Đặt vấn đề Vùng Đông Nam Bộ có vị trí quan trọng phát triển kinh tế - xã hội, có tiềm năng lớn để phát triển nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lương thực, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản, phát triển vườn cây ăn quả đem lại giá trị xuất khẩu lớn cho khu vực và mở rộng giao lưu với khu vực và thế giới. Cây mít là loại cây ăn quả phổ biến ở tất cả các vùng sinh thái ở Việt Nam. Nếu như trước đây mít chỉ phục vụ tiêu dùng trong nước thì hiện nay, do được mở rộng thị trường xuất khẩu, mít trở thành một trong những loại trái cây xuất khẩu chủ lực sang Trung Quốc. Với mức giá ổn định cũng như được thị trường vô cùng ưa chuộng như vậy, mít là một trong những loại trái cây được nhiều hộ nông dân lựa chọn làm mô hình làm giàu trong thời gian qua.
Trong lúc nhiều loại nông sản chủ lực, thậm chí lúa gạo là mặt hàng chiến lược hay bị lâm vào điệp khúc “được mùa, rớt giá” khiến thu nhập của nông hộ sụt giảm, bấp bênh thì nhiều năm nay không ít nhà vườn “ăn nên làm ra”, thoát nghèo và làm giàu bền vững từ trồng ăn quả trong đó có trồng mít. Tuy nhiên, việc phát triển quá nhanh của cây mít không theo quy hoạch vùng trồng có thể dẫn tới tình trạng mất cân bằng giữa “cung” và “cầu”, phát triển cả trên những khu vực không thích hợp về đất đai dẫn tới gia tăng chi phí sản xuất. Bên cạnh đó ở nhiều vùng kỹ thuật canh tác, quản lý sâu, bệnh hại còn chưa được tốt làm tăng số lượng sâu bệnh hại, giảm năng suất và chất lượng sản phẩm. Xuất phát từ thực tiễn đó, việc khảo sát, đánh giá tình hình sâu bệnh hại trên cây mít ở địa bàn thị xã Phú Mỹ thuộc tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu được thực hiện nhằm đánh giá hiện trạng trồng mít trên địa bàn để từ đó đánh giá hiệu quả của việc canh tác mít phục vụ mục đích kinh doanh.
Mục đích và yêu cầu 1. Mục đích Mục đích chung: khảo sát tình hình trồng mít trên địa bàn thị xã Phú Mỹ để từ đó đưa ra những giải pháp để việc trồng mít đạt hiệu quả tốt nhất. Mục đích cụ thể: Đánh giá thực trạng sâu bệnh hại trên cây mít ở địa bàn thị xã Phú Mỹ Đánh giá kĩ thuật canh tác và biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại của các nông dân trên địa bàn điều tra. Đánh giá lợi nhuận của nông dân trồng mít trên địa bàn điều tra.
Yêu cầu Yêu cầu chung: Điều tra tình hình trồng mít trên địa bàn thị xã Phú Mỹ bằng phương pháp thu thập thông tin thông qua phiếu điều tra. Yêu cầu cụ thể: Xác định nguyên nhân, đặc điểm và thiệt hại của các loài sâu bệnh hại trên cây mít ở địa bàn thị xã Phú Mỹ. Nắm bắt các loại thuốc bảo vệ thực vật mà các nông dân trên địa bàn đang sử dụng. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Tổng quan về Thị xã Phú Mỹ 2. Địa giới, hành chính Phú Mỹ là một thị xã nằm ở phía Tây tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu được thành lập vào ngày 18/05/2018, trước đây có tên cũ là huyện Tân Thành. Phía đông giáp huyện Châu Đức và thành phố Bà Rịa. Phía tây giáp huyện Cần Giờ (TP.HCM) và huyện Nhơn Trạch (Đồng Nai) với ranh giới là sông Thị Vải.
Phía nam giáp thành phố Vũng Tàu và vịnh Gành Rái. Phía bắc giáp huyện Long Thành (Đồng Nai). Thị xã nằm dọc theo quốc lộ 51, cách TP.HCM khoảng 60 km, cách thành phố Vũng Tàu khoảng 40 km và cách thành phố Bà Rịa khoảng 20 km. Thị xã gồm 10 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm 5 phường: Hắc Dịch, Mỹ Xuân, Phú Mỹ, Phước Hòa, Tân Phước và 5 xã: Châu Pha, Sông Xoài, Tân Hải, Tân Hòa, Tóc Tiên.
Diện tích, diện tích đất nông nghiệp Thị xã Phú Mỹ có diện tích 333,84 km² trong đó diện tích đất nông nghiệp là 185,186 km² chiếm 55,47% diện tích cả thị xã. Phổ biến trồng các loại cây công nghiệp (tiêu, điều, cà phê), cây ăn trái (mít, bơ, xoài) và cây lương thực (lúa, ngô). Những năm gần đây diện tích cây mít trồng ở trên địa bàn tăng theo hàng năm. Tổng quan về cây mít 2.
Đặc điểm chung Mít có tên khoa học là Artocarpus heterophyllus Lam. là cây ăn quả thuộc họ dâu tằm Moraceae có nguồn gốc từ Western Ghats của Ấn Độ được thuần hóa khoảng 700-1300 năm Trước Công Nguyên. Mít mọc trong rừng thường xanh ẩm được di thực đến trồng ở các nước Đông Nam Á từ lâu đời, trong đó có Việt Nam. Hiện nay cây mít được trồng phổ biến ở các nước vùng Nhiệt đới như 3 Ấn Độ, Bangladesh, Nepal, Sri Lanca, Campuchia, Việt Nam, Thái Lan, Malaysia, Philippines (Mai Văn Trị, 2018).
Cây mít thuộc loại cây thân gỗ nhỏ cao từ 8 đến 20 mét, có tuổi thọ từ 20- 100 năm, ưa sáng và ưa ẩm mức trung bình, thích hợp với đất thoát nước, đất fe- ra-lit vùng trung du (Elevitch và Manner, 2006). Cây mít ra quả trung bình sau 4-6 năm tuổi và quả của nó là loại quả phức và là một loại quả ngọt nhiệt đới. Mít được coi là loại cây ăn quả chín lớn nhất lớn trong các loại cây ăn quả phổ biến. Quả mít có hình bầu dục kích thước khoảng 30 – 60 cm x 20 – 30 cm nặng từ 4,5-30 kg, vỏ mít sù sì, có gai nhỏ thời gian trung bình để quả chín từ 90-180 ngày (Elevitch và Manner, 2006).
Hoa thuộc loại hoa đơn tính, thường mọc trên những cuống ngắn, trên cùng 1 cây có cả hoa đực và hoa cái. Mít ra quả vào khoảng giữa mùa xuân và chín vào cuối mùa hè (tháng 7-8) hàng năm. Cây mít là cây đa mục đích sử dụng, có giá trị thương mại và giá trị dinh dưỡng cao. Hầu như tất cả các bộ phận của cây Mít, như thân gỗ, quả (thịt quả non, thịt quả chín), hạt đều có công dụng đáng kể trong đời sống con người Việt Nam (Nguyễn Thị Ngọc Huệ, 2021) a.
Giá trị dinh dưỡng Quả Mít có thịt quả (múi mít) là loại thực phẩm lành mạnh, rất giàu dinh dưỡng có tác dụng bồi bổ cho sức khỏe con người, với các thành phần như: năng lượng vừa phải, nước, protein, gluxit, canxi, photpho, sắt, mangan, betacaroten, vitamin C, vitamin B1, B2, kali, phytonutrient (lignans, isoflavones và saponins) (Haq, 2006; APAARI, 2012; Tiwari and Vidyarthi, 2015). Khi so sánh với các loại quả nhiệt đới khác, thịt quả và hạt mít chứa nhiều protein, canxi, sắt, nhóm vitamin B trong đó vitamin B1 là nhiều hơn cả và Mít còn giàu vitamin C. Thành phần các chất trong quả Mít thay đổi tùy theo giống, tuổi cây, mùa vụ và giai đoạn phát triển của quả. Thành phần các chất có trong quả xanh, thịt quả đã chín và hạt được tập hợp và thể hiện ở Bảng 2.
Thành phần các chất trong 100 g khối lượng tươi bộ phận ăn được của Mít (Nguyễn Thị Ngọc Huệ, 2021) Thành phần các chất Quả xanh Quả chín Hạt Nước (g) 76,20 - 85,20 72,00 - 94,00 51,00 - 64,50 Năng lượng (calo) 50 – 210 88 - 410 133 - 139 Protein (g) 2,00 - 2,60 1,20 - 1,90 6,60 - 7,04 Chất béo (g) 0,10 - 0,60 0,10 - 0,64 0,40 - 0,43 Carbohydrate (g) 9,40 - 11,50 16,00 - 25,40 25,80 - 38,40 Chất xơ (g) 2,60 - 3,60 1,00 - 1,50 1,00 - 1,50 Đường tổng số (g) - 19,05 - 20,60 - Khoáng tổng số (g) 0,90 0,87 - 0,90 0,90 - 1,20 Canxi (mg) 30,00 - 73,20 20,00 - 37,00 50,00 Magiê (mg) - 27,00 - 29,00 54,00 Phosphorus (mg) 20,00 - 57,20 21,00 - 41,00 38,00 - 97,00 Kali (mg) 287 - 323 191 - 448 246 Natri (mg) 3,00 - 35,00 2,00 - 41,00 63,20 Sắt (mg) 0,40 - 1,90 0,23 - 1,10 1,50 - 3,40 Kẽm (mg) - 0,13 - 0,42 - Vitamin A (IU) 30 175 - 540 10 - 17 Thiamine B1 (mg) 0,05 - 0,15 0,03 - 0,11 0,25 - 0,60 Riboflavin B2 (mg) 0,05 - 0,20 0,06 - 0,40 0,11 - 0,30 Vitamin C (mg) 12,00 - 14,00 7,00 - 13,70 11,00 Vitamin E (mg) - 0,34 - Beta Caroten (µg) - 71,30 - 84,80 - Carotenoid tổng (µg) - 129,00 - 150,30 - 5 Thành phần các chất trong quả Mít thay đổi tùy theo giống, tuổi cây, mùa vụ và giai đoạn phát triển của quả. Hàm lượng carbohydrate trong quả của các giống Mít khác nhau có thể thay đổi từ 37,4% đến 42,5%, protein từ 0,57 đến 0,97%, chất xơ từ 0,57 đến 0,86% (Phạm Hùng Cương và cs. Giá trị kinh tế So với các loại cây ăn quả nói chung thì mít là loại cây mang lại giá trị kinh tế cao. Trồng mít đúng quy chuẩn cho giá trị kinh tế cao, với mức giá bán quả mít trên thị trường hiện nay dao động theo mùa từ 20.000 đồng/kg, thu nhập đạt đến 350 triệu đồng/ha/năm.
Ngoài sử dụng ăn tươi thì quả mít cũng được sử dụng nhiều trong nền công nghiệp chế biến thực phẩm như nước ép/siro, mít sấy, mứt mít, hương vị bánh kẹo (Nguyễn Thị Ngọc Huệ, 2021) Việt Nam cùng với Thái Lan là hai nước sản xuất mít ăn quả chủ lực ở châu Á. Nhiều sản phẩm sơ chế từ mít, sản phẩm chế biến dạng đóng hộp như nước ép, xi-rô được xuất khẩu tới các nước ở Bắc Mỹ và châu Âu. Mít sấy khô, sản phẩm công nghiệp thực phẩm có danh tiếng của Việt Nam được tiêu thụ phổ biến thị trường nội địa và xuất khẩu sang khối Asean, Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Nhật Bản và có mặt tại các thị trường khó tính ở châu Âu và Bắc Mỹ, mang lại giá trị lớn cho các doanh nghiệp, thu ngoại tệ cho đất nước. Gỗ mít là loại gỗ quý nhóm IV có màu vàng da cam đến vàng sẫm, hơi hồng hoặc nâu.
Mặt gỗ mịn trung bình, mật độ mạch trong gỗ ít năm tuổi cao hơn trong gỗ lâu năm. Gỗ mít ít bị mối mọt, có thớ mềm, không nứt, dễ chế tác và bền. Tâm gỗ ở những cây mít to lâu năm là một loại gỗ đặc biệt quý, bán giá rất cao. Nhu cầu thị trường về gỗ mít cao, đứng thứ hai sau gỗ tếch ở nhiều nước châu Á nên mít cũng là cây có giá trị kinh tế nếu được trồng theo hướng rừng trồng lâu năm.
Giá trị y học Cây Mít là loại cây giàu dược tính. Tất cả các bộ phận của cây mít đều có thể sử dụng để làm dược liệu trong dân gian và Y học cổ truyền. Theo Y học cổ 6 truyền, thịt quả Mít chín có tác dụng nhuận tràng. Thịt quả mít là thực phẩm giàu kali giúp làm giảm huyết áp.