CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN 1. Thị trường dược phẩm ở Việt Nam 1. Chính sách của nhà nước về dược phẩm Trước đây mọi chính sách về sản xuất ,kinh doanh phân phối thuốc về dược phẩm đều chịu sự quản lý nhà nước , do đó nghành dược phát triển rất chậm ,sau năm 1986 nghành dược bắt đầu phát triển [12]. - Từ các nền tảng nêu trên nghành dược với sự phát triển nhanh chóng các mặt hàng thuốc ngày càng đa dạng, không còn tình trạng thiếu thuốc, người dân có nhiều sự lựa chọn thuốc điều trị cho mình với giá cả phù hợp, luồng gió mới đã thúc đẩy các hình thức kinh doanh thuốc tư nhân phát triển trong đó có nhà thuốc tư nhân, luật dược 34/2005/QH11 được quốc hội thông qua ngày 14/06/2005 [1], cùng với nghị định số 79/2006/NĐ-CP ngày 09/08/2006 [2], Nghị định số 89/2012/NĐ – CP ngày 24/10/2012 [3]của Chính phủ, thông tư số 02/2007/TT – BYT[4], thông tư 43/2010/TT-BYT[5], thông tư 46/2011/TT-BYT [6]của Bộ Y Tế trong việc phân phối thuốc, kinh doanh thuốc.Các loại hình phân phối kinh doanh thuốc mở rộng kích thích nghành dược phát triển cụ thể trong đó là các nhà thuốc tư nhân mở ra ngày càng nhiều, mức cạnh tranh càng cao, vấn đề đặt ra là mỗi cơ sở kinh doanh thuốc phải nghiên cứu và lựa chọn thị trường cho mình.
Tiềm năng của thị trường dược phẩm Việt Nam: - Nội dung xem xét ở đây là thị trường thuốc phục vụ cho người dân trong nước Việt Nam, số dân và cơ cấu dân số, mức chi phí cho thuốc chữa bệnh là yếu tố quyết định đến số lượng thuốc sản xuất, chủng loại thuốc, giá cả và chất lượng sản phẩm. -Việt Nam nằm ở khu vực Đông Nam Á với dân số là 90,73 triệu người, tăng 1,08% so với năm 2013, bao gồm dân số thành thị 30,04 triệu 3 Luan van thac si người chiếm 33,1%, dân số nông thôn 60,69 triệu người chiếm 66,9%, dân số nam 44,76 triệu người chiếm 49,33%, dân số nữ 45,97 triệu người chiếm 50,67% [7]. Có thể nói rằng, so với các nước trong khu vực thì Việt Nam là nước có mức tăng trưởng cao ở Châu Á. Chính phủ đầu tư nhiều cho ngành y tế với mục tiêu nâng cao chất lượng sức khỏe cộng đồng, tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm từ 41% năm 1990 xuống còn 16,2% năm 2012, tức là đã giảm được hơn 60% so với năm 1990.
Năm 2014, ước tính tỷ lệ suy dinh dưỡng thể cân nặng/tuổi trẻ em dưới năm tuổi là 15%, giảm 0,3% so với năm 2013, tuy nhiên vẫn ở mức cao. Diện bao phủ BHYT ở nước ta đã tăng từ 60% năm 2010 lên 65% năm 2011, đến năm 2013 có trên 61 triệu người tham gia BHYT, đưa diện bao phủ BHYT lên gần 70% dân số cả nước. Riêng năm 2013, quỹ BHYT đã chi trả cho trên 131 triệu lượt người khám, chữa bệnh BHYT với số chi trên 42. Chi phí tiền thuốc cho chăm sóc sức khỏe ở Việ t nam Nền kinh tế đất nước ngày càng phát triển, mức sống của người dân ngày càng được nâng cao, người dân dần dần quan tâm chăm sóc sức khỏe của mình hơn, sử dụng từ thuốc điều trị đến các thuốc dự phòng ngày càng nhiều hơn.
Đến nay thực phẩm chức năng đã chiếm một thị phần không nhỏ trong thị trường dược phẩm.Thị trường dược phẩm Việt Nam có mức tăng trưởng cao nhất Đông Nam Á, khoảng 16% hàng năm. Năm 2013 tổng giá trị tiêu thụ thuốc là 3,3 tỷ USD, dự báo sẽ tăng lên khoảng 10 tỷ USD vào năm 2020 [9]. Nếu đem so sánh mức chi tiêu cho sử dụng thuốc của người dân Việt Nam còn thấp, năm 2012 là 29,5 USD/người/năm (Thái Lan 64 USD, Malaysia 54 USD, Singapore 138 USD), cùng với mối quan tâm đến sức khỏe ngày càng nhiều của 90 triệu dân sẽ là những yếu tố thúc đẩy phát triển ngành dược Việt Nam[9]. 4 Luan van thac si Nguồn: Công ty Cổ phần Chứng khoán FPT (FPTS).
Mức tăng trưởng, tổng giá trị tiêu thụ thuốc và chi tiêu bình quân đầu người cho dược phẩm (đơn vị tính là 1.000 USD) Giá trị tiền thuốc sử dụng trong năm trên đầu người của Việt Nam đi từ 10 USD vào năm 2005 và đã đạt đến 38 USD vào năm 2014 (tăng 3,8 lần sau 10 năm). Như vậy chỉ số tiêu dùng cho dược phẩm đã và đang thay đổi theo thời gian, sự thay đổi này có một số tác động bởi một số yếu tố sau: - Tình hình dịch tễ, bệnh tật có nhiều chuyển biến phức tạp. - Sự quan tâm về chăm sóc sực khỏe của Chính phủ đã có sự thay đổi đáng kể trong thập niên qua. - Tốc độ tăng trưởng về kinh tế cũng như sự quan tâm, giáo dục trong chăm sóc sức khỏe ngày càng toàn diện hơn.
- Sự già hóa dân số, thay đổi lối sống, bệnh thế kỷ hay bệnh mạn tính ngày càng gia tăng. - Chính sách của bảo hiểm y tế cũng đóng góp, hỗ trợ đáng kể cho người dân khi tham gia đóng bảo hiểm cũng như sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh. Chính những điều này đã và đang mở ra nhiều cơ hội cho thị trường dược phẩm nói chung và nhà thuốc nói riêng 5 Luan van thac si 1. Nhà thuốc, quá trình phát triển và yêu cầu thực hành 1.
Vai trò của nhà thuốc tư nhân ở Việt Nam Ở Việt Nam, cũng như nhiều nước đang phát triển, các nhà thuốc thường là nơi lựa chọn đầu tiên của người dân để tìm kiếm dịch vụ y tế cho những vấn đề sức khỏe thông thường, các nhà thuốc này đóng một vai trò quan trọng trong việc cung ứng các loại thuốc cũng như đưa ra lời khuyên và tư vấn về vấn đề sức khỏe. Tìm hiểu vai trò của nhân viên nhà thuốc và các dịch vụ nhà thuốc cho thấy đôi khi các nhân viên nhà thuốc có thể đóng một vai trò kép như cả bác sĩ và dược sĩ trong thực hành hàng ngày của họ ở nhà thuốc. Điều này có nghĩa là họ vừa có thể tư vấn đơn thuốc cho khách hàng như là một bác sĩ đồng thời vừa cung ứng các loại thuốc như một dược sĩ[10]. Dược sĩ có thể tham gia vào các giai đoạn khác nhau của việc bán thuốc hoặc tư vấn thuốc.
Tuy nhiên, dược sĩ vẫn chịu trách nhiệm về mặt pháp lý đối với từng loại thuốc được phân phối và cung ứng. Dược sĩ được hỗ trợ bởi nhân viên bán hàng (dược sĩ cao đẳng hay trung học). Hoạt động của nhân viên bán hàng bao gồm việc bán thuốc không kê đơn cũng như tư vấn cho bệnh nhân về bệnh sử dụng thuốc và lối sống lành mạnh nâng cao thể trạng và sức khỏe. Họ cũng có thể được tham gia vào việc tiếp nhận đơn thuốc và cung ứng thuốc theo đơn.
Quá trình phát triển nhà thuốc tại Việt Nam Ở Việt Nam, nhà thuốc đầu tiên có tên là Pharmacy principal Sonirene được mở vào đầu năm 1865 tại Sài Gòn (nay là thành phố Hồ Chí Minh) bởi người Pháp. Vào thời điểm đó, Việt Nam là một thuộc địa của Pháp và tất cả các nhà thuốc đều do thực dân Pháp điều hành. Việt Nam trải qua một thời gian dài chiến tranh đồng thời nền kinh tế khó khăn và lạc hậu đã dẫn đến những hạn chế trong hệ thống chăm sóc sức khỏe. Một trong những hạn chế đó là nhà nước chưa cho phép các thành phần 6 Luan van thac si tư nhân tham gia vào cung ứng dịch vụ y tế nên nhà thuốc cộng đồng ( nhà thuốc tư nhân) không phát triển trong thời gian đó.
Sau đại hội VI của Đảng năm 1986 từ năm 1987, dịch vụ chăm sóc sức khỏe tư nhân bắt đầu phát triển. Nhà nước cho tư nhân tham gia vào các dịch vụ y tế , Dược sĩ được mở nhà thuốc tư nhân, cũng như dược sĩ trung học, dược tá được mở quầy thuốc. Kinh tế y tế tại Việt Nam chuyển đổi nhanh chóng từ một hệ thống mà vốn và điều hành hoàn toàn bởi nhà nước chuyển dịch một phần sang kinh tế tư nhân, nhờ đó dịch vụ đã đầu tư nhiều hơn vào việc chăm sóc y tế, từng bước cổ phần hóa hoặc từng phần hoặc chuyển giao sang tư nhân 100%[11]. Cải cách kinh tế đã thay đổi hệ thống y tế trong hai thập kỷ qua và nhà thuốc tư nhân hiện nay cung cấp phần lớn các loại thuốc cả thuốc không kê đơn và thuốc kê đơn.
Nhà thuốc tư nhân đóng một vai trò quan trọng trong hệ thống chăm sóc sức khỏe tại Việt Nam và chính phủ đang nỗ lực chỉ đạo các khu vực tư nhân theo hướng đóng góp nhiều nhất cho sự cải thiện sức khỏe của cộng đồng, với mục tiêu này sẽ mang lại chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng ngày càng tốt hơn đồng thời giảm đầu tư, chi tiêu chính phủ.Nhằm nâng cao chất lượng cho hệ thống nhà thuốc, Bộ Y tế đã đưa ra tiêu chuẩn hóa nhà thuốc GPP. Về cơ bản các nhà thuốc đã đạt GPP theo đúng lộ trình quy định. Tỷ lệ các nhà thuốc đạt GPP tính đến năm 2015 đã đạt 100% [12]. Một số tiêu chuẩn cung ứng thuốc cho cộng đồng Trong vài thập kỷ gần đây, Dược cộng đồng đã đề cập đến các họat động chăm sóc thuốc men cho cộng đồng, từ việc cung ứng đủ, phân phối thuốc có chất lượng đến việc sử dụng thuốc an toàn hợp lý, kinh tế.
Tổ chức y tế Thế giới đã đưa ra 6 tiêu chuẩn để hướng dẫn, giám sát và đánh giá việc cung ứng thuốc cho cộng đồng như sau[13]: 7 Luan van thac si Thuận tiện: Điểm bán thuốc gần dân đi bằng phương tiện thông thường (30-60 phút). Giờ giấc bán: Phù hợp với tập quán sinh hoạt của từng địa phương, cần có nhà thuốc phục vụ 24/24 giờ để phục vụ cấp cứu, thủ tục mua bán thuận tiện nhất là thuốc thông thường không cần đơn. Tính kịp thời: Có sẵn và đủ các loại thuốc đáp ứng nhu cầu, có thuốc cùng loại để thay thế. Có sẵn và đủ các loại thuốc thiết yếu.
Chất lượng thuốc: Đảm bảo và không bán những thuốc chưa có số đăng ký hoặc chưa được phép nhập khẩu, sản xuất, thuốc giả, thuốc kém chất lượng, thuốc quá hạn dùng. Giá cả: Hợp lý và niêm yết công khai. Hướng dẫn sử dụng: Sử dụng thuốc an toàn hợp lý. Về kinh tế phải đảm bảo giá thành điều trị: Giá thuốc phải phù hợp với khả năng chi trả của từng đối tượng khác nhau, phù hợp với khả năng tài chính của người mua.
Tiết kiệm chi phí cho cộng đồng. Bên cạnh đó cũng phải đảm bảo thu nhập và lãi hợp lý cho người bán thuốc.