đến 100% Me), thu được 9 phân đoạn chính:
Phân đoạn Hệ dung môi giải ly Khối lượng (g) Đặc điểm sắc ký lớp mỏng (TLC)
EA1 H:EA (95:5) 4,1 Nhiều vết tách xa
EA2 H:EA (9:1) 5,4 Nhiều vết, kéo dài
EA3 H:EA (85:15) 12,6 Nhiều vết, kéo vệt
EA4 EA:Me (99:1) 4,6 Nhiều vết, hiện màu tím UV
EA5 EA:Me (95:5) 6,2 Nhiều vết tách xa
EA6 EA:Me (9:1) 11,2 Nhiều vết, kéo dài
EA7 EA:Me (8:2) 6,7 Nhiều vết, kéo dài
EA8 EA:Me (7:3) 10,5 Nhiều vết, kéo dài
EA9 Me (100%) 9,8 Nhiều vết, kéo dài
  • Quy trình cô lập 3 hợp chất từ phân đoạn EA4 ($4{,}6\text{ g}$):
    • Sắc ký cột phân đoạn EA4 bằng hệ H:Ac (75% đến 100% EA) và EA:Me (5% đến 100% Me) thu được 8 phân đoạn phụ (EA4.1 đến EA4.8).
    • Phân đoạn EA4.6 ($294{,}6\text{ mg}$) được sắc ký cột giải ly bằng C:Me (5% đến 100% Me) tạo 6 phân đoạn (EA4.6.1 đến EA4.6.6); phân đoạn EA4.6.3 ($54{,}7\text{ mg}$) được tiếp tục tinh chế bằng hệ C:Ac thu được hợp chất PEE04 ($5{,}8\text{ mg}$).
    • Phân đoạn EA4.3 ($265{,}7\text{ mg}$) được sắc ký cột giải ly bằng H:Ac (20% đến 100% Ac) tạo 5 phân đoạn (EA4.3.1 đến EA4.3.5); phân đoạn EA4.3.2 ($42{,}3\text{ mg}$) được tinh chế nhiều lần bằng hệ H:Ac:AcOH thu được hợp chất PA1 ($5{,}9\text{ mg}$).
    • Phân đoạn EA4.7 ($325{,}3\text{ mg}$) được sắc ký cột giải ly bằng C:Me (10% đến 100% Me) tạo 6 phân đoạn (EA4.7.1 đến EA4.7.6); phân đoạn EA4.7.3 ($68{,}7\text{ mg}$) được tinh chế qua cột silica gel giải ly bằng hệ C:Ac:AcOH thu được hợp chất PA2 ($10{,}9\text{ mg}$).

Chương 3. Kết quả và thảo luận

Chương này tập trung biện luận phổ học để xác định cấu trúc phân tử của 3 hợp chất cô lập được:

  • Hợp chất PEE04 ($5{,}8\text{ mg}$):

    • Cảm quan: Tinh thể hình kim màu trắng. TLC hiện một vết duy nhất phát hiện bằng $\text{H}_2\text{SO}_4\text{ }20%$ hơ nóng cho màu xanh.
    • Phân tích phổ: Phổ $^1\text{H-NMR}$ thể hiện 1 proton olefin tại $\delta_\text{H}\text{ }5{,}88\text{ ppm}$, proton oxymethylene tại $\delta_\text{H}\text{ }4{,}82$ và $4{,}98\text{ ppm}$ ($J = 18{,}0\text{ Hz}$, H-21b), 2 nhóm methyl mũi đơn tại $\delta_\text{H}\text{ }0{,}88$ và $0{,}96\text{ ppm}$. Phổ $^{13}\text{C-NMR}$, DEPT và HSQC xác nhận sự có mặt của 23 carbon, bao gồm nhóm carbonyl của vòng lactone không no $\alpha,\beta$ tại $\delta_\text{C}\text{ }174{,}5\text{ ppm}$, 2 carbon tứ cấp mang oxy tại $\delta_\text{C}\text{ }85{,}6\text{ ppm}$ (C-5) và $\delta_\text{C}\text{ }85{,}5\text{ ppm}$ (C-14), 1 carbon oxymethine tại $\delta_\text{C}\text{ }68{,}2\text{ ppm}$ (C-3), cùng 2 nhóm methyl tại $\delta_\text{C}\text{ }16{,}6\text{ ppm}$ (C-19) và $\delta_\text{C}\text{ }15{,}7\text{ ppm}$ (C-18).
    • Tương quan HMBC: Proton tại $\delta_\text{H}\text{ }2{,}78\text{ ppm}$ (H-17) tương quan đến carbon lactone ($\delta_\text{C}\text{ }174{,}5$) xác định vị trí gắn vòng lactone tại C-17; tương quan giữa proton H-17 với carbon C-14 ($\delta_\text{C}\text{ }85{,}5$) và tương quan từ H-3 ($\delta_\text{H}\text{ }4{,}18$), methyl H-19 ($\delta_\text{H}\text{ }0{,}96$) tới C-5 ($\delta_\text{C}\text{ }85{,}6$) xác định các nhóm hydroxyl gắn tại C-3, C-5 và C-14.
    • Kết luận: Cấu trúc của PEE04 được xác định là periplogenin.
  • Hợp chất PA1 ($5{,}9\text{ mg}$):

    • Cảm quan: Dạng bột màu trắng. TLC cho một vết màu vàng nâu khi hiện hình bằng $\text{H}_2\text{SO}_4\text{ }20%$ hơ nóng.
    • Phân tích phổ: Phổ $^1\text{H-NMR}$ có tín hiệu của 2 proton olefin tại $\delta_\text{H}\text{ }6{,}71\text{ ppm}$ (H-16) và $\delta_\text{H}\text{ }5{,}36\text{ ppm}$ ($J = 5{,}0\text{ Hz}$, H-6), 1 proton oxymethine tại $\delta_\text{H}\text{ }3{,}52\text{ ppm}$ (H-3), 1 nhóm methyl ketone tại $\delta_\text{H}\text{ }2{,}39\text{ ppm}$ (s, 3H, H-21), 2 nhóm methyl bậc bốn tại $\delta_\text{H}\text{ }0{,}92$ và $1{,}04\text{ ppm}$. Phổ $^{13}\text{C-NMR}$ và DEPT thể hiện 21 carbon, gồm 1 carbon ketone không no tại $\delta_\text{C}\text{ }197{,}0\text{ ppm}$ (C-20), 4 carbon olefin gồm $\delta_\text{C}\text{ }155{,}6\text{ ppm}$ (C-17), $\delta_\text{C}\text{ }144{,}6\text{ ppm}$ (C-16), $\delta_\text{C}\text{ }141{,}6\text{ ppm}$ (C-5), $\delta_\text{C}\text{ }121{,}2\text{ ppm}$ (C-6), cùng carbon gắn hydroxyl tại $\delta_\text{C}\text{ }71{,}9\text{ ppm}$ (C-3).
    • Tương quan HMBC: Nhóm methyl ketone ($\delta_\text{H}\text{ }2{,}39$) tương quan đến C-20 ($\delta_\text{C}\text{ }197{,}0$) và C-17 ($\delta_\text{C}\text{ }155{,}6$); proton methyl H-18 ($\delta_\text{H}\text{ }0{,}92$) tương quan đến C-17; proton H-16 tương quan đến C-20 xác định liên kết đôi tại vị trí C16=C17; proton methyl H-19 ($\delta_\text{H}\text{ }1{,}04$) tương quan đến C-5 ($\delta_\text{C}\text{ }141{,}6$) và H-6 tương quan đến C-8 ($\delta_\text{C}\text{ }30{,}4$) xác định nối đôi tại C5=C6.
    • Kết luận: Cấu trúc của PA1 được xác định là 16-dehydropregnenolone.
  • Hợp chất PA2 ($10{,}9\text{ mg}$):

    • Cảm quan: Dạng bột màu trắng. Không phát hiện dưới đèn UV, TLC cho một vết màu cam nhạt khi phun $\text{H}_2\text{SO}_4\text{ }20%$ hơ nóng.
    • Phân tích phổ: Phổ $^1\text{H-NMR}$ cho tín hiệu proton oxymethine tại $\delta_\text{H}\text{ }3{,}44\text{ ppm}$ (H-3), 5 nhóm methyl tứ cấp ($\delta_\text{H}\text{ }0{,}77\text{ đến }1{,}00\text{ ppm}$), 2 nhóm methyl bậc ba ($\delta_\text{H}\text{ }0{,}88\text{ và }0{,}90\text{ ppm}$), đặc biệt có 2 tín hiệu proton methylene của vòng ba cạnh cyclopropane tại vùng từ trường cao $\delta_\text{H}\text{ }0{,}38\text{ và }0{,}56\text{ ppm}$. Phổ $^{13}\text{C-NMR}$ xuất hiện 30 carbon, trong đó có carbon oxymethine tại $\delta_\text{C}\text{ }79{,}2\text{ ppm}$ (C-3), 7 carbon methyl ($\delta_\text{C}\text{ }14{,}9\text{ đến }28{,}9\text{ ppm}$), carbon methylene vòng cyclopropane tại $\delta_\text{C}\text{ }13{,}4\text{ ppm}$.
    • Tương quan HMBC: Proton H-3 ($\delta_\text{H}\text{ }3{,}44$) tương quan với carbon methyl C-24 ($\delta_\text{C}\text{ }28{,}4$) xác định nhóm –OH ở vị trí C-3; proton cyclopropane tại $\delta_\text{H}\text{ }0{,}38$ tương quan với carbon C-15 ($\delta_\text{C}\text{ }34{,}4$) chứng minh vị trí gắn của vòng cyclopropane tại C13–C14.
    • Kết luận: Cấu trúc của PA2 được xác định là triterpene phyllanthol.

Kết quả và đóng góp

Ký hiệu hợp chất Khối lượng cô lập Dạng cảm quan Màu sắc thuốc thử $\text{H}_2\text{SO}_4\text{ }20%$ Tên cấu trúc xác định Nhóm hợp chất
PEE04 $5{,}8\text{ mg}$ Tinh thể hình kim màu trắng Xanh Periplogenin Cardenolide / Steroid
PA1 $5{,}9\text{ mg}$ Bột màu trắng Vàng nâu 16-Dehydropregnenolone Pregnane steroid
PA2 $10{,}9\text{ mg}$ Bột màu trắng Cam nhạt Phyllanthol Triterpenoid (khung ursane)

Đóng góp khoa học mới của đề tài:

  • Cả ba hợp chất (periplogenin, 16-dehydropregnenolone và phyllanthol) đều là những chất lần đầu tiên được phân lập từ loài Me rừng (Phyllanthus emblica Linn.).
  • Đặc biệt, hai hợp chất steroid khung pregnane là periplogenin (PEE04) và 16-dehydropregnenolone (PA1) lần đầu tiên được phát hiện và ghi nhận sự hiện diện trong toàn bộ chi Phyllanthus.
  • Bổ sung dữ liệu thực nghiệm chi tiết về quy trình chiết tách phân đoạn và thông số phổ NMR ($^1\text{H}$, $^{13}\text{C}$, HSQC, HMBC, DEPT, COSY) đối với bộ phận vỏ thân của loài Me rừng tại Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Trong khuôn khổ khóa luận, nghiên cứu mới chỉ tập trung phân lập các hợp chất hữu cơ từ một số phân đoạn phụ của phân đoạn cao ethyl acetate (cụ thể là các phân đoạn EA4.3, EA4.6 và EA4.7). Các phân đoạn cao chiết khác (như cao $n$-hexane, dịch chiết nước còn lại và các phân đoạn EA1–EA3, EA5–EA9) chưa được khảo sát trọn vẹn. Khóa luận chưa tiến hành thử nghiệm hoạt tính sinh học in vitro đối với các chất sạch đã cô lập.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tiếp tục mở rộng khảo sát thành phần hóa học trên các phân đoạn còn lại của cao ethyl acetate cũng như cao $n$-hexane để tìm kiếm thêm các hợp chất tự nhiên mới; đồng thời tiến hành các thử nghiệm đánh giá hoạt tính sinh học (chống oxy hóa, kháng khuẩn, gây độc tế bào) trên các hợp chất tinh khiết đã phân lập.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu viên thuộc các chuyên ngành Hóa học (Hóa hữu cơ, Hóa hợp chất thiên nhiên), Hóa dược, Dược học và Thực vật học.
  • Nội dung tham khảo trọng tâm:
    • Quy trình kỹ thuật điều chế cao chiết phân đoạn từ khối lượng mẫu lớn ($16{,}2\text{ kg}$) và phương pháp triển khai sắc ký cột silica gel từng bước để làm sạch phân đoạn giàu hoạt chất.
    • Phương pháp phân tích và quy kết tín hiệu phổ cộng hưởng từ hạt nhân đa chiều (HSQC, HMBC, DEPT, COSY) để giải đoán cấu trúc các hợp chất steroid vòng lactone không no, steroid có liên kết đôi liên hợp và triterpene có vòng ba cạnh cyclopropane.
    • Cơ sở dữ liệu phong phú về 75 hợp chất thiên nhiên đã được phân lập từ chi Phyllanthus và các tài liệu tham khảo chuyên ngành liên quan.

Câu hỏi thường gặp

1. Mẫu thực vật dùng trong nghiên cứu được thu thập ở đâu và ai là người giám định tên khoa học?

Mẫu vỏ thân cây Me rừng (Phyllanthus emblica Linn.) được thu hái tại xã Tân Tiến, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận vào tháng 5 năm 2014. Tên khoa học của mẫu được TS. Phạm Văn Ngọt thuộc Khoa Sinh học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh giám định và xác nhận.

2. Từ bao nhiêu kg nguyên liệu thô ban đầu thì điều chế được lượng cao ethyl acetate dùng để sắc ký?

Từ $16{,}2\text{ kg}$ bột vỏ thân cây Me rừng khô, qua quá trình ngâm dầm với ethanol 96° và cô quay thu được $350{,}5\text{ g}$ cao ethanol thô. Tiến hành chiết phân bố lỏng - lỏng thu được $85{,}4\text{ g}$ cao ethyl acetate (bên cạnh $11{,}5\text{ g}$ cao $n$-hexane và $224\text{ g}$ phần dịch chiết còn lại).

3. Ba hợp chất sạch được cô lập từ những phân đoạn sắc ký cụ thể nào?

Cả 3 hợp chất đều được phân lập từ phân đoạn cao EA4 ($4{,}6\text{ g}$):

  • Hợp chất PEE04 ($5{,}8\text{ mg}$) được cô lập từ phân đoạn phụ EA4.6 (cụ thể từ phân đoạn nhỏ EA4.6.3).
  • Hợp chất PA1 ($5{,}9\text{ mg}$) được cô lập từ phân đoạn phụ EA4.3 (cụ thể từ phân đoạn nhỏ EA4.3.2).
  • Hợp chất PA2 ($10{,}9\text{ mg}$) được cô lập từ phân đoạn phụ EA4.7 (cụ thể từ phân đoạn nhỏ EA4.7.3).

4. Dấu hiệu phổ học đặc trưng nào giúp nhận diện vòng cyclopropane trong cấu trúc của phyllanthol (PA2)?

Trên phổ $^1\text{H-NMR}$ của hợp chất PA2 xuất hiện 2 tín hiệu proton methylene thuộc vòng cyclopropane ở vùng từ trường rất cao tại $\delta_\text{H}\text{ }0{,}38\text{ ppm}$ và $0{,}56\text{ ppm}$. Đồng thời, phổ $^{13}\text{C-NMR}$ cho tín hiệu carbon methylene của vòng ba cạnh này tại $\delta_\text{C}\text{ }13{,}4\text{ ppm}$. Phổ HMBC ghi nhận tương quan giữa proton $\delta_\text{H}\text{ }0{,}38\text{ ppm}$ với carbon C-15 ($\delta_\text{C}\text{ }34{,}4\text{ ppm}$), chứng minh vòng cyclopropane gắn tại vị trí C13–C14.

5. Điểm mới nổi bật nhất về mặt thành phần hóa học của khóa luận này là gì?

Khóa luận đã cô lập được 3 hợp chất lần đầu tiên tìm thấy trong loài Phyllanthus emblica Linn., trong đó 2 hợp chất periplogenin và 16-dehydropregnenolone là những chất lần đầu tiên được ghi nhận sự xuất hiện trong toàn bộ chi Phyllanthus.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp đã thực hiện thành công quy trình chiết xuất từ $16{,}2\text{ kg}$ vỏ thân cây Me rừng (Phyllanthus emblica Linn.) thu hái tại Bình Thuận và phân lập được 3 hợp chất hữu cơ sạch từ phân đoạn cao ethyl acetate gồm periplogenin ($5{,}8\text{ mg}$), 16-dehydropregnenolone ($5{,}9\text{ mg}$) và phyllanthol ($10{,}9\text{ mg}$). Cấu trúc hóa học của các chất đã được làm sáng tỏ đầy đủ thông qua hệ thống phổ nghiệm 1D và 2D-NMR kết hợp so sánh tài liệu tham khảo chuẩn. Công trình mang lại đóng góp mới cho ngành hóa thực vật khi lần đầu tiên ghi nhận sự có mặt của hai hợp chất steroid khung pregnane (periplogenin và 16-dehydropregnenolone) trong chi Phyllanthus, cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học tin cậy cho các nghiên cứu chuyên sâu tiếp theo về dược liệu học Việt Nam.