ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư vòm họng (UTVH) là một bệnh lý ác tính xuất phát từ vùng biểu mô vòm họng. Theo thống kê của Globocan (2018), tại Việt Nam, có đến 6.212 trường hợp mắc và 4.232 trường hợp tử vong gây ra bởi UTVH được ghi nhận. Bên cạnh đó, số liệu thống kê vào năm 2018 còn chỉ ra trên tổng số 129.079 số ca mắc UTVH trên thế giới thì Việt Nam là một trong các quốc gia hàng đầu với số ca mắc và tử vong do UTVH cao nhất khu vực Châu Á, chỉ sau Trung Quốc và Indonesia. Các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng: sự biểu hiện bất thường của các microRNA, chẳng hạn microRNA-21, có mối liên quan chặt chẽ đến con đường sinh ung và phát triển khối u vòm họng thông qua việc làm rối loạn các con đường tín hiệu tế bào bằng việc tương tác đến các gen đích khác nhau.
Do đó, các nghiên cứu trên thế giới đã và đang tập trung nghiên cứu sự biểu hiện các miRNA nói chung và miRNA-21 nói riêng và con đường tín hiệu của chúng để hướng tới phát triển dấu chứng sinh học tiềm năng cho việc sàng lọc, chẩn đoán sớm, điều trị bệnh UTVH. Điều đáng nhấn mạnh rằng, tại Việt Nam, việc nghiên cứu về tính chất phân tử nói chung – cụ thể là xây dựng mối tương quan giữa sự biểu hiện của miRNA-21 với các gen mục tiêu trong các con đường truyền tín hiệu trên bệnh UTVH hầu như chưa được thực hiện. Do đó, việc tìm hiểu tính chất biểu hiện của miRNA-21 với các gen mục tiêu trên bệnh UTVH là một điều cần thiết. Hơn nữa, để tiếp cận được xu hướng y học cá thể (personal medicine) – xu hướng hiện nay thế giới đang quan tâm và phát triễn, thì bên cạnh việc tích lũy các dữ liệu lớn (big data), thì việc tìm hiểu chức năng, ảnh hưởng của mỗi phân tử gen đến tính trạng con người, để rồi qua đó, việc chăm sóc sức khỏe cho mỗi cá nhân sẽ dần được thực hiện dựa trên chính thông tin của gen của cá nhân đó, là rất cần thiết.
Cho nên, những nghiên cứu về tính chất của mỗi gen cần phải được thực hiện trên mỗi quần thể, mỗi dân tộc đặc trưng để tìm ra những điểm riêng, phản ánh tính chất tương tác 2 của phân tử đó với điều kiện sinh môi mang tính chất đặc trưng của mỗi đất nước, mỗi vùng miền liên quan đến bệnh đang nghiên cứu. Do đó, nghiên cứu này với tên đề tài “Khảo sát mối tương quan giữa tính chất biểu hiện của miRNA-21 với một số gen đích trên bệnh nhân ung thư vòm họng tại Việt Nam” được đặt ra đi theo xu hướng đó, bố trí các thực nghiệm ca – chứng (case – control study) trên chính người bệnh Việt Nam, tập trung vào yếu tố biểu hiện của miRNA-21 và các gen đích để từ đó góp phần làm sáng tỏ con đường tín hiệu liên quan đến sự hình thành, phát triển khối u vòm họng ở người Việt Nam. Những dữ liệu khoa học này là rất quan trọng, phải tiếp tục được tích lũy nhằm hướng tới làm sáng tỏ cơ chế hình thành khối u và phát triển thành UTVH. Đặc biệt, những dữ liệu khoa học này sẽ là tiền đề khoa học quan trọng mang tính chất tiên phong để hướng tới việc tiến hành các thử nghiệm lâm sàng hoặc tìm ra các phương thức chẩn đoán, sàng lọc bệnh hay điều trị mới, hoặc phòng ngừa bệnh theo hướng tiếp cận là vaccine cho UTVH trên người Việt Nam.
PHẦN I TỔNG QUAN 4 1. TỔNG QUAN VỀ UNG THƯ VÒM HỌNG 1. Định nghĩa, triệu chứng của ung thư vòm họng Ung thư vòm họng (UTVH) là khối u ác tính xuất phát từ biểu mô của vùng vòm họng. Về vị trí sinh bệnh của khối u, đó là nơi tiếp giáp mũi, họng và chỗ đổ của ống vòi nhĩ (ống thông giữa tai và mũi họng) nên khi khối u vòm họng xâm lấn, di căn sẽ có triệu chứng liên quan đến các cơ quan này (Hình 1.
Cụ thể, một số triệu chứng ở tai thường gặp như nghe kém, ù tai, viêm tai giữa tái phát, đặc biệt chỉ xảy ra một bên, triệu chứng ở mũi bao gồm chảy nước mũi có máu, ngạt mũi một bên, chảy mũi nhầy và triệu chứng họng được ghi nhận là ho dai dẳng, khàn tiếng, ho khạc ra đờm dính máu, đau họng. Một số triệu chứng thần kinh như đau đầu, thường là đau nửa đầu hoặc đau sâu trong hốc mắt. Ngoài ra, do vòm họng có cấu trúc mô bạch huyết phức tạp nên khi có sự xuất hiện của khối u ác tính thì chúng sẽ nhanh chóng lây lan khắp vùng cổ, dẫn đến các hạch cổ sưng lớn không đau (gặp ở 75% bệnh nhân, thường ở hai bên và về phía sau). Ngoài ra, có nhiều bệnh nhân nổi hạch góc hàm trước khi có các triệu chứng kể trên cũng được ghi nhận ở những bệnh nhân mắc UTVH [101].
Cấu tạo của vòm họng và vị trí của ung thư vòm họng [134] 1. Phân tích dịch tễ của ung thư vòm họng Về sự phân bố dịch tễ của UTVH thì đây là loại ung thư xuất hiện nhiều ở các nước đang phát triển, đặc biệt là các quốc gia thuộc khu vực Châu Phi, Châu Á [66]. Theo nghiên cứu của Salehiniya và cộng sự (2018), bệnh UTVH có sự phân hóa về địa 5 lý rất rõ rệt với 81% phân bố ở khu vực châu Á, 9% tập trung ở châu Phi và 10% còn lại phân bố rải rác khắp nơi trên thế giới [135]. Nhìn chung, đây là loại ung thư đặc hữu chỉ có ở một số quốc gia, đặc biệt là ở khu vực Đông Nam Á, bao gồm Việt Nam.
Theo thống kê về dịch tễ học của UTVH được ghi nhận bởi Lao và cộng sự [66], cho thấy: (1) Trong năm 2018, có đến 129.079 trường hợp mắc UTVH đã được ghi nhận trên thế giới, theo đó có 93.416 trường hợp (chiếm 72,37%) được chẩn đoán ở nam và 35.663 trường hợp (chiếm 27,63%) được chẩn đoán ở nữ. Dữ liệu này cho thấy tỷ lệ mắc của nam gấp 2,62 lần so với nữ. Về tỷ lệ tử vong, tổng cộng có 72.987 trường hợp tử vong gây ra bởi UTVH đã xảy ra, có đến 54.280 trường hợp đã tử vong (chiếm 74,37%) được ghi nhận ở nam, và 18.707 ca tử vong (chiếm 25,63%) được quan sát ở nữ (tỷ lệ theo giới: nam/nữ = 2,90). (2) Trong tổng số 129.079 ca mắc UTVH trên thế giới, tỷ lệ mắc UTVH cao nhất được ghi nhận ở lần lượt năm quốc gia thuộc khu vực Châu Á, cụ thể là 33.198 trường hợp mắc UTVH ghi nhận ở Trung Quốc (chiếm 59%), Indonesia (17.992 ca, chiếm 18%), Việt Nam (6.212 ca, chiếm 6%), Ấn Độ (5086 ca mắc, chiếm 5%) và Philipines (2913 ca, chiếm 3%).
Như đã đề cập, UTVH là loại ung thư có sự khác biệt rõ ràng về dịch tễ học, cụ thể có sự phân bố bệnh theo vùng địa lý, chủng tộc nghiêng hẳn về khu vực Châu Á, khi số ca tử vong ở các nước Trung Quốc, Indonesia, Việt Nam, Ấn Độ, Philipines lần lượt lên tới 31.899 trường hợp (chiếm 2,60%) trên tổng số 72.987 trường hợp tử vong do UTVH được ghi nhận. Biểu đồ mô tả sự phân bố về tỷ lệ mắc (A) và tử vong (B) do UTVH ở các Châu lục trên thế giới ghi nhận vào năm 2018 [66] Riêng tại khu vực Đông Nam Á, theo cơ sở trích xuất dữ liệu thống kê từ chương trình nghiên cứu ung thư trên thế giới (Global Cancer Observatory, Globocan) về mối tương quan giữa tỷ lệ mắc bệnh cũng như tỷ lệ tử vong UTVH theo độ tuổi (Incidence– ASR, Mortality-ASR, Age-Word-Standardized) với chỉ số phát triển con người (HDI: Human Development Incidence) cho thấy: - Việt Nam là một trong năm quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á có tỷ lệ mắc UTVH theo phân bố chuẩn của độ tuổi đứng thứ năm (ASR = 5,9/100.000), chỉ sau Malaysia, Indonesia, Singapore và Brunei. Tuy nhiên, tỷ lệ tử vong của UTVH ở Việt Nam theo chỉ số ASR lại đứng thứ tư trong năm quốc gia có tỷ lệ tử vong do UTVH cao nhất khu vực (ASR = 3,9/100.681 ca mắc UTVH và 22.231 ca tử vong thuộc khu vực Đông Nam Á thì ba quốc gia có số ca mắc UTVH cao nhất lần lượt là (1), Indonesia: 17.992 ca; (2), Việt Nam: 6.212 ca và (3), Philipines: 2. Về số trường hợp tử vong thì 7 Việt Nam cũng đứng thứ hai trong ba quốc gia có số ca tử vong cao do UTVH gây ra, lên đến 4.232 trường hợp (Bảng 1.
Số liệu trên còn cho thấy số ca mắc UTVH ở các nước đang phát triển (chỉ số phát triển con người trung bình) cao hơn rất nhiều so với các nước phát triển và rất phát triển như Singapore và Thái Lan. Nguyên nhân có thể là do ở các nước đang phát triển thì tác động của các yếu tố nguy cơ liên quan đến UTVH xảy ra nhiều hơn, việc phân bổ ngân sách ít hơn cho ngành y tế và y tế công cộng, không được tiếp cận với các phương pháp điều trị tiên tiến và kịp thời, thu nhập của người dân chưa cao, giáo dục sức khỏe và dịch vụ y tế kém làm cho hầu hết các trường hợp chẩn đoán UTVH đều ở giai đoạn muộn, đặc biệt là ở giai đoạn tiến triển của bệnh (xâm lấn – di căn), vì vậy, tỷ lệ tử vong cao cũng được ghi nhận nhiều hơn ở các quốc gia này [101, 111, 134]. Tỷ lệ mắc và tử vong do UTVH ở các nước Đông Nam Á được ghi nhận vào năm 2018 Tỷ lệ mắc bệnh Tỷ lệ tử vong Quốc gia Số ca Hạng % Số ca Hạng % Indonesia 17.527 4 6,87 Singapore 623 7 1,80 345 7 1,55 Cambodia 256 8 0,74 198 8 0,89 Lào 226 9 0,65 165 9 0,74 Timor-Leste 44 10 0,13 31 10 0,14 Brunei 42 11 0,12 22 11 0,10 Tổng cộng 34.231 - 100,00 8 - Đồng thời, tại Việt Nam, cũng theo ghi nhận tại chương trình nghiên cứu ung thư trên thế giới thì UTVH xếp thứ sáu trong các loại ung thư phổ biến nhất tại Việt Nam và đứng đầu trong các loại ung thư vùng đầu và cổ (Hình 1. Tỷ lệ các loại ung thư mắc phải phổ biến tại Việt Nam 1.
Bệnh nguyên của UTVH Hiện nay, việc chẩn đoán UTVH ở giai đoạn sớm thường chậm và gặp nhiều khó khăn bởi các triệu chứng ở giai đoạn đầu của bệnh khá mơ hồ, không đặc hiệu, rất dễ nhầm lẫn với các bệnh lý viêm nhiễm vùng tai mũi họng khác. Trong đó, việc phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm thì cơ hội chữa khỏi bệnh càng cao.