Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Xoài (Mangifera indica L.) là một trong những loại cây ăn trái nhiệt đới chủ lực tại Việt Nam, đứng thứ hai về diện tích sau chuối. Việt Nam hiện là nước sản xuất xoài lớn thứ 13 trên thế giới với tổng diện tích canh tác trên 87.000 ha, sản lượng năm 2020 đạt 893,2 ngàn tấn (tăng 6,5% so với cùng kỳ năm trước). Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long chiếm khoảng 48% diện tích xoài của cả nước. Trong số các giống xoài đang được canh tác phổ biến như xoài Cát Chu, xoài Đài Loan, xoài Keo thì giống xoài Cát Hòa Lộc có giá trị thương phẩm cao trên thị trường nội địa lẫn xuất khẩu nhờ phẩm chất thịt quả mịn, vị ngọt đậm và hương thơm đặc trưng. Tuy nhiên, sự biến đổi khí hậu cùng diễn biến thời tiết phức tạp đã tạo điều kiện thuận lợi cho các đối tượng dịch hại phát sinh, trong đó bệnh thán thư do nấm Colletotrichum spp. gây ra là bệnh hại nguy hiểm hàng đầu, tấn công trên chồi non, lá non, hoa và quả ở cả giai đoạn trước lẫn sau thu hoạch, gây thối rụng và suy giảm nghiêm trọng giá trị thương mại của nông sản.

Trước thực trạng việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật hóa học dẫn đến hiện tượng kháng thuốc, ô nhiễm môi trường sinh thái và nguy cơ mất an toàn nông sản, xu hướng ứng dụng các chế phẩm sinh học thảo mộc đang được chú trọng nghiên cứu. Khóa luận tốt nghiệp ngành Bảo vệ thực vật của tác giả Phạm Anh Duy (Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh) được xây dựng nhằm tìm kiếm nguồn hoạt chất thảo mộc có khả năng phòng trừ sinh học đối với nấm gây bệnh thán thư trên xoài.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của đề tài là xác định nồng độ ức chế tối thiểu của dịch chiết lá trầu không (Piper betle L.), dịch chiết cây thuốc dòi (Pouzolzia zeylanica L.) và hỗn hợp phối trộn hai loại dịch chiết trên đối với sự sinh trưởng tản nấm và sự nảy mầm bào tử của nấm Colletotrichum spp. Các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số theo văn bản bao gồm:

  1. Phân lập và định danh nấm Colletotrichum spp. gây bệnh thán thư trên xoài bằng đặc điểm hình thái.
  2. Đánh giá khả năng ức chế của dịch chiết cây thuốc dòi, dịch chiết lá trầu không và hỗn hợp phối trộn dịch chiết đến sự phát triển đường kính tản nấm Colletotrichum spp. trên môi trường nuôi cấy.
  3. Đánh giá ảnh hưởng của dịch chiết thuốc dòi, trầu không và hỗn hợp dịch chiết đến sự nảy mầm của bào tử nấm Colletotrichum spp. gây hại trên xoài.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các chủng nấm Colletotrichum spp. phân lập từ mẫu bệnh thán thư trên xoài; dịch chiết từ lá cây trầu không (Piper betle L.), dịch chiết cây thuốc dòi (Pouzolzia zeylanica L.) và hỗn hợp dịch chiết giữa trầu không và thuốc dòi theo tỷ lệ 1:9.
  • Phạm vi không gian: Nguồn mẫu bệnh hại được thu thập tại 2 vườn xoài Cát Chu thuộc xã Bình Thạnh và xã Mỹ Hiệp, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp (vườn cách ly thuốc bảo vệ thực vật tối thiểu 14 ngày). Nguồn nguyên liệu thảo mộc gồm cây thuốc dòi thu hái tại xã Châu Phong, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang (thu hoạch ở ngày thứ 30 sau trồng) và lá trầu không thu hái tại xã Ea Tiêu, huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài được triển khai thực hiện từ tháng 08 năm 2023 đến tháng 05 năm 2024.
  • Địa điểm thực nghiệm: Phòng thí nghiệm RIBE 302 – 304 (Bộ môn Bệnh học và Chẩn đoán), Khoa Khoa học Sinh học, Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên cơ sở phân loại học vi nấm học theo hệ thống phân loại của Sutton (1980, 1995), Alexopoulos và Mims (1979), Baxter và cộng sự (1985) về chi Colletotrichum Corda; lý thuyết về các hợp chất chuyển hóa thứ cấp có hoạt tính sinh học từ thực vật như polyphenol, flavonoid, hydroxychavicol trong lá trầu không (Piper betle L.) và vixetin, isovixetin trong cây thuốc dòi (Pouzolzia zeylanica L.).

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được thiết kế đồng bộ theo các tiêu chuẩn bệnh học thực vật:

  • Phương pháp thu mẫu và phân lập vi nấm: Thu mẫu lá và quả xoài có triệu chứng điển hình (vết đốm đen, trũng lõm, góc cạnh màu nâu đỏ) theo hướng dẫn bảo quản mẫu bệnh của Roger Shivas và Dean Beasley (2005). Quy trình phân lập mô bệnh thực hiện theo Burgess và cộng sự (2009): cắt lát mô tiếp giáp bệnh - khỏe (1–2 mm), khử trùng bề mặt bằng cồn 70° trong 15–20 giây, rửa lại 3 lần bằng nước cất vô trùng, cấy trên môi trường thạch nước Water Agar (WA) và ủ ở nhiệt độ phòng (25–28°C). Sau khi tản nấm xuất hiện, tiến hành cấy chuyền đỉnh sinh trưởng sang môi trường Potato Dextrose Agar (PDA) để làm thuần.
  • Phương pháp chứng minh tính gây bệnh theo quy tắc Koch: Thực hiện lây bệnh nhân tạo trên 3 quả xoài Cát Chu sạch bệnh theo Burgess và cộng sự (2009). Quả được khử trùng bề mặt bằng cồn và chiếu xạ đèn cực tím trong 15 phút, sau đó tạo vết thương sâu 2 mm bằng bó kim cúc (đường kính 0,5 mm) và cấy hạch nấm. Theo dõi diễn biến bệnh trong 8 ngày và tiến hành tái phân lập, đối chiếu hình thái với mẫu phân lập ban đầu.
  • Phương pháp định danh hình thái: Quan sát đặc điểm khuẩn ty, màu sắc tản nấm, hình thái và kích thước bào tử đính dưới kính hiển vi quang học Olympus CX23 (vật kính 40X và 100X). Khảo sát cấu trúc giác bám (appressoria) được thực hiện theo kỹ thuật của Cai và cộng sự (2009) bằng cách ủ lamen trên môi trường PDA ở 25°C trong 7 ngày, sau đó đối chiếu khóa phân loại của Sutton (1995).
  • Phương pháp chiết xuất cao thảo mộc: Nguyên liệu thực vật được rửa sạch, phơi khô, nghiền mịn riêng rẽ thành dạng bột. Sử dụng 1 kg bột ngâm chiết tĩnh với 5 lít cồn ethanol 90° ở nhiệt độ phòng trong 24 giờ, lặp lại quy trình ngâm chiết 7 lần. Dịch lọc được cô thu hồi dung môi bằng máy cô quay chân không để thu nhận cao chiết thô. Cao chiết được hòa tan lại trong methanol theo tỷ lệ 1 g cao / 1 mL methanol để tạo dung dịch gốc nồng độ 100%, từ đó pha loãng với nước cất vô trùng khi thiết lập các công thức nghiệm thức.
  • Phương pháp đánh giá hiệu lực ức chế sinh trưởng tản nấm: Thí nghiệm đơn yếu tố bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên (CRD), gồm 6 nghiệm thức với 3 lần lặp lại (mỗi lần 3 đĩa Petri $\varnothing$ 90 mm) theo phương pháp trộn môi trường của Yao và Tian (2005). Đo đường kính tản nấm định kỳ tại 2, 4, 6 và 8 ngày sau cấy (NSC) theo hai trục vuông góc. Hiệu lực ức chế $I$ (%) được tính theo công thức: $$I = \frac{C - T}{C} \times 100$$ (trong đó $C$ là đường kính tản nấm đối chứng, $T$ là đường kính tản nấm nghiệm thức xử lý).
  • Phương pháp đánh giá hiệu lực ức chế nảy mầm bào tử: Thực hiện trên lam kính lõm theo phương pháp của Cronin và cộng sự (1996). Hút 40 $\mu$L dung dịch dịch chiết các nồng độ nhỏ vào vùng lõm, bổ sung 10 $\mu$L dịch huyền phù bào tử (mật độ $10^4$ bào tử/mL), đậy lamen và ủ tối ở 28°C. Tiến hành đếm số bào tử nảy mầm trên tổng số 100 bào tử dưới kính hiển vi quang học tại mốc 8 giờ sau cấy (GSC) và 24 GSC, lặp lại 3 lần.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Tính toán trung bình bằng Microsoft Excel 2010. Phân tích phương sai một yếu tố (ANOVA) và kiểm định phân hạng Duncan ở mức ý nghĩa $p < 0,01$ ($\alpha = 0,01$) bằng phần mềm SAS 9.1.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng kết toàn diện các công bố khoa học liên quan đến đối tượng cây trồng, tác nhân gây bệnh và nguồn dược liệu nghiên cứu:

  • Cây xoài và bệnh thán thư: Giới thiệu nguồn gốc, phân loại thực vật học họ Đào lộn hột (Anacardiaceae), đặc tính sinh thái và tiềm năng xuất nhập khẩu của xoài Việt Nam. Phân tích chi tiết tác nhân gây bệnh thán thư là nấm Colletotrichum spp. (với các loài gây hại chính được ghi nhận trong y văn như C. gloeosporioides, C. dematium, C. capsici, C. coccodes...). Sợi nấm có cấu trúc nội sinh, phân nhánh, đa bào; sinh sản vô tính qua bào tử đính hình thành trên cụm cuống đĩa phẳng và có khả năng hình thành hậu bào tử (chlamydospores) để lưu tồn. Phân tích các giải pháp quản lý bệnh hiện hành bao gồm biện pháp canh tác (đào mương lên liếp, trồng cây chắn gió, vệ sinh tàn dư), biện pháp cơ học (tỉa cành tạo tán), biện pháp sinh học (Trichoderma, Salicylic acid) và biện pháp hóa học (thuốc gốc đồng Bordeaux 1%, Benomyl 0,05%).
  • Dược liệu nghiên cứu:
    • Cây thuốc dòi (Pouzolzia zeylanica L., họ Urticaceae): Thảo mộc thân thảo cao 12–50 cm, chứa các hợp chất vixetin, isovixetin, flavonoid và polyphenol có tác dụng kháng khuẩn đối với Staphylococcus aureus, Escherichia coli, Bacillus subtilis và kháng nấm (Aspergillus niger, Microsporum spp.).
    • Cây trầu không (Piper betle L., họ Piperaceae): Dây leo thân nhẵn, chứa tinh dầu và 12 dẫn xuất polyphenol với hoạt chất chủ đạo là hydroxychavicol, chavibetol, piperbetol... có hoạt tính kháng nấm cao đối với Colletotrichum gloeosporioides, Fusarium oxysporum, Pyricularia oryzae.

Chương 2: Phương pháp và vật liệu thí nghiệm

Chương 2 mô tả chi tiết vật liệu, thiết bị máy móc (kính hiển vi Olympus CX23, nồi hấp vô trùng ALP MC40L, tủ cấy vi sinh, cân điện tử Ohaus PX) và quy trình chuẩn bị môi trường WA, PDA. Tác giả trình bày đầy đủ sơ đồ bố trí các thí nghiệm:

  • Bố trí thu thập 20 mẫu bệnh tại Đồng Tháp: Vườn ĐT1 (xã Bình Thạnh) thu 7 mẫu quả và 2 mẫu lá; Vườn ĐT2 (xã Mỹ Hiệp) thu 8 mẫu quả và 3 mẫu lá (tất cả đều trên giống Cát Chu).
  • Thiết kế 3 thí nghiệm khảo sát ức chế tản nấm trên môi trường PDA:
    • Thí nghiệm 1 (Dịch chiết lá trầu không): Gồm 6 nghiệm thức với các mức nồng độ 0,3%; 0,5%; 0,7%; 0,9%; 1,1% và đối chứng 0%.
    • Thí nghiệm 2 (Dịch chiết thuốc dòi): Gồm 6 nghiệm thức ở các mức nồng độ 3%; 5%; 7%; 9%; 11% và đối chứng 0%.
    • Thí nghiệm 3 (Hỗn hợp trầu không : thuốc dòi tỷ lệ 1:9): Gồm 6 nghiệm thức ở các mức nồng độ 1%; 3%; 5%; 7%; 9% và đối chứng 0%.
  • Thiết kế thí nghiệm khảo sát tỷ lệ ức chế nảy mầm bào tử trên lam kính lõm ở các mốc thời gian 8 GSC và 24 GSC.

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Chương 3 trình bày các phát hiện thực nghiệm được minh chứng qua các bảng số liệu phân tích thống kê và hình ảnh ghi nhận:

  • Kết quả phân lập và định danh: Từ 20 mẫu bệnh thu thập, tác giả đã phân lập và làm thuần thành công 14 mẫu vi nấm mang đặc trưng của chi Colletotrichum spp. Tần suất phân lập từ mẫu quả đạt 90,0% (14/15 mẫu quả cho kết quả phân lập dương tính), trong khi các mẫu lá thu thập đều không phân lập được nấm Colletotrichum spp. (tần suất 0%).
  • Đặc điểm hình thái của nấm phân lập: Khuẩn ty sợi mảnh, phát triển bung cao, tản nấm có màu trắng xám đến xám đen với các vòng tròn đồng tâm rõ rệt; mặt dưới đĩa thạch có màu xám đến nâu đen. Bào tử vô tính trong suốt, dạng đơn bào, hình trụ ngắn, hai đầu tù hoặc một đầu tròn một đầu hơi nhọn, kích thước trung bình đạt 5,5 – 14,38 $\times$ 3,63 – 6,63 $\mu$m. Giác bám có dạng hình trứng ngược hoặc hình chùy bất định, màu nâu nhạt đến nâu thẫm, kích thước trung bình 6,25 – 12,38 $\times$ 6,00 – 7,88 $\mu$m. Kết quả tái nhiễm nhân tạo trên quả xoài sau 5 ngày cho triệu chứng đốm thán thư tương đồng và tái phân lập thành công tác nhân, thỏa mãn các tiêu chí của quy tắc Koch.
  • Hiệu lực ức chế sinh trưởng đường kính tản nấm sau 8 NSC:
    • Ở nghiệm thức đối chứng, tản nấm phát triển nhanh và đạt đường kính tối đa 80,0 mm sau 8 ngày cấy.
    • Dịch chiết lá trầu không thể hiện hoạt tính kháng nấm vượt trội nhất: Nồng độ 0,3% đạt hiệu lực ức chế 9,9% (đường kính 72,0 mm); 0,5% đạt 17,9% (đường kính 65,8 mm); 0,7% đạt 55,8% (đường kính 35,4 mm); 0,9% đạt 73,9% (đường kính 20,9 mm); và ức chế hoàn toàn 100% tản nấm (đường kính 0,0 mm) ở nồng độ 1,1%.
    • Dịch chiết thuốc dòi đòi hỏi nồng độ cao hơn để đạt hiệu quả tương đương: Mức nồng độ 3% chỉ đạt hiệu lực ức chế 6,6% (đường kính 74,8 mm); 5% đạt 32,5% (54,0 mm); 7% đạt 52,0% (38,4 mm); 9% đạt 79,4% (16,5 mm); và đạt ức chế 100% tại nồng độ 11% (đường kính 0,0 mm).
    • Hỗn hợp dịch chiết (trầu không : thuốc dòi tỷ lệ 1:9): Thể hiện tác động cộng hưởng tích cực khi mức nồng độ 1% ức chế 17,6% (đường kính 65,4 mm); 3% ức chế 31,9% (54,5 mm); 5% ức chế 65,4% (24,7 mm); 7% ức chế 89,2% (8,6 mm); và đạt ức chế tuyệt đối 100% ở nồng độ 9% (đường kính 0,0 mm).
  • Hiệu lực ức chế nảy mầm bào tử vi nấm:
    • Bào tử ở công thức đối chứng bắt đầu nảy mầm hình thành ống mầm sau 8 giờ và phát triển hoàn chỉnh thành sợi nấm sau 24 giờ.
    • Sau 8 GSC, hiệu lực ức chế nảy mầm bào tử của dịch chiết trầu không ở nồng độ 0,3% và 0,9% lần lượt đạt 87,7% và 98,8%; thuốc dòi ở nồng độ 3% và 9% lần lượt đạt 39,2% và 88,8%; hỗn hợp (1:9) ở nồng độ 1% và 7% lần lượt đạt 76,7% và 85,5%.
    • Sau 24 GSC, dịch chiết trầu không 0,3% và 0,9% duy trì hiệu lực ức chế nảy mầm ở mức 68,0% và 90,0%; dịch chiết thuốc dòi 3% và 9% đạt 29,0% và 79,6%; hỗn hợp (1:9) nồng độ 1% và 7% duy trì hiệu lực đạt 68,3% và 81,0%.
Loại dịch chiết khảo sát Nồng độ khảo sát (%) Đường kính tản nấm sau 8 NSC (mm) Hiệu lực ức chế tản nấm sau 8 NSC (%) Hiệu lực ức chế nảy mầm bào tử sau 8 GSC (%) Hiệu lực ức chế nảy mầm bào tử sau 24 GSC (%)
Đối chứng (Nước cất) 0 80,0 0,0 0,0 0,0
Dịch chiết lá trầu không 0,3 72,0 9,9 87,7 68,0
0,5 65,8 17,9 — —
0,7 35,4 55,8 — —
0,9 20,9 73,9 98,8 90,0
1,1 0,0 100,0 — —
Dịch chiết cây thuốc dòi 3,0 74,8 6,6 39,2 29,0
5,0 54,0 32,5 — —
7,0 38,4 52,0 — —
9,0 16,5 79,4 88,8 79,6
11,0 0,0 100,0 — —
Hỗn hợp phối trộn (1:9) 1,0 65,4 17,6 76,7 68,3
3,0 54,5 31,9 — —
5,0 24,7 65,4 — —
7,0 8,6 89,2 85,5 81,0
9,0 0,0 100,0 — —

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã cung cấp chuỗi dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác về hoạt tính kháng nấm của hai nguồn thảo mộc bản địa:

  • Kết quả định lượng cụ thể:
    • Xác lập được ngưỡng nồng độ ức chế hoàn toàn (100%) sự phát triển của tản nấm Colletotrichum spp. sau 8 ngày nuôi cấy trên môi trường PDA: dịch chiết lá trầu không đạt 100% tại nồng độ 1,1%; dịch chiết cây thuốc dòi đạt 100% tại nồng độ 11%; hỗn hợp phối trộn trầu không và thuốc dòi (tỷ lệ 1:9) đạt 100% tại nồng độ 9%.
    • Khẳng định khả năng kìm hãm nảy mầm bào tử mạnh mẽ của dịch chiết lá trầu không với hiệu lực đạt tới 90,0% ở nồng độ 0,9% sau 24 GSC, vượt trội so với dịch chiết thuốc dòi (nồng độ 9% chỉ đạt 79,6% tại 24 GSC).
  • Giải pháp và kiến nghị: Tác giả đề xuất định hướng ứng dụng dịch chiết lá trầu không đơn độc hoặc phối trộn cùng dịch chiết thuốc dòi để phát triển thành chế phẩm thuốc trừ nấm sinh học thảo mộc phục vụ phòng ngừa bệnh thán thư hại xoài.
  • Đóng góp học thuật: So sánh với công bố của Ngô Thị Mai Vi và cộng sự (2015) trên nấm Phaeoisariopsis personata (cần nồng độ dịch chiết trầu không 2% để đạt ức chế 100% sau 24 giờ), nghiên cứu này chứng minh đối với chủng Colletotrichum spp. hại xoài tại Đồng Tháp, nồng độ dịch chiết lá trầu không đạt ức chế tuyệt đối là 1,1%. Sự sai khác này được tác giả giải thích là do tính mẫn cảm khác biệt giữa các chủng nấm bệnh và phương pháp thu nhận dịch chiết cồn ngâm chiết kiệt 7 lần kết hợp cô quay chân không.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Dựa trên phạm vi và nội dung được công bố trong văn bản, nghiên cứu còn một số giới hạn thực tiễn:

  • Toàn bộ các thử nghiệm ức chế sinh trưởng tản nấm và nảy mầm bào tử mới chỉ dừng lại ở quy mô in vitro trong điều kiện phòng thí nghiệm kiểm soát (25–28°C), chưa được kiểm chứng hiệu lực phòng trừ trực tiếp (in vivo) trên quả xoài sau thu hoạch hoặc trên cây xoài ngoài đồng ruộng.
  • Nghiên cứu chỉ khảo sát duy nhất một tỷ lệ phối trộn giữa trầu không và thuốc dòi là 1:9, chưa thử nghiệm các dải tỷ lệ phối hợp khác để tìm ra tỷ lệ hiệp đồng tối ưu nhất.
  • Nguồn mẫu bệnh thu thập phân lập nấm chỉ giới hạn tại 2 vườn thuộc huyện Cao Lãnh (Đồng Tháp); mẫu phân lập thành công chỉ thu được trên cơ quan quả (tần suất 90,0%), trong khi các mẫu lá bệnh thu thập đều chưa phân lập được nấm Colletotrichum spp.
  • Khóa luận mới định danh nấm dựa trên các chỉ tiêu hình thái học truyền thống (bào tử, giác bám) mà chưa tích hợp dữ liệu giải trình tự phân tử ADN vùng ITS để định danh chính xác đến cấp độ loài trong phức hợp loài Colletotrichum.

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho:

  • Sinh viên và học viên cao học: Chuyên ngành Bảo vệ thực vật, Nông học, Bệnh học thực vật và Công nghệ sinh học nông nghiệp đang thực hiện các đề tài về sàng lọc hoạt tính kháng vi sinh vật từ hợp chất thiên nhiên.
  • Cán bộ kỹ thuật và nghiên cứu viên: Cung cấp quy trình chi tiết về ngâm chiết cồn 7 lần kết hợp cô quay chân không để tạo cao chiết thực vật chuẩn độ cao; phương pháp bố trí thử nghiệm ức chế nảy mầm bào tử nấm trên lam kính lõm và kiểm tra hiệu lực đối kháng vi sinh vật in vitro.
  • Người làm công tác bảo vệ thực vật tại địa phương: Là tài liệu tham chiếu tin cậy về tiềm năng sử dụng cây trầu không và thuốc dòi làm nguồn nguyên liệu sinh học trong quản lý dịch bệnh thán thư bền vững tại các vùng chuyên canh xoài ở Đồng bằng sông Cửu Long.

Câu hỏi thường gặp

1. Tần suất phân lập nấm Colletotrichum spp. từ các mẫu bệnh thu tại tỉnh Đồng Tháp đạt kết quả như thế nào?
Từ 20 mẫu bệnh (gồm mẫu quả và mẫu lá) thu tại 2 vườn xoài Cát Chu ở xã Bình Thạnh và xã Mỹ Hiệp, tác giả phân lập được 14 mẫu nấm Colletotrichum spp. Tần suất phân lập thành công trên mẫu quả đạt 90,0% (14/15 mẫu quả), trong khi trên tất cả các mẫu lá thu nhận đều đạt 0% (không phân lập được nấm bệnh).

2. Kích thước bào tử và giác bám của các mẫu nấm phân lập được ghi nhận với số liệu cụ thể là bao nhiêu?
Bào tử vô tính của chủng nấm có dạng hình trụ ngắn, hai đầu tù hoặc một đầu tròn một đầu hơi nhọn với kích thước trung bình 5,5 – 14,38 $\times$ 3,63 – 6,63 $\mu$m. Giác bám có dạng hình trứng ngược hoặc hình chùy bất định, kích thước trung bình đạt 6,25 – 12,38 $\times$ 6,00 – 7,88 $\mu$m.

3. Ngưỡng nồng độ ức chế hoàn toàn (100%) sự phát triển tản nấm trên môi trường PDA của các loại dịch chiết là bao nhiêu?
Sau 8 ngày theo dõi nuôi cấy, dịch chiết lá trầu không cho hiệu lực ức chế 100% (đường kính tản nấm 0,0 mm) ở nồng độ 1,1%. Dịch chiết cây thuốc dòi đạt ức chế 100% ở nồng độ 11%. Hỗn hợp phối trộn dịch chiết trầu không và thuốc dòi (tỷ lệ 1:9) đạt ức chế hoàn toàn 100% ở nồng độ 9%.

4. Khả năng kìm hãm sự nảy mầm bào tử nấm của dịch chiết lá trầu không khác biệt thế nào so với thuốc dòi sau 24 giờ?
Tại thời điểm 24 GSC, dịch chiết lá trầu không thể hiện hiệu lực vượt trội hơn rõ rệt: ở nồng độ 0,9% đã đạt hiệu lực ức chế nảy mầm 90,0% (nồng độ 0,3% đạt 68,0%). Trong khi đó, dịch chiết thuốc dòi ở nồng độ 9% mới đạt hiệu lực ức chế 79,6% (nồng độ 3% chỉ đạt 29,0%).

5. Quy trình chiết xuất cao thực vật thô từ cây thuốc dòi và lá trầu không được tác giả thực hiện ra sao?
Nguyên liệu thảo mộc sau khi làm sạch, phơi khô và nghiền thành bột được ngâm chiết riêng rẽ theo tỷ lệ 1 kg bột với 5 lít dung môi ethanol 90° ở nhiệt độ phòng trong 24 giờ. Quá trình ngâm chiết được lặp lại kiệt 7 lần. Dịch chiết sau đó được lọc lấy dịch trong và loại bỏ dung môi bằng máy cô quay chân không để thu nhận cao chiết nguyên chất.


Kết luận

Khóa luận của tác giả Phạm Anh Duy đã phân lập và xác định được đặc điểm hình thái của nấm Colletotrichum spp. gây bệnh thán thư trên xoài Cát Chu tại huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp với tần suất xuất hiện trên quả đạt 90,0%. Nghiên cứu thực nghiệm chứng minh cả ba nghiệm thức dịch chiết thảo mộc đều có khả năng ức chế sinh trưởng tản nấm và nảy mầm bào tử, trong đó dịch chiết lá trầu không thể hiện hoạt tính mạnh nhất với nồng độ ức chế tản nấm tuyệt đối là 1,1% và ức chế nảy mầm 90,0% ở nồng độ 0,9%. Kết quả này cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho việc định hướng sản xuất các chế phẩm sinh học nguồn gốc thảo mộc nhằm quản lý bệnh thán thư hại xoài một cách an toàn và bền vững.