Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Tong quan về cây sau riêng: 1.1 Nguồn gốc và phân bố cây sầu riêng Sau riêng có tên khoa học là Durio zibethins, là một loại cây có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới âm ướt của bán đảo Malaysia, Sumatra và Borneo. Chi Durio có nhiều loài nhưng có một loài quan trọng nhất, kinh tế nhất được trồng rộng rãi ở khu vực Đông Nam A và các nước khác là Durio zibethinus. Một số loài khác cũng cho quả ăn được nhưng cùi mỏng, phẩm chất kém được trồng ít hơn như Durio oxleyanus, D. dulcis và Durio testudinarius (Trần Thế Tục và cs 2004).
Là loại cây có xuất xứ từ vùng nhiệt đới Đông Nam, sầu riêng còn được trồng nhiều ở Indonesia, Philippin, Myanmar, Thái Lan, Lào, Việt Nam, Campuchia. Ngoài ra còn trồng ở các nước nhiệt đới Trung Nam Mỹ, một số nước Châu Phi và Châu Đại Dương. Cây sâu riêng đã được trông ở nước ta từ khoảng hơn 100 năm trước, giông sâu riêng có nguồn gốc từ Indonesia được cha có Germet đưa về trồng. Cây sầu riêng được trông đâu tiên ở Tân Quy — Biên Hoà sau đó được nhân giông rộng rãi ra vùng Đông Nam Bộ, Đồng bằng Sông Cửu Long và Tây Nguyên (Lê Thanh Phong và cs 2004).2 Phân loại Tên khoa học là Durio zibethinus, thuộc họ Bombacaceae.
Họ này bao gồm cây bao tap ở vùng châu Phi (Adansonia digitata), cây hat dé (Pachira aquataca), cây bombax (Bombax ellipticum), cây vải sồi to (Chorisia speciosa) và cây gỗ nhẹ (Ochroma pyramidale). 3K x oA Giong sau riéng Sâu riêng có nhiêu giông, căn cứ trên mau vỏ, gai, cuông, trái. Người ta có thé chia lam 2 loại sâu riêng là vỏ vàng và vỏ xanh, loại trai ngon có màu xanh hay vàng sam, gai nhọn ngăn, thưa, múi to và déu, cơm dày, không cứng va không nhão thom, béo, ngọt. Sau riêng Ri6 vỏ trái khi chín có màu vàng xanh, dạng trái hình elip, trọng lượng trai trung bình 2,0 — 2,5 kg, com day, hạt lép, ty lệ cơm đạt 33%, com màu vàng đậm, vị béo, ngọt, thơm, không sơ, không sượng, ráo.
Sầu riêng có xuất xứ ở Ngũ Hiệp — Tiền Giang, vỏ trái màu xám xanh, dạng trái hình trứng cân đối, vỏ mỏng, trọng lượng trung bình 1,6 — 1,8 kg. Cơm màu vàng nhạt, mềm, ngọt béo, thơm. Tỷ lệ hạt lép 60%, tỷ lệ cơm 29,6%. Trong khi đó sầu riêng Monthong nhập nội từ Thái Lan vỏ trái có màu sắc khác nhau từ xanh đậm đến xanh pha vàng, cơm vàng, min, ráo, tỷ lệ hạt lép rất cao (74,1%), Tỷ lệ com đạt 35,4%.
Trọng lượng trái trung bình 4 — 5 kg (Viện nghiên cứu CAQ Mién Nam, 2005).3 Tinh hình trồng sau riêng ở Việt Nam Ở Việt Nam ngay sau khi sản xuất lương thực én định, tiêu thu quả tăng lên và sầu riêng là trong trong những loại quả dé tiêu thụ nhất, do đó phong trào mở rộng diện tích cây ăn quả hiện nay là sầu riêng là một trong những cây được chú ý đến nhiều nhất. Mặc dù giá sầu riêng cao gap 5 — 10 lần những loại quả thông thường như chuối, 6i nhưng sau riêng van là một trong những mặc hàng tiêu thụ rat dé dàng. Trong quả sầu riêng chỉ có 12% — 22% ăn được trong khi những loại quả thông thường có đến 60 — 80% phần ăn được cho thấy sầu riêng được đánh giá rat cao. Theo báo cáo của Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), diện tích sầu riêng tăng rất nhanh trong 5 năm trở lại đây.
Cụ thê, tính đến cuối năm 2022, diện tích trồng sầu riêng của cả nước phát triển được hơn 110 000 ha tăng gần gấp 3 lần so với năm 2017 (37 000 ha). Trung bình mỗi năm diện tích sầu riêng tăng 24,5% trong giai đoạn này. Trong số đó, có hơn 54 000 ha sầu riêng đang cho thu hoạch với năng suất bình quân khoảng 16,5 tan/ha, san lượng gần 850. Cây sầu riêng chủ yếu tập trung ở Tây Nguyên chiếm hơn 47%, Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) chiếm gần 30% và khu vực Đông Nam Bộ chiếm gần 19%.
Giá trị dinh dưỡng cây sầu riêng Trọng lượng qua từ 1,5 — 4 kg, đặc biệt có quả lên đến 8 kg. Trong mỗi qua thường có 5 ô, mỗi ô có 1 — 6 múi, múi chiếm 20 — 30 % khối lượng quả .Hạt quả chiếm 5 — 10 %, vỏ quả 55 — 56 % (Trần Thế Tục — Nguyễn Ngọc Kính, 2003). Hạt sau riêng chứa nhiều tinh bột, dầu, protein có thể ăn được khi luộc hoặc rang chín nhưng có tính độc, ăn nhiều có thể gây nghẹt thở. Vỏ trái có thể sắc với nước để trị một số bệnh ngoài da hoặc trị chí, rệp.
Lá dùng để tắm trị vàng da, phồng da. Rễ lá sắc trị sốt. Tro và vỏ trai dung như chất nhuộm trang tơ lụa, gỗ dùng dé xây cất đóng thùng vì chắc và đẹp (Lê Thanh Phong và cs, 1994). Theo Tôn Thất Trình (1995), những người sành sỏi về sầu riêng thì không có loại trái cây nào có vị ngon hơn sầu riêng.
Là loại trái cây rất giàu dinh dưỡng. Phân tích trong 100 gram sầu riêng chứa rất nhiều năng lượng, chất béo, protein, vitamin và các khoáng chất. Theo Trần Thế Tục và cs (2004), phân tích hàm lượng dinh dưỡng trong 100 gam múi sầu riêng cho kết quả trong bảng 1.1 Thành phần dinh dưỡng của sầu riêng trong 100 gam phần ăn được Chất Hàm lượng Chất Hàm lượng Lượng nước (g) 76.4 Đặc điểm thực vật học 1.1 Đặc điểm thực vật cây sầu riêng Sau riêng có bộ nhiễm sắc thể 2n = 56. Cùng họ với sâu riêng có cây gạo hoa đỏ (Gossampinus malabarica DC.) mọc nhiều nơi trên cả nước ta và cây bông gòn (Ceiba pentandra L.
Gaertn) có hoa mau trắng vàng trồng nhiều ở khu vực Nam bộ va Đồng bằng sông Cửu Long (Vũ Công Hậu, 1999) Thân cây sầu riêng Sau riêng trồng bằng hạt có thé cao từ 20 — 40 m, cây ghép chỉ cao từ 8 — 12 m. Thân thẳng, cành thường nằm ngang, phân cành thấp. Khi cây còn nhỏ sầu riêng có tán hình chóp trông gần giống như cây thông. Đường kính tán cây tăng dần theo độ tuôi: độ tuổi 10 từ 6.14 m, tuổi trên 30 từ 8.
Tan lá dày với những cành, nhánh to nhưng lại giòn, đễ gãy nhất khi trĩu trái và gặp gió to. Đường kính thân 20 — 120 cm, vỏ có màu nâu đỏ nhạt (Vũ Công Hau, 1999). Rễ sầu riêng Bộ rễ sầu riêng có bộ rễ phát trién mạnh, tập trung hút dinh dưỡng ở lớp đất mặt (0 — 50 cm). Ré cái ở chính giữa góc có thé đâm sâu 5 — 6 m, sự phân bố của bộ rễ có thé phụ thuộc vào tinh chất đất, mực nước ngầm nơi trồng, hình thức nhân giống (gieo hạt, chiếc cảnh, ghép cành) và kỹ thuật chăm sóc cây.
Rễ cái làm nhiệm vụ giữ thân, xung quanh có vô số rễ nhánh và rễ phụ làm nhiệm vụ hút dinh dưỡng và giúp giữ thân đứng vững (Vũ Công Hậu, 1999). Lá sầu riêng Lá sầu riêng thuộc loại lá đơn, mọc cách, hình trứng, góc tròn hay tu, chiều dai từ 12 — 20 cm, rộng 4 — 6 em, màu xanh sáng ở mặt trên, mặt dưới có lông mịn màu nâu. Cuống lá dài từ 1,5 — 3,0 cm, đường kính từ 0,15 — 0,25 cm (Vũ Công Hậu,1999). Hoa sầu riêng Cây sau riêng được trồng bằng hạt, 7 — 8 năm sau cho ra hoa, cây ghép tầm 3 — 4 năm sau trồng cho ra hoa.
Sâu riêng thuộc loại hoa lưỡng tính (có bộ phận đực và cái trên cùng một hoa). Hoa mọc thành từng chùm, số lượng nhiều (3 — 30 hoa) trên những 7 cành lớn ít khi ở đầu cành, thòng xuống, cánh hoa to, dạng ống hơi to từ dưới lên, có đốt dai 2 — 4 cm. Trên một cây có đến 20 000 đến 40 000 hoa. Thời gian tré hoa trên cùng mọt cây kéo dai từ 1 — 2 tháng mới chấm dứt.
Đài hoa có 5 cánh và đài phụ phía ngoài có 3 cánh. Cánh hoa màu kem hơi xanh dài hơn đài (2 — 3 lần). Nhị đực dai hơn cánh, gồm 5 bó đính nhau một ít ở gốc, phần trên tự do hình thành 5 chùm nhị, mỗi chùm có 10 — 12 bao phấn. Bao hình trái xoan, vòi đài, dau nhị tròn có 5 mảnh, có nhựa ở đỉnh.
Từ khi hoa bắt đầu nở đến khi thành hoa hoàn toàn mat 2 — 3 ngày. Hoa nở vào khoảng 5 giờ chiều đến 6 giờ sáng hôm sau. Bao phan bắt đầu tung phan vào lúc 7 giờ đến 11 giờ đêm là khoảng thời gian thu phấn cho nhuy nhưng lúc này nhuy đã tàn và không cong khả năng nhận hạt phan do vậy sầu riêng không thé tự thụ phan được hoặc có thì cũng rất thấp, muốn có kết quả tốt thì cần phải thụ phan chéo cho cây. Các nghiên cứu cho thay có khoảng 42 — 43% hoa thụ phan chéo có khả năng trở thành trai chín.
Số còn lại thường rụng dan đi. Trái rụng nhiều vào tuần lễ đầu sau khi thụ phan, sau đó tiếp tục rụng đến tuần thứ 9 nhưng với tỉ lệ thấp. Trái Do hoa mọc chìa xuông dat nên trái sâu riêng cũng chìa xuông dat. Hoa tuy nhiêu nhưng mỗi chùm hoa chỉ đậu vài trái.
Trước đó trái non đã rơi rụng từ lúc mới được vải tuân tuôi, một phan là do chủ vườn tỉa bỏ trái chậm lớn, èo uột, trái bi sâu bệnh đê don sức nuôi những trái lớn hơn đề chúng phát triển nhanh. Tuy theo từng giống mà trái có kích thước, hình dang: tròn, bau dục, dai, mau sắc vỏ trái từ màu xanh đến mau nâu vàng, hình dạng và kích thước gai cũng thay đối tuỳ theo từng loại giống: to, cứng, nhọn, ngắn hay dai. Mỗi trái thường có 5 ngăn tách doc theo trái, mỗi ngăn chứa 1 — 5 múi bên trong. Bên trong mỗi múi có một hạt duy nhất, hạt to hay lép tuỳ theo từng loại giống, hạt sầu riêng có màu vàng cam, vỏ mềm, bên trong chứa nhiều tinh bột, dau, protein.
Bộc bên ngoài hạt là cơm có màu vàng hay trắng sữa, vàng cam, có vị ngọt béo và có mùi thơm (Vũ Công Hau, 1999).2 Điều kiện sinh trưởng: Nhiệt độ, 4m độ Sau riêng là cây vùng ăn trái nhiệt đới yêu cầu nhiệt độ và ẩm độ cao. Dé chúng sinh trưởng và phát triển tốt cần nhiệt độ 24°C — 30°C, sầu riêng ra hoa ở nhiệt độ từ 20°C — 22°C , 4m độ không khí 75 — 80%.