MỞ ĐẦU Trong khi nhiều bệnh lây nhiễm đang có xu hướng giảm dần thì các bệnh không lây nhiễm (BKLN) lại gia tăng nhanh và trở thành vấn đề sức khỏe toàn cầu của thế kỷ XXI. Năm 2008, số ca tử vong trên toàn cầu do các BKLN lên đến 36 triệu ca, chiếm 63% tổng số ca tử vong do tất cả các nguyên nhân, trong đó, tử vong do các bệnh tim mạch là cao nhất với 17 triệu người, chiếm 48%, tiếp đó là ung thư với 7,6 triệu người chiếm 21% [1]. Đến năm 2019, tỷ lệ tử vong do các BKLN cộng lại đã lên đến 74% trong tổng số 55,4 triệu ca trên toàn cầu trong đó tim mạch vẫn là nguyên nhân gây tử vong cao nhất [2]. Tại Việt Nam, theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới, trong năm 2012, tử vong do các BKLN là 379.600 ca, chiếm đến 73%, trong đó tim mạch chiếm đến 33% và ung thư là 18%.
Trong đó, tử vong do các bệnh lý về mạch máu não, thiếu máu cơ tim là nguyên nhân hàng đầu và tương đương nhau ở cả hai giới [1], [2], [3]. Điều này đang gây thiệt hại và ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế, xã hội do tăng chi phí y tế, giảm năng suất lao động và sản phẩm xã hội, ảnh hưởng nặng nề đến sức khỏe cộng đồng, chất lượng cuộc sống. Mặc dù rất nguy hiểm và tỷ lệ tử vong cao nhưng phần lớn các BKLN như tim mạch, đái tháo đường (ĐTĐ), ung thư, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD)… có thể phòng ngừa được. Phát hiện sớm các yếu tố nguy cơ như tiền ĐTĐ, RLLPM để có các biện pháp kiểm soát nồng độ glucose máu, lipid máu kịp thời.
Điều trị và quản lý người bệnh, không để tình trạng rối loạn kéo dài gây biến chứng. Bên cạnh đó, cần có biện pháp tuyên truyền, giáo dục cộng đồng hiệu quả nhằm điều chỉnh, thay đổi các hành vi, thói quen có hại như hút thuốc lá, lạm dụng rượu bia, chế độ dinh dưỡng không hợp lý và ít hoạt động thể lực. Đây là những biện pháp phòng ngừa mang lại nhiều lợi ích không chỉ về mặt sức khỏe mà cả kinh tế xã hội. Vì vậy, Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng, chống bệnh ung thư, tim mạch, đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, hen phế quản và các bệnh không lây nhiễm khác giai đoạn 2015 – 2025 của Bộ Y tế.
Bộ Y tế cũng đã và 6 đang triển khai kế hoạch phòng, chống bệnh không lây nhiễm mở rộng đến các tuyến y tế cơ sở [1]. RLLPM và ĐTĐ là hai trong số các rối loạn chuyển hóa thường gặp hiện nay, nhất là ở các quốc gia có mức thu nhập thấp và trung bình. RLLPM thường được phát hiện cùng với nhiều bệnh lý khác nhau của nhóm bệnh tim mạch – nội tiết – chuyển hóa và cũng là một yếu tố nguy cơ của nhóm bệnh lý này. Bệnh thường diễn tiến âm thầm qua một thời gian dài mà không có triệu chứng và chỉ được phát hiện khi kiểm tra sức khỏe hoặc khi đã có các biến chứng.
Các biến chứng có thể gặp ở nhiều cơ quan, bộ phận của cơ thể như các mạch máu (tổn thương động mạch vành gây nhồi máu cơ tim, tổn thương mạch máu não gây tai biến mạch máu não, tổn thương động mạch chi dưới gây viêm tắc thiếu máu hoại tử chân…); các cơ quan ở ngoại biên (ban vàng ở mi mắt, khuỷu tay, đầu gối…), các cơ quan nội tạng (gan nhiễm mỡ, viêm tụy cấp, nhiễm lipid võng mạc…). Rối loạn lipid máu (RLLPM) là khi có một hoặc nhiều thông số lipid bị tăng lên hoặc giảm xuống so với khoảng tham chiếu, tăng Total cholesterol (TC) hoặc tăng Low density lipoprotein cholesterol (LDL-c), hoặc tăng Triglycerid hoặc giảm Hight density lipoprotein cholesterol (HDL-c)… Nếu chỉ có một thông số bị rối loạn gọi là rối loạn đơn thuần và có từ 2 thông số trở lên bị rối loạn, gọi là rối loạn hỗn hợp. Người bệnh có thể bị rối loạn một hoặc nhiều thành phần lipid [4]. Lipid là một thành phần quan trọng không thể thiếu của cơ thể con người.
Lipid tham gia cấu tạo nên các màng tế bào đặc biệt là tế bào não có đến 60% là lipid, các mô tổ chức như mô thần kinh, tủy não. Lipid còn là tiền thân của một số hormon và acid mật, chất truyền tín hiệu nội và ngoại bào. Ngoài ra, lipid còn là nguồn dự trữ năng lượng lớn nhất, cung cấp khoảng 25- 30% năng lượng trong cơ thể, dự trữ dưới dạng mỡ trung tính triglycerid tại các mô mỡ. Lipid là dung môi hòa tan của các vitamin không tan trong nước như A, D, E, K… giúp cho cơ thể hấp thu tốt hơn [5], [6].
Mặc dù có vai trò quan trọng như vậy nhưng khi lượng lipid dư thừa trong cơ thể cũng mang lại nhiều bất lợi cho sức khỏe con người. 7 Các nghiên cứu khảo sát tình hình RLLPM đã được thực hiện nhiều nước trên thế giới và cả ở Việt Nam trên nhiều nhóm đối tượng như nhóm có các bệnh lý liên quan, nhóm nguy cơ cao hay trong cộng đồng. Tại Khánh Hòa các nghiên cứu trong cộng đồng còn hạn chế vì lượng mẫu ít, kinh phí thì quá cao và được thực hiện chủ yếu là do các nhà nghiên cứu đến từng địa phương để tìm bệnh nhân. Trung tâm xét nghiệm của Viện Pasteur là một địa chỉ khám bệnh tin cậy của người dân trong và ngoài tỉnh, đặc biệt là các tỉnh lân cận như Ninh Thuận, Bình Thuận, Đăk Lăk, Gia Lai, Kon Tum, Phú Yên, Bình Định, Quảng Ngãi… Một số tỉnh thành khác và khách nước ngoài cũng đến kiểm tra sức khỏe kết hợp với du lịch, tuy nhiên số lượng rất ít và chủ yếu vẫn là người dân trên địa bàn Khánh Hòa.
Lượng bệnh nhân đến xét nghiệm, khám bệnh hàng năm lên đến hàng trăm ngàn người, là những bệnh nhân tự nguyện tìm đến khám bệnh nhưng lại chưa có nghiên cứu nào được thực hiện. Tận dụng nguồn dữ liệu lớn từ kết quả lưu của bệnh nhân, chúng tôi đề xuất đề tài “ Khảo sát tình hình và đặc điểm rối loạn lipid máu của người dân trên địa bàn Khánh Hòa bằng phương pháp đo quang”. Qua đó, không chỉ mô tả một bức tranh toàn cảnh về tình trạng RLLPM của người dân sinh sống và làm việc trên địa bàn Khánh Hòa mà còn cung cấp nguồn dữ liệu lớn cho ngành y tế Việt Nam trong việc dự đoán nguy cơ mắc các bệnh tim mạch trong tương lai và lập kế hoạch thích hợp cho các vấn đề y tế nhằm ngăn ngừa và giảm thiểu các ảnh hưởng tiêu cực về mặt lâm sàng cho cộng đồng. Mục tiêu nghiên cứu: 1.
Xác định tỷ lệ và đặc điểm rối loạn lipid máu của người dân Khánh Hòa từ 6 – 80 tuổi đến xét nghiệm tại Viện Pasteur Nha Trang năm 2018- 2020. Bước đầu tìm hiểu mối liên quan giữa RLLPM với các yếu tố tuổi, giới tính, vùng sinh sống và ĐTĐ của người dân tỉnh Khánh Hòa. Nội dung nghiên cứu chính: - Nội dung 1 : Mô tả đặc điểm của các đối tượng nghiên cứu : về giới tính, nhóm tuổi, vùng sinh sống trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa và tình trạng đái tháo đường của người dân trong 3 năm 2018 - 2020. 8 - Nội dung 2 : Xác định tỷ lệ rối loạn lipid máu của người dân Khánh Hòa đến xét nghiệm tại viện Pasteur Nha Trang.
- Nội dung 3 : Mô tả đặc điểm rối loạn lipid máu của người dân Khánh Hòa đến xét nghiệm tại Viện Pasteur Nha Trang. - Nội dung 4 : Tìm hiểu mối liên quan giữa tình trạng rối loạn lipid máu với các yếu tố giới tính, độ tuổi, vùng sinh sống, tình trạng đái tháo đường của các đối tượng nghiên cứu. TỔNG QUAN VỀ LIPID MÁU 1. Lipid và vai trò của lipid đối với cơ thể 1.
Khái niệm lipid Lipid là tên gọi xuất phát từ Hy Lạp “lipos” nghĩa là chất béo. Là những hợp chất hữu cơ phổ biến trong tự nhiên cũng như trong cơ thể sinh vật, tan được trong dung môi hữu cơ không phân cực như ether, benzen, ether dầu hỏa, … nhưng không tan trong nước [5], [6]. Phân loại lipid Lipid được phân thành 2 nhóm lớn, đó là lipid đơn giản và phức tạp. Lipid đơn giản là ester của alcol và acid béo, ví dụ như triglycerid (dầu thực vật, mỡ), sáp, steroid.
Lipid phức tạp là những phân tử lipid được cấu tạo thêm các thành phần khác ngoài alcol và acid béo như gốc acid phosphoric, colin, saccharide [5]. Bề mặt được bao phủ bởi Phospholipid và Free cholesterol Protein Apo Phần lõi chứa các phân tử triglyceride và cholesteryl ester Hình 1.1: Cấu trúc Lipoprotein [6]. 10 Các lipid lưu thông trong huyết tương chủ yếu là các acid béo tự do, triglycerid, Total cholesterol (bao gồm free cholesterol (FC) và cholesteryl ester (CE) và phospholipid (PL), được gắn với các protein đặc hiệu (Apoprotein gọi tắt là apo) tạo thành các tiểu phần lipoprotein để vận chuyển trong máu và hệ bạch huyết. Lipoprotein là những phân tử hình cầu, nhân chứa các phân tử triglycerid, CE, xung quanh được bao bọc bởi những phân tử PL, FC và các protein đặc hiệu apo (Hình 1.
Một số các apo quan trọng tham gia vào quá trình chuyển hóa lipoprotein như apo A (I, II, IV, V), apo B-100, apo C (I, II, III), apo E (E2, E3, E4). Lipoprotein được phân thành 6 nhóm chính khác nhau (Hình 2. Chylomycron (CM): là Lipoprotein có tỷ trọng lớn nhất, được tạo thành duy nhất ở tế bào niêm mạc ruột từ triglycerid và cholesterol đã được ester hóa, nhiệm vụ chính là vận chuyển triglycerid và cholesterol ngoại sinh về gan. Kích thước CM phụ thuộc vào lượng chất béo ăn vào.
Tàn dư Tỷ trọng Tàn dư Các phân tử tiền lipoprotein chống xơ vữa Các phân tử lipoprotein chống xơ vữa Kích thước Hình 1.2: Các loại lipoprotein [6] 11 Very low density lipoprotein (VLDL): là lipoprotein có tỷ trọng rất thấp, được tạo thành chủ yếu ở gan, chứa khoảng 65% triglycerid, có chức năng vận chuyển triglycerid nội sinh vào hệ tuần hoàn. Intermediate density lipoprotein (IDL): là lipoprotein có tỷ trọng trung bình, là sản phẩm chuyển hóa của Very low density lipoprotein (VLDL) trong máu, gọi là VLDL tàn dư (VLDL remnants). Low density lipoprotein (LDL): là lipoprotein có tỷ trọng thấp, cũng là sản phẩm chuyển hóa của VLDL, có lõi chứa chủ yếu là CE (50%) và triglycerid (10%), vỏ chủ yếu gắn apo-B100. Ở người phần lớn VLDL được chuyển hóa thành LDL, có chức năng vận chuyển cholesterol được tổng hợp ở gan đến các mô ngoại vi.
LDL có thể bị các đại thực bào bắt giữ trong quá trình thu dọn.