Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn là một trong những chủ trương trọng tâm trong chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam. Trong tiến trình đổi mới kinh tế nông nghiệp, mô hình hợp tác xã (HTX) đóng vai trò là cầu nối quan trọng giữa các hộ nông dân với các chủ trương, đường lối, chính sách hỗ trợ phát triển của Đảng và Nhà nước. HTX nông nghiệp thực hiện chức năng tổ chức, tư vấn, hướng dẫn kỹ thuật và cung cấp các dịch vụ đầu vào, đầu ra thiết yếu phục vụ sản xuất như: thủy lợi, giống cây trồng, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thú y, chế biến và tiêu thụ nông sản.
Tuy nhiên, tại nhiều địa phương miền núi, sự phát triển của khu vực kinh tế hợp tác còn bộc lộ nhiều điểm hạn chế. Phần lớn các HTX nông nghiệp có quy mô nhỏ, năng lực sản xuất kinh doanh hạn chế, tỷ lệ đơn vị làm ăn có hiệu quả chưa cao. Đáng chú ý, một bộ phận HTX thành lập không xuất phát từ nhu cầu liên kết nội tại của người nông dân mà nhằm mục đích thụ hưởng các chính sách ưu đãi, vốn vay hỗ trợ hoặc các chương trình dự án tài trợ từ ngân sách tỉnh. Khi chuyển sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm và hạch toán kinh tế độc lập theo các quy định mới của pháp luật, các đơn vị này rơi vào tình trạng lúng túng, hoạt động cầm chừng, thậm chí mang tính hình thức. Xuất phát từ bối cảnh thực tiễn đó, đề tài "Khảo sát thực trạng phát triển kinh tế hợp tác xã sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn" được tác giả Lý Ngọc Luyện thực hiện nhằm đánh giá toàn diện bức tranh hoạt động của các HTX nông nghiệp địa phương, chỉ ra rào cản và đề xuất giải pháp thúc đẩy.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác lập rõ ràng gồm:
- Mục tiêu chung: Khảo sát thực trạng phát triển kinh tế của các HTX nông nghiệp trong sản xuất; từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển HTX nông nghiệp, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn.
- Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về kinh tế hợp tác và hình thức tổ chức HTX nông nghiệp.
- Khảo sát thực trạng phát triển kinh tế HTX và phân tích các nguyên nhân ảnh hưởng tới sự phát triển của các HTX nông nghiệp trên địa bàn.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế HTX nông nghiệp trên địa bàn huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn trong thời gian tới.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các tổ hợp tác (THT) và các hợp tác xã nông nghiệp đang hoạt động trên địa bàn huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn.
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian: Địa bàn huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn (bao gồm 21 xã và 01 thị trấn).
- Phạm vi thời gian: Thu thập số liệu thứ cấp trong giai đoạn 3 năm từ 2014 đến 2016; các số liệu sơ cấp được điều tra, khảo sát thực tế tại các đơn vị trong năm 2017.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận thiết lập nền tảng nghiên cứu dựa trên các khái niệm kinh tế học và hệ thống quy định pháp luật điều chỉnh khu vực kinh tế tập thể tại Việt Nam.
Khung lý thuyết và pháp lý:
- Khái niệm kinh tế hợp tác: Là một phạm trù về lợi ích kinh tế do hợp tác mang lại, phản ánh sự liên kết tự nguyện của những người lao động, các tổ chức dưới nhiều hình thức để kết hợp sức mạnh tập thể nhằm thực hiện hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống. Kinh tế hợp tác giản đơn được hình thành dưới dạng các tổ, nhóm, hội hợp tác tự nguyện giữa các chủ thể độc lập có chung mục đích sản xuất.
- Khái niệm HTX và Liên hiệp HTX: Căn cứ theo Luật Hợp tác xã năm 2012, HTX là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập để tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo việc làm trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ. Liên hiệp HTX do ít nhất 04 HTX tự nguyện thành lập.
- Nguyên tắc tổ chức và hoạt động: Khóa luận phân tích 7 nguyên tắc cốt lõi theo Luật HTX năm 2012 gồm: tự nguyện gia nhập/ra khỏi HTX; kết nạp rộng rãi; bình đẳng, biểu quyết ngang nhau không phụ thuộc vào tỷ lệ vốn góp; tự chủ, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật; phân phối thu nhập chủ yếu theo mức độ sử dụng dịch vụ/sản phẩm hoặc công sức lao động; coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng thông tin; chăm lo phát triển bền vững cộng đồng và tăng cường hợp tác giữa các HTX.
- Cơ sở thực tiễn và lịch sử pháp lý: Tác giả điểm lại tiến trình phát triển của HTX nông nghiệp Việt Nam qua các cột mốc: giai đoạn 1957 - 1986 (Thông tư 449/TTg ban hành Điều lệ mẫu HTX bậc thấp năm 1959, phong trào HTX bậc cao 1961 - 1975); giai đoạn đổi mới cơ chế quản lý trước Luật HTX (Nghị quyết số 10 của Bộ Chính trị năm 1988 - Khoán 10); và giai đoạn thực thi pháp luật hiện đại từ Luật HTX năm 1996, Luật HTX năm 2003 đến Luật HTX năm 2012 (được sửa đổi bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10).
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp: Khai thác số liệu thống kê kinh tế - xã hội, báo cáo tổng kết tình hình hoạt động của các HTX từ Ủy ban nhân dân huyện Na Rì, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Na Rì, Liên minh HTX tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2014 - 2016.
- Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp: Thực hiện khảo sát chọn mẫu đại diện với quy mô $n = 23$ HTX nông nghiệp trên địa bàn huyện trong năm 2017. Công cụ thu thập gồm bảng hỏi có cấu trúc dành cho giám đốc, ban quản lý và thành viên HTX; phương pháp phỏng vấn người nắm thông tin chủ chốt (KIP - Key Informant Panel); và phỏng vấn bán cấu trúc nhằm khai thác sâu các khó khăn, vướng mắc thực tế.
- Phương pháp phân tích và xử lý số liệu: Số liệu thu thập được tổng hợp, xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel. Tác giả áp dụng các phương pháp thống kê mô tả, phân tích cơ cấu, so sánh số tuyệt đối và số tương đối để làm rõ các chỉ tiêu thực trạng.
- Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu: Sử dụng hệ thống chỉ tiêu phản ánh quy mô (vốn, thành viên, diện tích đất đai), chỉ tiêu cơ cấu ngành nghề; hệ thống chỉ tiêu kết quả sản xuất bao gồm Giá trị sản xuất ($GO$), Chi phí trung gian ($IC$), Giá trị gia tăng ($VA$), Thu nhập hỗn hợp ($MI$), Lợi nhuận ($Pr$); và các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế như $GO/ha$, $VA/ha$, chi phí $IC/1kg$ sản phẩm, $GO/IC$ và $VA/IC$.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Phần mở đầu xác định tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh thực hiện Luật HTX năm 2012 tại khu vực miền núi. Tác giả chỉ ra rằng đa số HTX nông nghiệp tại huyện Na Rì gặp lúng túng trong quá trình chuyển đổi hoạt động, thiếu hụt các mô hình sản xuất kinh doanh có lãi và chưa phát huy vai trò liên kết chuỗi giá trị. Phần này nêu rõ mục tiêu chung, 3 mục tiêu cụ thể, ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn đối với công tác phát triển nông thôn trên địa bàn.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Chương này tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận về kinh tế hợp tác, sự cần thiết khách quan của việc liên kết kinh tế trong sản xuất nông nghiệp xuất phát từ tính chất bấp bênh của ngành sản xuất phụ thuộc vào tự nhiên. Tác giả phân tích chi tiết bản chất của mô hình HTX theo Luật HTX năm 2012 và so sánh với Luật HTX năm 1996, 2003; đồng thời điểm lại các giai đoạn phát triển lịch sử từ HTX bậc thấp, bậc cao đến cơ chế khoán 10 năm 1988. Bên cạnh đó, tác giả đưa vào các số liệu thực tiễn đối chứng về tình hình HTX tại tỉnh Bắc Giang (563 HTX, vốn đăng ký gần 380 tỷ đồng) và tỉnh Thái Nguyên (123 HTX nông nghiệp tính đến năm 2010 với 70% còn yếu kém) để làm nổi bật bối cảnh chung của vùng Trung du và Miền núi phía Bắc.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Nội dung chương trình bày chi tiết về đối tượng điều tra là các tổ hợp tác và 23 HTX nông nghiệp tại huyện Na Rì; quy trình thiết kế phiếu điều tra; kỹ thuật phỏng vấn sâu cán bộ quản lý HTX và phương pháp tổng hợp dữ liệu trên Microsoft Excel. Tác giả định nghĩa phương pháp luận và công thức xác định hệ thống chỉ tiêu kinh tế nông nghiệp phục vụ cho các tính toán ở phần kết quả nghiên cứu.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu
Đây là chương nội dung trọng tâm của khóa luận, bao gồm các phân tích toàn diện:
- Đặc điểm địa bàn nghiên cứu: Na Rì có diện tích tự nhiên 85.300 ha (chiếm 17,54% diện tích tỉnh Bắc Kạn), gồm 21 xã và 1 thị trấn với 233 thôn bản. Địa hình phức tạp, chia cắt bởi núi đá vôi (đỉnh Phyia Ngoằm cao 1.193m, vùng thấp Kim Lư cao 250m) và hai hệ thống sông lớn là sông Bắc Giang và sông Na Rì. Về kinh tế, giai đoạn 2014 - 2016, cơ cấu kinh tế có sự dịch chuyển: nông nghiệp giảm từ 19,15% xuống 16,35%, công nghiệp & tiểu thủ công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất đạt 53,90% (năm 2016), thương mại & dịch vụ tăng từ 25,54% lên 29,75%.
- Thực trạng chuyển đổi theo Luật HTX 2012: Quá trình triển khai gặp trở ngại do nhận thức của ban quản lý và thành viên chưa đầy đủ; tư tưởng trông chờ ỷ lại vào hỗ trợ nhà nước còn nặng nề; vốn góp của thành viên mang tính hình thức; quy mô hoạt động manh mún theo tính chất kinh tế hộ.
- Phân tích 23 HTX nông nghiệp khảo sát:
- Về cơ sở vật chất: Chỉ có 2/23 HTX có trụ sở làm việc riêng (chiếm 8,7%, gồm 1 HTX xếp loại tốt và 1 HTX xếp loại trung bình), 21 HTX còn lại không có trụ sở riêng (chiếm 91,3%).
- Về thời điểm thành lập: 19/23 HTX được thành lập sau năm 2012 (chiếm 82,6%), 4 HTX thành lập trước năm 2012 (chiếm 17,4%).
- Về loại hình: Có 15 HTX chuyên ngành nông nghiệp (chiếm 65,21%), 5 HTX dịch vụ nông nghiệp (chiếm 21,73%) và 3 HTX sản xuất nông nghiệp (chiếm 13,06%). Toàn bộ 23 HTX đều hoạt động ở quy mô thôn.
- Về chính sách lao động: Chỉ có duy nhất 1 HTX (chiếm 5%) đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động là HTX Sản xuất và chế biến Nông sản Đồng Tâm (thôn Đồng Tâm, xã Kim Lư); 22 HTX còn lại (95%) không tham gia đóng bảo hiểm xã hội. Về thương mại quốc tế, chỉ có 1 đơn vị nhập khẩu hàng hóa nước ngoài là HTX Thành Ngân (thôn Nà Tâng, xã Cường Lợi).
- Nguồn lực của các HTX:
- Đội ngũ giám đốc: 100% giám đốc có độ tuổi trên 30 (tuổi trung bình 50,15 tuổi); 87% là nam giới (20 người) và 13% là nữ giới (3 người). Trình độ chuyên môn của giám đốc rất thấp: 70% là lao động phổ thông (16 người), 26% có trình độ cao đẳng, trung cấp (6 người) và chỉ có 4% có trình độ đại học (1 người).
- Nguồn lực tài chính: Các HTX dịch vụ nông nghiệp có vốn góp bình quân 93 triệu đồng, hoạt động theo phương thức thu bù chi, phục vụ nội bộ và không có lãi; khả năng tiếp cận vốn vay từ Ngân hàng Chính sách xã hội gần như bằng không. Đối với các HTX chuyên ngành nông nghiệp, vốn góp bình quân là 90 triệu đồng/thành viên; tổng doanh thu ghi nhận 434,2 triệu đồng/5 tháng (trung bình 35 triệu đồng/HTX/5 tháng); lợi nhuận trung bình đạt 42 triệu đồng/HTX/5 tháng; thu nhập bình quân của thành viên và lao động thường xuyên đạt 3,5 triệu đồng/người/tháng.
- Đất đai sản xuất: 100% diện tích đất do các HTX quản lý đều là đất thuộc sở hữu của cá nhân/hộ thành viên tự nguyện đóng góp, HTX không thực hiện thuê hay đấu thầu đất. Tổng diện tích đất sản xuất của 23 HTX là 65,3 ha; trong đó 15 HTX chuyên ngành nông nghiệp quản lý 49,7 ha (chiếm 65,23%), 3 HTX sản xuất nông nghiệp quản lý 8,6 ha, và 5 HTX dịch vụ nông nghiệp quản lý 7 ha (bình quân 1,4 ha/HTX).
- Cơ cấu thành viên và lao động: Tổng số thành viên của 23 HTX là 242 người (nam chiếm 71,07%, nữ chiếm 28,93%). Về trình độ học vấn, 84,31% thành viên là lao động phổ thông (208 người), trình độ đại học và trên đại học chỉ chiếm 3,30% (8 người). Nhóm tuổi chiếm ưu thế nhất là từ 26 đến 35 tuổi (chiếm 41%), trong khi nhóm tuổi thanh niên 18 - 25 tuổi chỉ chiếm 2,5%.
- Ngành nghề sản xuất kinh doanh chính: Chăn nuôi chiếm tỷ trọng lớn nhất với 48% (11 HTX chăn nuôi lợn, gà, trâu, bò, dê); dịch vụ nông nghiệp chiếm 17% (4 HTX cung ứng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, làm đất); sản xuất tiểu thủ công nghiệp (miến, chổi, bún phở) chiếm 17% (4 HTX); trồng rau đậu chiếm 14% (3 HTX) và buôn bán thực phẩm chiếm 4% (1 HTX).
- Phân tích rào cản và xếp hạng khó khăn: Tác giả xây dựng thang đo xếp hạng khó khăn dựa trên phương pháp cho điểm khảo sát (thang điểm từ 10 đến 5 theo thứ tự ưu tiên). Kết quả xếp hạng cụ thể: Thiếu vốn đứng ở vị trí thứ nhất (233 điểm); Máy móc, thiết bị, công nghệ lạc hậu đứng thứ 2 (199 điểm); Trình độ quản lý kém xếp thứ 3 (166 điểm); Trình độ tay nghề của lao động thấp xếp thứ 4 (161 điểm); Thiếu đất đai, nhà xưởng xếp thứ 5 (161 điểm); Khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm xếp thứ 6 (150 điểm); và các khó khăn khác xếp thứ 7 (20 điểm). Ngoài ra, nhiệm kỳ đại hội thành viên diễn ra trung bình 1,6 năm/lần (khoảng 18 tháng), làm cho bộ máy điều hành thiếu ổn định, cản trở việc xây dựng kế hoạch dài hạn.
- Nhóm giải pháp phát triển: Tác giả xây dựng giải pháp đồng bộ từ hai phía:
- Về phía HTX: Mở rộng huy động vốn; nâng cao chất lượng nông sản; tái định hướng sản xuất kinh doanh theo nhu cầu thực tế của địa phương; ổn định bộ máy tổ chức; đẩy mạnh quan hệ hợp tác và liên kết tiêu thụ với các đối tác bên ngoài.
- Về phía cơ quan quản lý nhà nước: Tăng cường tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ quản lý HTX; đơn giản hóa thủ tục tiếp cận chính sách ưu đãi; tháo gỡ rào cản hành chính và hỗ trợ tiếp cận các nguồn tín dụng ưu đãi.
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
Đưa ra kết luận tổng hợp về tình hình hoạt động của các HTX nông nghiệp trên địa bàn huyện Na Rì và các kiến nghị cụ thể gửi tới Ủy ban nhân dân huyện, Liên minh HTX tỉnh Bắc Kạn và Sở Nông nghiệp & PTNT nhằm tạo lập môi trường thể chế thuận lợi cho các HTX chuyển đổi thực chất.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp các số liệu định lượng cụ thể phản ánh trung thực diện mạo của khu vực kinh tế hợp tác nông nghiệp tại một huyện miền núi nghèo của tỉnh Bắc Kạn.
Tổng hợp các số liệu đặc trưng từ nghiên cứu khảo sát:
| Nhóm chỉ tiêu |
Thông số định lượng cụ thể từ văn bản |
| Quy mô mẫu khảo sát |
23 HTX nông nghiệp trên địa bàn huyện Na Rì |
| Thời điểm thành lập |
- Sau năm 2012: 19 HTX (82,6%) - Trước năm 2012: 4 HTX (17,4%) |
| Trụ sở làm việc |
- Có trụ sở riêng: 2 HTX (8,7%) - Không có trụ sở riêng: 21 HTX (91,3%) |
| Xếp loại hoạt động |
- Tốt: 1 HTX (4,3%) - Khá: 5 HTX (21,7%) - Trung bình: 8 HTX (34,8%) - Chưa xếp loại/Mới lập: 9 HTX (39,1%) |
| Cơ cấu ngành nghề chính |
- Chăn nuôi: 11 HTX (48%) - Dịch vụ nông nghiệp: 4 HTX (17%) - Sản xuất miến, chổi, bún phở: 4 HTX (17%) - Trồng trọt rau, đậu: 3 HTX (14%) - Buôn bán thực phẩm: 1 HTX (4%) |
| Nhân sự quản lý (Giám đốc) |
- Giới tính: 87% Nam, 13% Nữ - Tuổi trung bình: 50,15 tuổi (100% trên 30 tuổi) - Trình độ: 70% phổ thông, 26% CĐ-TC, 4% Đại học |
| Thành viên & Lao động |
- Tổng số thành viên: 242 người (71,07% Nam, 28,93% Nữ) - Trình độ chuyên môn: 84,31% là lao động phổ thông - Độ tuổi chiếm ưu thế: 26 - 35 tuổi (41%) |
| Thực hiện chính sách BHXH |
- Có đóng BHXH: 1 HTX (5% - HTX Đồng Tâm) - Không đóng BHXH: 22 HTX (95%) |
| Thương mại quốc tế |
1 HTX có nhập khẩu hàng hóa nước ngoài (HTX Thành Ngân) |
Bảng xếp hạng khó khăn của các HTX nông nghiệp huyện Na Rì:
| STT |
Danh mục khó khăn khảo sát |
Điểm số đánh giá |
Thứ tự xếp hạng |
| 1 |
Thiếu vốn đầu tư sản xuất kinh doanh |
233 |
1 |
| 2 |
Máy móc, thiết bị, công nghệ lạc hậu |
199 |
2 |
| 3 |
Trình độ quản lý của ban điều hành kém |
166 |
3 |
| 4 |
Trình độ tay nghề của người lao động thấp |
161 |
4 |
| 5 |
Thiếu đất đai, nhà xưởng sản xuất |
161 |
5 |
| 6 |
Khó khăn trong tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm |
150 |
6 |
| 7 |
Nhóm các khó khăn khác (thiên tai, dịch bệnh, liên kết...) |
20 |
7 |
Đóng góp của khóa luận:
- Cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm chi tiết về hiện trạng vận hành của các HTX nông nghiệp tại huyện Na Rì sau 4 năm triển khai Luật HTX năm 2012.
- Làm rõ nguyên nhân sâu xa dẫn đến tình trạng hoạt động kém hiệu quả của các HTX miền núi: sự thiếu hụt nghiêm trọng về vốn, công nghệ lạc hậu, trình độ học vấn của người đứng đầu còn thấp (chủ yếu là lao động phổ thông chiếm 70%), và tình trạng nhiệm kỳ quản lý quá ngắn (bình quân 1,6 năm/lần đại hội), khiến bộ máy không có tính kế thừa và chiến lược dài hạn.
- Đề xuất hệ thống giải pháp gắn liền với đặc thù kinh tế hộ vùng cao, nhấn mạnh việc tận dụng đất tự có của hộ thành viên và tập trung vào các sản phẩm thế mạnh như chăn nuôi (chiếm 48%) và chế biến nông sản địa phương (miến, bún phở).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số giới hạn gắn liền với phạm vi và điều kiện thực hiện của tác giả:
- Giới hạn phạm vi dữ liệu: Nghiên cứu chỉ dừng lại ở mẫu khảo sát 23 HTX nông nghiệp trên địa bàn huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn. Dữ liệu thứ cấp dừng ở mốc thời gian 2016 và số liệu sơ cấp thu thập năm 2017.
- Giới hạn trong phân tích tài chính: Do đặc thù các HTX dịch vụ nông nghiệp tại địa bàn hoạt động mang tính phục vụ nội bộ, thu chi cào bằng, không hạch toán lợi nhuận và hệ thống chứng từ kế toán chưa hoàn chỉnh, tác giả chưa thể tính toán đầy đủ toàn bộ hệ thống chỉ tiêu tài chính chi tiết ($GO/ha, VA/ha, GO/IC$) cho từng HTX riêng lẻ mà mới phản ánh trên mức bình quân của nhóm HTX chuyên ngành.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi khảo sát ra toàn bộ các HTX trên phạm vi tỉnh Bắc Kạn; theo dõi đánh giá tác động dài hạn của các chính sách hỗ trợ kinh tế tập thể của tỉnh sau giai đoạn 2018; và nghiên cứu chuyên sâu về các mô hình chuỗi liên kết giá trị đối với các sản phẩm nông sản đặc sản của Na Rì như miến dong, bún phở và chăn nuôi đại gia súc.
Giá trị tham khảo
Tài liệu khóa luận mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:
- Sinh viên chuyên ngành Phát triển nông thôn, Kinh tế nông nghiệp, Quản lý kinh tế: Khóa luận là tài liệu tham khảo cụ thể về phương pháp thiết kế phiếu điều tra, kỹ thuật chọn mẫu nghiên cứu định lượng, phỏng vấn KIP và kỹ thuật xử lý dữ liệu khảo sát nông thôn bằng phần mềm Microsoft Excel.
- Cán bộ quản lý HTX và cơ quan quản lý nhà nước cấp huyện, xã: Các số liệu về rào cản thiếu vốn (233 điểm), sự hạn chế về năng lực quản trị của giám đốc (70% lao động phổ thông) và tỷ lệ không đóng BHXH (95%) là căn cứ thực tế quan trọng để các nhà hoạch định chính sách tại địa phương xây dựng chương trình bồi dưỡng năng lực, hỗ trợ tín dụng và hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể tại các huyện miền núi có điều kiện tương tự Na Rì.
Câu hỏi thường gặp
1. Mức độ tham gia bảo hiểm xã hội của người lao động trong các HTX nông nghiệp tại huyện Na Rì như thế nào?
Khảo sát 23 HTX nông nghiệp cho thấy tỷ lệ thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội rất thấp. Có tới 22/23 HTX (chiếm 95%) không đóng bảo hiểm xã hội cho thành viên và lao động. Chỉ duy nhất 1 đơn vị thực hiện việc này (chiếm 5%) là HTX Sản xuất và chế biến Nông sản Đồng Tâm tại thôn Đồng Tâm, xã Kim Lư.
2. Trình độ học vấn và độ tuổi của đội ngũ giám đốc HTX nông nghiệp tại địa bàn được ghi nhận ra sao?
100% giám đốc các HTX khảo sát đều trên 30 tuổi, độ tuổi trung bình là 50,15 tuổi. Nam giới chiếm 87% (20 người), nữ giới chiếm 13% (3 người). Về trình độ chuyên môn, có 16 giám đốc là lao động phổ thông (chiếm 70%), 6 người có trình độ cao đẳng, trung cấp (chiếm 26%) và chỉ có duy nhất 1 người có bằng đại học (chiếm 4%).
3. Khó khăn lớn nhất mà các HTX nông nghiệp tại Na Rì đang đối mặt là gì theo đánh giá định lượng của khóa luận?
Theo bảng tổng hợp thang điểm điều tra của tác giả, khó khăn đứng vị trí thứ nhất là "Thiếu vốn" với 233 điểm. Xếp thứ hai là "Máy móc, thiết bị, công nghệ lạc hậu" với 199 điểm; tiếp theo là "Trình độ quản lý kém" đạt 166 điểm và "Trình độ tay nghề của lao động thấp" cùng "Thiếu đất đai, nhà xưởng" với 161 điểm.
4. Đặc điểm nguồn lực đất đai phục vụ sản xuất của các HTX nông nghiệp tại huyện Na Rì có gì đặc thù?
100% diện tích đất nông nghiệp do các HTX quản lý đều là đất thuộc quyền sử dụng của cá nhân/hộ thành viên tự nguyện đóng góp phục vụ sản xuất chung; các HTX không thực hiện thuê mướn hay đấu thầu đất công để mở rộng quy mô. Tổng diện tích đất của 23 HTX khảo sát là 65,3 ha, trong đó các HTX chuyên ngành nông nghiệp chiếm phần lớn với 49,7 ha (65,23%).
Kết luận
Khóa luận của tác giả Lý Ngọc Luyện đã phác họa một cách hệ thống, khách quan và chi tiết thực trạng phát triển của 23 hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn trong giai đoạn chuyển đổi theo Luật HTX năm 2012. Nghiên cứu chỉ rõ những khó khăn cốt lõi của khu vực này, bao gồm sự thiếu hụt vốn đầu tư, công nghệ máy móc thô sơ, sự hạn chế về trình độ quản lý của đội ngũ giám đốc và tính liên kết chuỗi giá trị còn mờ nhạt. Những số liệu thực nghiệm và nhóm giải pháp được đề xuất trong công trình là tài liệu hữu ích phục vụ công tác nghiên cứu học thuật và xây dựng chính sách phát triển kinh tế hợp tác tại các vùng nông thôn miền núi.