CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Đại cương về COVID-19 1. Vài nét sơ lược về virus SARS-CoV-2 Coronavirus (CoVs) là một nhóm virus thuộc họ Coronavididae của bộ Nidovirirales [8]. Chúng chủ yếu gây nhiễm trùng đường hô hấp và đường tiêu hóa và được phân loại về mặt di truyền thành bốn chi chính: Alphacoronavirus, Betacoronavirus, Gammacoronavirus và Deltacoronavirus.
Trong đó, Alpha và Beta-CoVs có thể lây nhiễm sang người, Gama và Delta- CoVs chủ yếu lây nhiễm cho các loài chim [9]. SARS-CoV-2 là virus RNA hình cầu, tác nhân gây ra bệnh Coronavirus hiện nay (COVID-19), thuộc giống Beta-CoV và nó được coi là đợt bùng phát coronavirus lớn thứ ba sau 20 năm qua sau hội chứng hô hấp cấp tính nặng (SARS) và Hội chứng hô hấp Trung Đông (MERS) [9, 10]. Người nhiễm SARS-CoV-2 có thể gặp một trong các biểu hiện lâm sàng, bao gồm cả nhiễm trùng không triệu chứng, bệnh nhẹ (sốt, ho, đau họng, khó chịu, nhức đầu, đau cơ, buồn nôn/nôn, tiêu chảy, thiếu máu và triệu chứng giả không khó thở hoặc bất thường trên ảnh chụp ngực), bệnh vừa (bệnh đường hô hấp dưới với độ bão hòa oxy SpO2 ≥ 94%), bệnh nặng (SpO2 < 94%, tần số hô hấp 30 nhịp thở/phút, hoặc thâm nhiễm phổi >50%), và bệnh nguy kịch (rối loạn chức năng hô hấp, sốc nhiễm trùng, có/không kèm theo suy tạng) [11]. Các đột biến thích ứng trong bộ gen SARS-CoV-2 có thể làm thay đổi khả năng gây bệnh của nó, đồng thời sẽ làm tăng khó khăn trong việc phát triển thuốc và vắc-xin.
Dựa trên cập nhật dịch tễ học của WHO, tính đến 11/12/2021, năm biến thể SARS-CoV-2 đã gây ảnh hưởng nhiều nhất và cần quan tâm kể từ khi bắt đầu đại dịch đã được xác định: Alpha (B. Đặc điểm dịch tễ học bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới virus corona (COVID-19) Hội chứng hô hấp cấp do coronavirus mới (SARS-CoV-2) gây ra, lần đầu tiên được phát hiện tại Vũ Hán (Trung Quốc) vào cuối tháng 12/2020. 3 Luan van Ngày 11/03/2020, WHO đã xác định mức độ lây lan và mức độ nghiêm trọng của bệnh nhiễm trùng SARS-CoV-2 và tuyên bố đợt bùng phát COVID-19 được ghi nhận trong những tháng trước đó là một đại dịch [13]. Số liệu thống kê của WHO cho đến ngày 13/02/2022, số ca nhiễm COVID-19 trên toàn thế giới là hơn 410 triệu ca, số ca tử vong là hơn 5,81 triệu người, ảnh hưởng hơn 200 quốc gia.
Ba nước có tỷ lệ nhiễm ca nhất là Hoa Kỳ, Ấn Độ, Brazil. Còn tại Việt Nam tính đến ngày 13/02/2022, có hơn 2,5 triệu ca nhiễm, trong đó có hơn 2,2 triệu ca đã khỏi và gần 39 nghìn ca tử vong, số ca nhiễm COVID-19 trong 7 ngày có xu hướng tăng [14]. 1: Mức độ phổ biến toàn cầu của các biến thể Alpha, Beta, Gamma và Delta tính đến ngày 27/07/2021 (Màu sắc biểu thị tỷ lệ % phổ biến) [15]. Mọi lứa tuổi đều có nguy cơ bị nhiễm trùng và bệnh nặng.
Tuy nhiên, bệnh nhân trên 60 tuổi và bệnh nhân có các bệnh lý cơ bản đi kèm như béo phì, tim mạch, bệnh thận mạn tính,… có nhiều nguy cơ phát triển nặng. Các nghiên cứu cho thấy bệnh nhân nam có nhiều nguy cơ phát triển bệnh nặng và tăng tỷ lệ tử vong do COVID-19 hơn so với bệnh nhân nữ [16, 17]. Tương tự, sự khác nhau giữa các nhóm dân tộc cũng ảnh hưởng mức độ nghiêm trọng của nhiễm trùng và tử vong liên quan đến COVID. Các nhóm dân tộc thiểu số da đen, Tây Ban Nha và châu Á có nhiều nguy cơ mắc bệnh và tử vong do nhiễm COVID-19 [18].
Một số biểu hiện lâm sàng ở những phụ nữ mang thai/đang cho con bú nhiễm SARS-CoV-2 Trong một nghiên cứu quy mô lớn gồm 12.8176 bệnh nhân không mang thai (228 nghiên cứu) và 10.000 bệnh nhân có thai (121 nghiên cứu) đã xác nhận COVID-19. Phụ nữ mang thai có các biểu hiện COVID-19 giống như bệnh nhân người lớn không mang thai: sốt (có thai: 75,5%; không mang thai: 74%) và ho (có thai: 48,5%; không mang thai: 53,5%) là các triệu chứng phổ biến nhất ở cả hai nhóm, sau đó là đau cơ (26,5%) và ớn lạnh (25%) ở phụ nữ có thai và rối loạn tiêu hóa (27%) và mệt mỏi (26,5%) ở bệnh nhân không mang thai [19]. Tuy nhiên, báo cáo của Mona và CS đã chứng minh rằng những phụ nữ mang thai có chẩn đoán COVID-19, so với những thai phụ không có chẩn đoán COVID-19, về cơ bản tăng nguy cơ bị các biến chứng thai kỳ nghiêm trọng, bao gồm tiền sản giật/ sản giật/ hội chứng HELLP, nhập viện ICU hoặc chuyển đến cấp độ chăm sóc cao hơn và nhiễm trùng cần thuốc kháng sinh, cũng như sinh non và nhẹ cân. Phụ nữ được chẩn đoán COVID-19 có tỷ lệ chuyển dạ tự nhiên thấp hơn nhưng tỷ lệ sinh mổ cao hơn, phản ánh tỷ lệ biến chứng thai nghén cao hơn ở nhóm này [1].
Nguy cơ tử vong mẹ là 1,6%, cao hơn 22 lần ở nhóm phụ nữ được chẩn đoán COVID-19. Những ca tử vong này tập trung ở các cơ sở từ các khu vực kém phát triển hơn, có nghĩa là khi các dịch vụ ICU toàn diện không được cung cấp đầy đủ, COVID-19 trong thai kỳ có thể gây tử vong. Ở những thai phụ mắc trước khi mắc COVID-19, đã có nguy cơ cao bị tiền sản do thừa cân, tiểu đường, cao huyết áp, các bệnh về tim mạch và hô hấp mãn tính, khi nhiễm COVID-19 có nguy cơ phát triển tiền sản giật/sản giật cao hơn gần 4 lần so với nhóm thai phụ không bị COVID-19 [20, 21]. Sự hiện diện của bất kỳ triệu chứng COVID-19 nào cũng có liên quan đến việc gia tăng tỷ lệ mắc bệnh và tử vong.
Tỷ lệ biến chứng thai nghén và sơ sinh nặng cao nhất ở phụ nữ nếu có sốt và khó thở, phản ánh bệnh lý toàn thân, sự hiện diện của chúng trong 1 - 4 ngày có liên quan đến các biến chứng nặng ở mẹ và trẻ sơ sinh [22]. 5 Luan van Nguy cơ biến chứng sơ sinh nghiêm trọng, bao gồm NICU ở lại 7 ngày hoặc lâu hơn, cũng như chỉ số tóm tắt về bệnh tật nặng ở trẻ sơ sinh và các thành phần riêng lẻ, cũng cao hơn đáng kể ở nhóm phụ nữ được chẩn đoán COVID-19. Nguy cơ sơ sinh tăng lên vẫn còn sau khi điều chỉnh sinh non trước đó và sinh non trong thai kỳ chỉ số; do đó, có thể có ảnh hưởng trực tiếp đến trẻ sơ sinh từ COVID-19 [23]. Kết quả cho thấy 12,1% trẻ sơ sinh được sinh ra từ những phụ nữ có kết quả xét nghiệm dương tính cũng có kết quả dương tính, một con số cao hơn so với một đánh giá có hệ thống gần đây [24].
Phụ nữ mang thai, phụ nữ đang cho con bú và thai nhi của họ là nhóm dân số có nguy cơ cao trong các đợt bùng phát bệnh truyền nhiễm. Những thay đổi sinh lý và cơ học trong thai kỳ làm tăng tính nhạy cảm với các bệnh nhiễm trùng, tăng nguy cơ biến chứng sản khoa. Bên cạnh các khuyến cáo về giữ vệ sinh, đeo khẩu trang nơi đông người thì tiêm vắc-xin phòng COVID-19 vẫn được coi là một biện pháp hiệu quả để bảo vệ người mẹ và thai nhi của họ. Nguyên tắc điều trị COVID-19 Theo “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị COVID-19” của Bộ Y Tế 01/2022 thì những người mắc COVID-19 sẽ được điều trị theo các nguyên tắc như sau [25]: - Điều trị nguyên nhân - Điều trị suy hô hấp: thở oxy, CPAP, BiPAP, HFNC, nằm sấp, thở máy xâm nhập, ECMO - Điều trị suy tuần hoàn, điều trị bội nhiễm - Điều trị chống cơn bão cytokin: corticoid, lọc máu, ức chế sản xuất hoặc đối kháng IL receptor.
- Điều trị chống đông. - Điều trị hỗ trợ khác: dinh dưỡng, vật lý trị liệu, sức khỏe tâm thần - Điều trị triệu chứng: giảm ho, giảm đau. - Điều trị bệnh nền (nếu có). - Tâm lý liệu pháp 6 Luan van 1.
Đại cương về vắc-xin phòng COVID-19 1. Cơ chế sinh miễn dịch của vắc-xin phòng COVID-19 Cách tốt nhất và an toàn nhất để kiểm soát dịch COVID-19 cho đến nay là sử dụng vắc-xin để tạo miễn dịch cộng đồng. Các hãng Dược phẩm trên thế giới đã phát triển các loại vắc-xin phòng COVID-19 với tốc độ nhanh và chưa từng có để đáp ứng nhu cầu cấp bách trước đại địch. Tính đến tháng 10/2021 có 289 vắc-xin đang trong quá trình phát triển.
Đáng chú ý hơn là có 20 loại vắc-xin được công bố rộng rãi và hơn 3,3 tỷ liều vắc-xin COVID-19 đã được sử dụng trên 180 quốc gia [26]. Các loại vắc-xin COVID-19 hiện tại đang được sản xuất theo 3 cơ chế chính: Vắc-xin dựa trên protein: Vắc-xin dựa trên protein có thể bao gồm protein tinh khiết của virus hoặc các phần tử giống virus SARS-CoV-2. Sau khi tiêm vào cơ thể, hệ miễn dịch ghi nhận rằng protein là chất lạ và phản ứng miễn dịch tạo ra kháng thể. Đồng thời, vắc-xin giúp tế bào ghi nhớ nhận diện tác nhân gây bệnh, tiến hành tiêu diệt chúng nếu bị tấn công trong tương lai [27].
Vắc-xin mRNA: đưa phân tử RNA được tổng hợp vào tế bào của cơ thể. Khi đã vào trong tế bào, mRNA tổng hợp của vaccine hoạt động như một mRNA tự nhiên, khởi động tổng hợp protein mới, kích hoạt đáp ứng miễn dịch của cơ thể chống lại protein của virus. Như vậy cơ thể được nhận vaccine, vừa tạo kháng nguyên (protein của virus), vừa tạo đáp ứng miễn dịch chống lại protein này (kháng thể + đáp ứng tế bào) [28]. Vắc xin vector: Vắc xin được sản xuất bằng cách sử dụng mã di truyền là các protein gai trên bề mặt của virus để vận chuyển mã di truyền cho kháng nguyên.
Khi vắc xin tiêm vào trong cơ thể, nó sẽ kích thích cơ thể tạo ra một lượng lớn kháng nguyên, kích hoạt phản ứng miễn dịch. Vắc-xin bắt chước những gì xảy ra trong quá trình lây nhiễm tự nhiên với một số mầm bệnh, đặc biệt là vi rút. Vì vậy, kích hoạt phản ứng miễn dịch tế bào mạnh mẽ của tế bào T cũng như sản xuất kháng thể của tế bào B [29]. Các vắc-xin phòng COVID-19 được sử dụng tại Việt Nam và mức độ bao phủ của tiêm phòng vắc-xin tại Việt Nam Các vắc-xin phòng COVID-19 được sử dụng tại Việt Nam Tính đến tháng 02/2022 Việt Nam đã phê duyệt 9 vắc-xin phòng COVID-19 bao gồm [26, 30]: Bảng 1.