Chương 1 TỎNG QUAN 1. Tổng quan về ung thư Ung thư là một thuật ngữ chung cho một nhóm lớn các bệnh có thể ảnh hưởng đến bat kỳ bộ phận nào của cơ thé. Các thuật ngữ khác được sử dụng là khối u ác tính và khối u. Một đặc điểm xác định của ung thư là sự tạo ra nhanh chóng của các tế bào bất thường phát triển vượt ra ngoài ranh giới thông thường của chúng và sau đó có thé xâm lắn các bộ phận liền kề của cơ thê và lây lan sang các cơ quan khác, quá trình sau nay được gọi là di căn.
Di căn là nguyên nhân chính gây tử vong do ung thư. Ở trên thế giới hiện nay, theo GLOBOCAN 2020 hiện có 185 quốc gia trên thế giới cung cấp các báo cáo thống kê về tình hình bệnh ung thư và có 36 bệnh ung thư (cũng như tat cả các bệnh ung thư kết hợp), theo độ tuôi và giới tính. Ước tính có khoảng 19,3 triệu ca mắc mới và 10 triệu ca tử vong do ung thư trên toàn thé giới vào năm 2020. Number of deaths in 2020, both Breast 2261 419 (11.7%) Lung 179 144 (18%) 6 Lung Other cancers 2 206 771 (11.4%) Prostate Prostate Liver 1414 259 (7.3%) Oesophagus Stomach Pancreas Stomach 604 100 (3.7%) Cervix uteri Liver Oesophagus Breast 604 127 (3.9%) Total: 19 292 789 cases Total: 9 958 133 deaths Hình 1.1 Thống kê tình hình mắc mới va tử vong vì ung thu trên thé giới (Nguồn: Globocan 2020).
Đối với cả hai giới có khoảng 49,3% tỉ lệ mắc bệnh và 58,3% số ca tử vong do ung thư được ước tính xảy ra ở châu Á vào năm 2020 nơi có 59,5% dân số toàn cầu sinh sông. Châu Âu chiếm 22,8% tổng số ca ung thư và 19,6% ca tử vong do ung thu, mặc du nó chiếm 9,7% dan số toàn cau, tiếp theo là Châu Mỹ 20,9% tỷ lệ mắc bệnh và 14,2% tỷ lệ tử vong trên toàn thế giới và cuối cùng là Châu Phi nơi có 5,7% tỉ lệ mac bệnh, tuy tỉ lệ tử vong lại cao hon là 7,2% tỉ lệ tử vong trên toàn thế giới (Sung và cs, 2021). Tính chung cho cả hai giới, 10 loại ung thư hàng đầu chiếm lớn hơn 60% các trường hợp ung thư mới được chan đoán và hon 70% các trường hợp tử vong do ung thư. Trong đó, ung thư vú ở nữ là loại ung thư được chân đoán phô biến nhất (1 1,7% tổng số ca), tiếp theo là ung thư phối (11,4%), tuyến tiền liệt (7,3%), đại trực tràng (6,0%), dạ dày (5,6%), gan ( 4,7%),.
Ở nước ta hiện nay, tình hình mắc và tử vong do ung thư có xu hướng tăng. Theo GLOBOCAN 2020, ước tính có 182.563 ca mắc mới và 122.690 ca tử vong do ung thư.000 người thì có 159 người chân đoán mắc mới ung thư và 106 người tử vong do ung thư. Năm 2020, Việt Nam xếp thứ 91/185 về tỷ suất mắc mới và thứ 50/185 về tỷ suất tử vong trên 100. Thứ hạng này tương ứng của năm 2018 là 99/185 và 56/185.
Như vậy, có thể thấy là tình hình mắc mới và tử vong do ung thư ở Việt Nam đều đang tăng nhanh. Theo GLOBOCAN 2020, các ung thư phổ biến ở nam giới gồm ung thư gan, phổi, da dày, đại trực tràng, tiền liệt tuyến là những ung thư phổ biến nhất (chiếm khoảng 65,8% tổng các loại ung thư). Ở nữ giới, các bệnh ung thư phô biến gồm ung thư vú, phối, đại trực tràng, dạ dày, gan (chiếm khoảng 59,4% tông các loại ung thư). Chung cho cả 2 giới các loại ung thư phô biến là gan (chiếm 14,5%), phổi (chiếm 14,4%), ung thư vú (chiếm 11,8%), da day (chiếm 9,8%), trực tràng (chiếm 5,1%),.
Tổng quan về ung thư gan Ung thư gan là một loại ung thư bắt đầu trong gan, nó bắt đầu khi các tế bào trong co thé bắt đầu phát triển ngoài tam kiểm soát. Ung thư gan nguyên phát bao gồm ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) (chiếm 75% -85% trường hợp) và ung thư biểu mô đường mật trong gan (10% -15%), cũng như các loại hiếm gặp khác. Các yếu 4 tố nguy cơ chính của HCC là nhiễm vi rút viêm gan B (HBV) hoặc vi rút viêm gan C (HCV) mãn tính, thực phẩm bị nhiễm aflatoxin, uống nhiều rượu, trọng lượng cơ thể dư thừa, bệnh tiéu đường loại và hút thuốc. Ung thư gan nguyên phát là bệnh ung thư được chân đoán phổ biến thứ sáu và là nguyên nhân gây tử vong do ung thư đứng hàng thứ ba trên toàn thế giới vào năm 2020 với khoảng 906.000 trường hợp mắc mới và 830.000 trường hợp tử vong.
Tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong ở nam giới cao hơn từ 2 đến 3 lần so với phụ nữ ở hầu hết các vùng, và ung thư gan đứng thứ năm về tỷ lệ mắc toàn cầu và thứ hai về tỷ lệ tử vong ở nam giới. Một số khu vực có bệnh ung thư gan phô biến nhất như là Đông A, Đông Nam Á, Tây và Bắc Phi. Theo một số nghiên cứu, Việt Nam có tỷ lệ mắc ung thư gan theo giới tính nam cao thứ 3 thế giới, phần lớn bệnh nhân sau khi phát hiện xơ gan, ung thư gan chỉ còn song được từ 1-3 năm. Tại Việt Nam, ung thư gan đứng dau trong các loại ung thư phô biến nhất ở nam giới và thứ 5 ở nữ giới với số mắc năm 2018 là 25.
Tỷ lệ mắc ở nam giới nước ta là 39/100.000 dân, trong khi nữ giới là 9,5/100. Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới, Việt Nam có khoảng 7,8 triệu người mắc viêm gan B mạn tính, hơn 13.000 người bị xơ gan mất bù, gần 6.000 người bị ung thư tế bào gan và hơn 6.400 người tử vong do bệnh gan gây nên. Tổng quan về ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) 1. Ung thư biểu mô tế bào gan Ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) là loại ton thương thường gặp nhất trong các loại ung thư tại gan, nằm trong sáu loại ung thư phô biến nhất trên thế giới và nằm trong ba loại ung thư phô biến nhất tại Việt Nam.
HCC đứng đầu trong các nguyên nhân tử vong liên quan đến ung thư tại Việt Nam. HCC là loại ung thư thường gặp nhất và là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong liên quan đến ung thư tại Việt Nam theo ước tính của Tổ chức Ghi nhận Ung thư toàn cầu (GLOBOCAN) năm 2018. Tại Việt Nam chưa có số liệu quốc gia được công bố chính thức về HCC. Một nghiên cứu ghi nhận số liệu HCC tại miền Trung và miền Nam Việt Nam là 24.091 trường hợp trong thời gian 2010 đến 2016, trong đó 62,3% có nhiễm virus viêm gan B (HBV) mạn và 26% có nhiễm virus viêm gan C (HCV) mạn.
Việt Nam là nước có tỉ lệ nhiễm HBV cao, ước tính có khoảng 12,3% nam giới 5 và 8,8% nữ giới có nhiễm HBV mạn. Tuy việc chủng ngừa HBV cho trẻ em tại Việt Nam đã làm giảm phần nào viêm gan virus B mạn, nhưng vẫn đang có tình trạng bùng phat ung thư biéu mô tế bào gan liên quan đến nhiễm HBV tại Việt Nam (Luong Ngọc Khuê và cs, 2020). Những nguy cơ dẫn đến Ung thư biểu mô tế bào gan - HBV Nhiễm virus viêm gan B được biết là trực tiếp gây ung thư vì virus DNA nên HBV có thể tích hợp vào bộ gen của vật chu, sao chép và tạo ra protein HBV X, được coi là chất xúc tác chính trong quá trình phát triển HCC. Thông thường, HCC được xác định ở những bệnh nhân nhiễm HBV trong trường hợp không bị xơ gan hoặc xơ hóa đáng kê, liên quan đến tôn thương và tái tao gan dai dang do virus gây ra khi bắt đầu HCC (Kun và cs, 2018).
Nhiều nghiên cứu phân tích gộp (meta-analysis) đã chứng tỏ nguy cơ HCC ở những người nhiễm HBV cao hơn 15-20 lần so với những người không nhiễm. Nguy cơ bị HCC trong cuộc đời của người nhiễm HBV mạn là khoảng 10-25%. Có nhiều yêu tố làm tăng nguy co HCC ở người nhiễm HBV mạn, bao gồm các yếu tô về hình thái (nam giới, tuôi lớn, tiền sử gia đình có người bị HCC), về virus (mức độ nhân bản HBV cao, kiểu hình HBV, thời gian nhiễm HBV, đồng nhiễm với HCV, HIV, HDV), về lâm sàng (có xơ gan) và về môi trường và lỗi sống (phơi nhiễm với aflatoxin, nghiện rượu nặng, hút thuốc lá) (Lương Ngọc Khuê và cs, 2020).- HCV HCV là một loại virus RNA tái tạo các phần tử virus mới trong tế bào chất của tế bào gan và không kết hợp vào bộ gen của vật chủ. Ở những bệnh nhân bị nhiễm HCV mãn tính, HCC được chan đoán đặc trưng trong xơ gan (Kun va cs, 2018).
Theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2016, dựa trên một số nghiên cứu từ 2003 đến 2014, tỉ lệ nhiễm HCV ở người lớn tại Việt Nam khoảng 1- 3,3%. Một phân tích gộp trên một số nghiên cứu bệnh chứng (case-control studies) cho thấy người có kháng thé kháng HCV có nguy cơ bi HCC gấp 17 lần so với người không có kháng thể kháng HCV (Lương Ngọc Khuê và cs, 2020). - Đồng nhiễm HBV và HCV Làm tăng nguy cơ bị ung thư biểu mô tế bào gan. Trong một nghiên cứu HCC tại miền Trung và miền Nam Việt Nam trong thời gian 2010 đến 2016, tỉ lệ đồng nhiễm HBV va HCV là 2,7% (Lương Ngọc Khuê và cs, 2020).
- Sử dụng đồ uống có cồn Tiêu biểu là rượu, là một trong những chất gây ung thư hóa học lâu đời nhất được biết đến có liên quan đến sự phát triển của HCC. Nguy cơ mắc bệnh gan tương quan với lượng rượu tiêu thụ trong suốt cuộc đời. Các chất chuyền hóa của rượu, acetaldehyd, các loại oxy phản ứng gây ra căng thắng oxy hóa mãn tính, viêm mãn tính và cũng dẫn đến sự bất ôn định của hệ gen (Kun và cs, 2018). Một số nghiên cứu ghi nhận nguy cơ HCC tăng 16% ở những người sử dụng từ 3 đơn vị đồ uống có cồn trở lên mỗi ngày và tăng 22% ở những người sử dụng từ 6 đơn vị đồ uống có cồn trở lên mỗi ngày.
Ở Việt Nam, chưa có số liệu chính thức về mối liên quan giữa HCC và việc sử dung đồ uống có cồn. Tuy nhiên, theo một nghiên cứu trên 1.617 bệnh nhân HCC tại miền Trung va miền Nam Việt Nam, có 68,6% bệnh nhân đã và đang sử dụng đồ uống có cồn với nhiều mức độ khác nhau (Lương Ngọc Khuê và cs, 2020).