Khảo Sát Hiện Tượng Tiêu Điểm Hóa Cấu Trúc Chủ - Vị Trong Câu Tiếng Việt

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu bước đầu khảo sát hiện tượng tiêu điểm hóa cấu trúc chủ vị của câu tiếng việt 60 22 01, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải pháp

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2010

128
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tiêu Điểm Hóa Cấu Trúc Chủ Vị Tiếng Việt Tổng Quan Khái Niệm

Trong giao tiếp tiếng Việt, cùng một nội dung phát ngôn có thể mang những giá trị thông tin khác nhau tùy thuộc vào ngữ cảnh. Hiện tượng này, thường được gọi là "phân đoạn thực tại", đóng vai trò quan trọng trong việc truyền đạt ý nghĩa. Các nhà ngôn ngữ học đã quan tâm đến hiện tượng này, bắt đầu từ Mathesius và trường phái Praha. Nghiên cứu về câu trong ngữ nghĩa học và ngữ dụng học đã có những bước phát triển mạnh mẽ, tập trung vào vai trò của con người trong ngôn ngữ. Các nhà ngôn ngữ học đã chuyển trọng tâm nghiên cứu từ cấu trúc cú pháp sang cấu trúc thông tin của câu. Lý thuyết về cấu trúc thông tin giúp ta hiểu rõ hơn về cách người nói muốn lưu ý đến điều gì và muốn người nghe chú ý, tiếp nhận phần thông tin nào được cho là quan trọng. "sự phân đoạn thực tại".

1.1. Khái niệm Cấu Trúc Thông Tin và Vai trò của Tiêu Điểm

Cấu trúc thông tin của câu là cách tổ chức thông tin trong câu, bao gồm phần đã biết (nền) và phần mới (tiêu điểm). Tiêu điểm thông tin là phần thông tin quan trọng nhất, được người nói nhấn mạnh. Tiêu điểm hóa là quá trình làm nổi bật tiêu điểm thông tin. Cùng một nội dung phát ngôn, thông tin tiêu điểm hóa lại rơi vào các thành tố cú pháp khác nhau để tạo ra những giá trị thông tin khác nhau. Việc nhận diện tiêu điểm thông tin là quan trọng nhất khi phân tích cấu trúc thông tin.

1.2. Ảnh hưởng của Ngữ Cảnh đến Tiêu Điểm Hóa Chủ Vị

Ngữ cảnh giao tiếp đóng vai trò quan trọng trong việc xác định tiêu điểm thông tin. Cùng một câu, khi được trả lời cho những câu hỏi khác nhau, hoặc khi được đặt trong những tình huống khác nhau, sẽ có những phần thông tin khác nhau được nhấn mạnh. Ví dụ: "Lan mua hai cuốn sách." có thể trả lời cho câu hỏi "Ai mua hai cuốn sách?", "Lan mua gì?", hoặc "Lan làm gì?", mỗi câu hỏi làm nổi bật một thành phần khác nhau của câu gốc. Vì vậy, cần phải xem xét ngữ cảnh để phân tích chính xác tiêu điểm thông tin.

II. Thách Thức Nhận Diện Tiêu Điểm Hóa Chủ Vị trong Câu

Việc nhận diện tiêu điểm hóa chủ ngữtiêu điểm hóa vị ngữ trong câu tiếng Việt không phải lúc nào cũng dễ dàng. Một trong những thách thức lớn nhất là sự đa dạng của các phương tiện ngôn ngữ được sử dụng để thể hiện tiêu điểm, bao gồm cả ngữ điệu, trật tự từ, và các hư từ. Bên cạnh đó, sự ảnh hưởng của ngữ cảnh và kiến thức nền của người nghe cũng có thể làm thay đổi cách thức người nghe tiếp nhận và giải mã thông tin. Hầu hết các tác giả đã ít nhiều gợi mở cho người đọc hình dung về cấu trúc thông tin của câu. Song, hầu hết họ chỉ lấy bản thân cấu trúc thông tin làm đối tượng nghiên cứu chứ không nghiên cứu một cách trực tiếp và chuyên sâu. Tập hợp những bài viết của PGS. Nguyễn Hồng Cổn trong công trình nghiên cứu của mình.

2.1. Sự Đa Dạng của Phương Tiện Ngôn Ngữ Thể Hiện Tiêu Điểm

Tiếng Việt sử dụng nhiều phương tiện khác nhau để đánh dấu tiêu điểm, bao gồm trọng âm, tỉnh lược, hư từ, và thay đổi trật tự từ. Ví dụ, việc nhấn mạnh vào một từ cụ thể bằng cách tăng âm lượng có thể làm nổi bật thành phần đó. Tỉnh lược, hay lược bỏ những phần thông tin đã biết, cũng là một cách để tập trung sự chú ý vào phần thông tin mới. "Trợ từ tiêu điểm", tổ hợp "trợ từ...tiểu từ", câu bị động, vv.

2.2. Ảnh Hưởng của Ngữ Cảnh và Kiến Thức Nền

Ngữ cảnh giao tiếp và kiến thức nền của người nghe đóng vai trò quan trọng trong việc giải mã tiêu điểm. Một câu có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào ngữ cảnh và kiến thức mà người nghe có. Vì vậy, cần phải xem xét cả ngữ cảnh và kiến thức nền để phân tích chính xác tiêu điểm thông tin.

III. Cách Xác Định Tiêu Điểm Hóa Tiền Giả Định và Câu Hỏi

Để xác định tiêu điểm thông tin, cần phải dựa vào các yếu tố như tiền giả định và câu hỏi. Tiền giả định là những thông tin mà người nói cho rằng người nghe đã biết hoặc chấp nhận. Tiêu điểm thường là phần thông tin mới, cung cấp thông tin bổ sung cho tiền giả định. Câu hỏi cũng là một yếu tố quan trọng, vì câu trả lời thường chứa tiêu điểm thông tin.Cùng một nội dung phát ngôn nhưng thông tin tiêu điểm hoá lại rơi vào các thành tố cú pháp khác nhau để tạo ra những giá trị thông tin khác nhau. Chúng tôi nhận thấy điều quan trọng nhất khi tiến hành phân tích cấu trúc thông tin của một phát ngôn là phải nhận diện được giá trị thông tin nằm ở bộ phận nào của phát ngôn (nhận diện tiêu điểm thông tin).

3.1. Tiền Giả Định và Mối Quan Hệ với Tiêu Điểm Thông Tin

Tiền giả định là nền tảng để xây dựng thông tin mới. Tiêu điểm thông tin thường là phần thông tin không nằm trong tiền giả định, mà cung cấp thông tin mới. Việc xác định tiền giả định giúp ta thu hẹp phạm vi tìm kiếm tiêu điểm thông tin.

3.2. Phân Tích Câu Hỏi Để Xác Định Tiêu Điểm Trong Câu Trả Lời

Câu hỏi thường chỉ ra loại thông tin mà người hỏi đang tìm kiếm. Câu trả lời, do đó, thường chứa tiêu điểm thông tin, cung cấp thông tin để trả lời câu hỏi đó. Ví dụ, câu hỏi "Ai mua hai cuốn sách?" hướng tới chủ ngữ, do đó câu trả lời sẽ có chủ ngữ là tiêu điểm.

3.3. Tiêu Điểm Hỏi và Tiêu Điểm Khẳng Định Các Loại Tiêu Điểm

Có nhiều loại tiêu điểm thông tin, bao gồm tiêu điểm hỏi (thông tin được hỏi trong câu hỏi) và tiêu điểm khẳng định (thông tin được khẳng định trong câu trả lời). Ngoài ra, còn có tiêu điểm tương phản (thông tin được đưa ra để đối lập với thông tin khác), tiêu điểm thay thế, tiêu điểm mở rộng, tiêu điểm hạn định, tiêu điểm lựa chọn, tiêu điểm song song. Việc phân loại các loại tiêu điểm thông tin giúp ta hiểu rõ hơn về chức năng của chúng.

IV. Nghiên Cứu Tiêu Điểm Hóa Chủ Vị Phương Pháp và Ứng Dụng

Nghiên cứu tiêu điểm hóa cấu trúc chủ vị đòi hỏi sự kết hợp của nhiều phương pháp, bao gồm phân tích ngữ pháp, phân tích ngữ nghĩa, và phân tích ngữ dụng. Các phương pháp này giúp ta hiểu rõ cách thức người nói sử dụng ngôn ngữ để nhấn mạnh những phần thông tin khác nhau. Kết quả nghiên cứu có thể được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực, bao gồm giảng dạy ngôn ngữ, phân tích văn bản, và xử lý ngôn ngữ tự nhiên.Trong cấu trúc thông tin có một bộ phận chứa đựng thông tin coi là quan trọng nhất và được gọi là tiêu điểm thông tin. Cùng một nội dung phát ngôn nhưng thông tin tiêu điểm hoá lại rơi vào các thành tố cú pháp khác nhau để tạo ra những giá trị thông tin khác nhau.

4.1. Kết Hợp Phân Tích Ngữ Pháp Ngữ Nghĩa và Ngữ Dụng

Phân tích ngữ pháp giúp ta xác định cấu trúc cú pháp của câu, bao gồm chủ ngữ, vị ngữ, và các thành phần khác. Phân tích ngữ nghĩa giúp ta hiểu ý nghĩa của các từ và cụm từ. Phân tích ngữ dụng giúp ta hiểu cách ngôn ngữ được sử dụng trong ngữ cảnh cụ thể. Kết hợp cả ba phương pháp này giúp ta có cái nhìn toàn diện về tiêu điểm hóa.

4.2. Ứng Dụng trong Giảng Dạy Tiếng Việt và Phân Tích Văn Bản

Hiểu rõ về tiêu điểm hóa giúp giáo viên tiếng Việt giải thích rõ ràng hơn về ý nghĩa và cách sử dụng của các cấu trúc câu khác nhau. Nó cũng giúp người học nhận biết và sử dụng các phương tiện ngôn ngữ để nhấn mạnh những phần thông tin quan trọng. Trong phân tích văn bản, việc xác định tiêu điểm giúp ta hiểu rõ hơn về ý đồ và thông điệp của tác giả. Qua khảo sát trên ngữ liệu cụ thể về hiện tượng tiêu điểm hóa , chúng tôi đã rút ra một số nhận xét trong thực tế giao tiếp của người Việt Nam.

V. Tiêu Điểm Vị Từ và Tham Tố Phạm Vi Tiêu Điểm Hóa Chủ Vị

Tiêu điểm hóa cấu trúc chủ-vị có thể tập trung vào vị từ hoặc tham tố (các thành phần bổ nghĩa cho vị từ). Tiêu điểm vị từ thường xuất hiện khi muốn nhấn mạnh hành động hoặc trạng thái. Tiêu điểm tham tố thường xuất hiện khi muốn nhấn mạnh đối tượng hoặc người thực hiện hành động. Điều kiện xuất hiện và phương tiện thể hiện của mỗi loại tiêu điểm này có những đặc điểm riêng biệt.Cấu trúc chủ - vị có tiêu điểm thông tin là vị từ. Điều kiện xuất hiện của tiêu điểm thông tin là vị từ. Đối với những câu hỏi. Đối với những phát ngôn không phải là câu hỏi.

5.1. Điều Kiện Xuất Hiện và Phương Tiện Thể Hiện Tiêu Điểm Vị Từ

Tiêu điểm vị từ thường xuất hiện trong các câu trả lời cho câu hỏi về hành động hoặc trạng thái. Phương tiện thể hiện có thể là trọng âm, sử dụng các từ ngữ mang tính nhấn mạnh (ví dụ: "thực sự", "rất"), hoặc sử dụng các cấu trúc cú pháp đặc biệt (ví dụ: đảo ngữ).Khả năng hoạt động của tiêu điểm vị từ. Phương tiện thể hiện của tiêu điểm thông tin là vị từ.

5.2. Điều Kiện Xuất Hiện và Phương Tiện Thể Hiện Tiêu Điểm Tham Tố

Tiêu điểm tham tố thường xuất hiện trong các câu trả lời cho câu hỏi về đối tượng hoặc người thực hiện hành động. Phương tiện thể hiện có thể là trọng âm, sử dụng các giới từ hoặc các từ ngữ chỉ định, hoặc sử dụng các cấu trúc cú pháp đặc biệt.Đối với những câu hỏi nhằm tìm kiếm thông tin. Đối với những câu hỏi nhằm xác nhận tính chân thực thông tin.

VI. Kết Luận và Hướng Nghiên Cứu Tiêu Điểm Hóa Trong Tương Lai

Nghiên cứu về tiêu điểm hóa cấu trúc chủ vị là một lĩnh vực quan trọng trong ngôn ngữ học, giúp ta hiểu rõ hơn về cách thức người nói sử dụng ngôn ngữ để truyền đạt thông tin. Trong tương lai, cần có thêm nhiều nghiên cứu về các phương tiện ngôn ngữ khác nhau được sử dụng để thể hiện tiêu điểm, cũng như ảnh hưởng của ngữ cảnh và kiến thức nền đến việc giải mã tiêu điểm. Lý thuyết về cấu trúc thông tin khơi dậy một vấn đề quan trọng trong nghiên cứu các hiện tượng giao tiếp ngôn ngữ: đó là người nói muốn lưu ý đến điều gì và muốn người nghe chú ý, tiếp nhận đến phần thông tin nào được cho là quan trọng.

6.1. Tổng Kết Các Phương Pháp Tiêu Điểm Hóa Chủ Vị

Các phương pháp tiêu điểm hóa chủ vị bao gồm sử dụng trọng âm, tỉnh lược thông tin đã biết, dùng hư từ nhấn mạnh, và thay đổi trật tự từ. Mỗi phương pháp có những ưu điểm và hạn chế riêng, và được sử dụng trong những ngữ cảnh khác nhau. Cần có sự kết hợp linh hoạt các phương pháp này để đạt hiệu quả giao tiếp cao nhất.

6.2. Hướng Nghiên Cứu Mở Rộng về Tiêu Điểm Hóa và Ngữ Dụng Học

Các hướng nghiên cứu tương lai có thể tập trung vào việc phân tích tiêu điểm hóa trong các loại hình văn bản khác nhau, như văn học, báo chí, và quảng cáo. Nghiên cứu về mối quan hệ giữa tiêu điểm hóa và các yếu tố ngữ dụng khác, như lịch sự và hài hước, cũng là một hướng đi tiềm năng.Tiêu điểm hóa bằng trọng âm. Tiêu điểm hóa bằng tỉnh lược cơ sở thông tin.

28/05/2025
Luận văn thạc sĩ bước đầu khảo sát hiện tượng tiêu điểm hóa cấu trúc chủ vị của câu tiếng việt 60 22 01

Trích đoạn nội dung tài liệu

Phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chƣơng đƣợc sắp xếp nhƣ sau: Chƣơng 1: Tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết của cấu trúc thông tin. Chƣơng 2: Các phƣơng thức tiêu điểm hoá cấu trúc chủ - vị câu tiếng Việt. Chƣơng 3: Phạm vi tiêu điểm hoá cấu trúc chủ - vị câu tiếng Việt.01 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1.

Tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu cấu trúc thông tin trong ngôn ngữ học 1. Lý thuyết phân đoạn thực tại Trong các công trình nghiên cứu những năm gần đây thƣờng hay nói tới thuật ngữ "sự phân đoạn thực tại câu" (Actual Division of the Sentence), "phối cảnh chức năng của câu" (Functional Sentence Perspective). Tuy khác nhau về tên gọi nhƣng chúng đều cùng thuộc về lý thuyết phân đoạn thực tại câu.

Ngƣời đặt nền móng cho lý thuyết này là A.Weil (1818 - 1909) - nhà ngôn ngữ học Pháp. Những ý tƣởng của ông đã đƣợc V.Mathesius (1882 - 1945) phát triển và đề xuất ra thuật ngữ "phân đoạn thực tại câu". Theo bài viết của ông, "các yếu tố cơ bản của phân đoạn thực tại câu là điểm xuất phát [hay là cơ sở], tức là cái mà, trong tình huống đã cho, là cái đã biết hoặc chí ít cũng dễ dàng hiểu đƣợc và ngƣời nói xuất phát từ đó, và hạt nhân của phát ngôn, tức là cái mà ngƣời nói thông báo về điểm xuất phát của phát ngôn.Mathesius, một số nhà nghiên cứu mà đại diện là nhà ngôn ngữ học Tiệp Khắc J.Firbas chủ trƣơng bổ sung thêm một thành phần thứ ba vào sự phân đoạn là "chuyển đề" (transition) với chức năng là phần chuyển tiếp từ chủ đề sang thuật đề (hoặc ngƣợc lại). Trái với xu hƣớng trên là quan điểm của R.Dooley khi tiến hành phân tích cấu trúc câu của tiếng Guarani (1982).

Theo ông, phần duy nhất bắt buộc phải có trong câu là hạt nhân dụng pháp và phần này ít nhất phải chứa đựng một cái lõi hay tâm (core). Đó là một cái lõi mang tính thông báo cao độ, phần xung quanh chỉ là một cái khung (frame) mà nội dung là một tiền giả định đƣợc chia sẻ giữa ngƣời nói và ngƣời nghe (ngƣời hỏi và ngƣời trả lời). Do vậy, cấu trúc thông báo của câu sẽ chỉ có một trung tâm hay còn gọi là tiêu điểm. Dù có những xu hƣớng khác nhau nhƣ vậy nhƣng đa số các tác giả thống nhất một quan niệm chung là xếp cấu trúc thông báo vào bình diện cú pháp.

Cấu trúc thông tin theo ngữ pháp chức năng Lý thuyết do Mathesius và nhóm ngôn ngữ học Praha đề xƣớng đƣợc nhiều nhà nghiên cứu tiếp thu và phát triển theo những chiều hƣớng khác nhau. Cho đến (LUAN.01 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.01 nay, cách phân tích câu theo quan điểm ngữ pháp chức năng đã phát triển và ngày càng có ảnh hƣởng đến giới ngôn ngữ học Việt Nam nói chung và giới nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt nói riêng. Dik (1981) tạo nền tảng lý thuyết cho ngữ pháp chức năng bằng cách giới thiệu về hệ hình chức năng qua việc trả lời một số câu hỏi về chức năng của ngôn ngữ tự nhiên. Dik cho rằng ngữ pháp chức năng xem ngôn ngữ nhƣ là một "công cụ giao tiếp xã hội".

Chức năng chính của ngôn ngữ tự nhiên là "thiết lập giao tiếp" giữa những ngƣời sử dụng ngôn ngữ. Giao tiếp có thể đƣợc xem nhƣ là một mô hình tƣơng tác tác động qua đó ngƣời sử dụng ngôn ngữ tạo nên một sự thay đổi nào đó trong thông tin dụng học của ngƣời cùng giao tiếp. Nhƣ vậy, ngữ pháp chức năng đề cao tầm quan trọng của dụng học, một khi nó nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ, ngƣời sử dụng ngôn ngữ (ngƣời nói và ngƣời nghe) và bối cảnh giao tiếp. Dik cũng đã phân biệt trong dụng học có 4 chức năng khác nhau đối với bản thân kết cấu vị ngữ: chủ đề (theme), hậu đề (tail), đề (topic), tiêu điểm (focus).

Hai chức năng dụng học dƣới đây nằm ngoài khung vị ngữ: - Chủ đề (theme): chủ đề chỉ định toàn bộ diễn ngôn có liên quan đến điều mà kết cấu vị ngữ đi sau biểu thị một sự quan yếu. - Hậu đề (tail): hậu đề biểu thị, nhƣ một "hậu ý" đối với kết cấu vị ngữ, những thông tin làm rõ hay bổ nghĩa cho nó. Hai chức năng dụng học còn lại nằm trong khung vị ngữ: - Đề (topic): đề biểu thị những thực thể mà kết cấu vị ngữ xác định điều gì đó "về" nó trong bối cảnh đã biết. - Tiêu điểm (focus): tiêu điểm biểu thị những thông tin đƣợc xem là quan trọng hay nổi bật nhất trong bối cảnh đã biết.

[10,35] Bên cạnh quan niệm của S.Dik, một công trình có tầm ảnh hƣởng sâu rộng khi nói tới ngữ pháp chức năng là "An Introduction to Functional Grammar"(Dẫn luận Ngữ pháp chức năng) đƣợc xuất bản lần đầu tiên vào 1985 của M. Ông cho rằng câu đƣợc dùng với 3 siêu chức năng khác nhau: câu trong văn bản ứng với siêu chức năng văn bản (textual), câu trong giao tiếp ứng với siêu chức năng liên nhân (interpersonal), câu dùng làm cái biểu hiện ứng với siêu chức năng quan niệm (ideational). Theo đó ứng với mỗi chức năng có một cách tổ chức (LUAN.01 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.01 đặc thù trong câu; mỗi cách tổ chức đặc thù đó làm thành kiểu cấu trúc dành riêng cho việc thực hiện một chức năng nhất định, không trùng lặp với cấu trúc của chức năng khác: qua cấu trúc đề - thuyết, câu với tƣ cách là một thông điệp ứng với siêu chức năng văn bản. Qua cấu trúc thức, câu với tƣ cách lời trao đáp ứng với siêu chức năng liên nhân.

Qua cấu trúc nghĩa biểu hiện, câu với tƣ cách nhƣ là một sự thể hiện ứng với chức năng quan niệm. Từ đó, Halliday quan niệm khi đƣa câu vào văn bản, vào tình huống ngƣời sử dụng, ngƣời nói phải chọn từ ngữ làm điểm xuất phát cho việc tổ chức câu. Yếu tố đƣợc chọn làm xuất phát điểm cho câu đƣợc gọi là phần khởi đề, phần còn lại là phần trần thuyết, tức là phần diễn giải có liên quan đến phần đề, gọi gọn lại là phần đề và phần thuyết. Quan hệ giữa hai phần này đƣợc gọi là cấu trúc đề hay cấu trúc đề - thuyết.

Theo ông, "có một mối quan hệ gần gũi giữa cấu trúc thông tin và cấu trúc đề ngữ. Nếu mọi cái đều ngang bằng nhau thì ngƣời nói sẽ chọn đề ngữ từ trong thành phần thông tin cũ và đặt tiêu điểm, đỉnh điểm ở thông tin mới ở một nơi nào đó trong thành phần thuyết ngữ. Nhƣng mặc dù chúng có quan hệ với nhau, thông tin cũ - mới và đề ngữ - thuyết ngữ không giống nhau. Đề ngữ là cái tôi, ngƣời nói, chọn làm xuất điểm.

Thông tin cũ là cái bạn, ngƣời nghe đã biết hoặc có và bạn có thể tiếp cận đƣợc. Đề - thuyết hƣớng tới ngƣời nói trong khi thông tin cũ - mới lại hƣớng tới ngƣời nghe" [16,478]. Có thể thấy, Halliday khẳng định cấu trúc đề - thuyết và cấu trúc thông tin không đồng nhất với nhau. Từ những sự trình bày trên nhận thấy ngữ pháp chức năng của S.Dik và Halliday có nét khác biệt nhƣng nhìn chung đều tiếp cận vấn đề của ngôn ngữ theo một chiều hƣớng khác với ngữ pháp cấu trúc.

Thực tế hai cách miêu tả bổ sung cho nhau và làm hoàn thiện công việc nghiên cứu ngôn ngữ để nhằm những mục đích nhất định. Bởi thiết nghĩ hai biểu thức ngôn ngữ khác nhau cho dù cùng diễn đạt một thông tin nội dung mệnh đề nhƣng chắc chắn để thể hiện cho hai mục đích khác nhau. Một trong những ý nghĩa có thể sản sinh khi ta sử dụng những cấu trúc ngữ pháp và từ vựng khác nhau là nêu bật một sự tình mang tính tiêu điểm mà luận văn của chúng tôi muốn bàn tới. Ý nghĩa khác nhau đó nằm trong tầm phạm vi của dụng học.Dik [49,9] bàn đến cấu trúc thông tin dụng học, ông đã chia thành ba thành tố chính: (LUAN.01 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.01 (i) Thông tin chung: bao gồm những thông tin dài hạn về thế giới, những đặc trưng văn hoá và thiên nhiên của nó và những thông tin về bất kỳ một thế giới nào khác, dù thực hay tưởng tượng.

(ii) Thông tin tình huống: bao gồm những thông tin xuất phát từ người tham gia giao tiếp hay tình huống giao tiếp. (iii) Thông tin ngữ cảnh: là những thông tin từ các biểu thức ngôn ngữ đi trước và sau thời điểm giao tiếp được xét đến. Từ sự phân loại thông tin trên cho chúng ta thấy phần thông tin tình huống sẽ rất đa dạng và phong phú vì xuất phát từ tình giao tiếp cụ thể trong thực tế. Do đó, phần thông tin dụng học mà luận văn này chúng tôi muốn xem xét khi bàn đến hiện tƣợng tiêu điểm hoá chỉ nằm trong phạm vi của phần thông tin thể hiện trong ngữ cảnh, nghĩa là chúng tôi muốn xét hiện tƣợng tiêu điểm chỉ trên cơ sở phát ngôn trong ngữ cảnh của văn bản mà thôi.

Tình hình nghiên cứu cấu trúc thông tin trong Việt ngữ học Bên cạnh việc điểm qua các quan niệm khác nhau ở trên, chúng tôi nhận thấy cấu trúc cú pháp và cấu trúc thông tin dù không đồng nhất với nhau nhƣng giữa hai loại cấu trúc này có mối liên hệ mật thiết trong từng ngữ cảnh cụ thể. Trong khi cấu trúc cú pháp chịu sự quy định đặc thù về loại hình cấu trúc của hệ thống ngôn ngữ thì cấu trúc thông tin là một loại cấu trúc thực hiện chức năng. Bất cứ một thông tin mới nào trong phát ngôn cũng đều đƣợc thể hiện qua một hình thức cú pháp nhất định. Do đó việc xem xét cấu trúc thông tin không thể không đặt trong mối quan hệ với cấu trúc cú pháp để có cơ sở vững chắc lí giải đƣợc những quy tắc trong thói quen sử dụng ngôn ngữ của ngƣời Việt.

Về cấu trúc cú pháp 1. Phân tích cấu trúc cú pháp theo quan hệ chủ - vị Trong Việt ngữ học tồn tại hai quan điểm trái ngƣợc nhau về cấu trúc cú pháp tiếng Việt. Sự khác nhau đó khiến việc nghiên cứu gặp nhiều khó khăn, phức tạp. Nhìn chung có hai đƣờng hƣớng chính xung quanh cấu trúc cú pháp câu tiếng Việt.

Đƣờng hƣớng nghiên cứu phổ biến vẫn tồn tại trong ngữ pháp nhà trƣờng cho đến nay là phân tích cấu trúc câu ở bình diện kết học theo quan hệ chủ - vị. Những nhà nghiên cứu theo hƣớng này là Nguyễn Kim Thản, Hoàng Trọng Phiến, Lê Xuân Thại, Diệp Quang Ban… (LUAN.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Khảo Sát Hiện Tượng Tiêu Điểm Hóa Cấu Trúc Chủ - Vị Trong Câu Tiếng Việt" cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách mà cấu trúc chủ - vị trong câu tiếng Việt được tiêu điểm hóa, từ đó làm nổi bật vai trò của các thành phần trong câu. Nghiên cứu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về ngữ pháp tiếng Việt mà còn mở rộng kiến thức về cách thức mà ngôn ngữ phản ánh ý nghĩa và cảm xúc trong giao tiếp.

Để mở rộng thêm kiến thức của bạn về ngôn ngữ học, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ việt nam đặc điểm của nhóm phó từ chỉ mức độ trong tiếng việt, nơi khám phá các nhóm từ và cách chúng ảnh hưởng đến nghĩa của câu. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ khảo sát định ngữ tỉnh thái trong câu tiếng việt trên ba bình diện kết học nghĩa học dung học sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các định ngữ và vai trò của chúng trong câu. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu về Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học hiện tượng chuyển loại tính từ sang danh từ trong tiếng anh và tiếng việt khảo sát trên tư liệu một số bài phát biểu của donald trump và bản dịch tiếng việt, để thấy được sự tương đồng và khác biệt trong cấu trúc ngữ pháp giữa tiếng Anh và tiếng Việt.

Mỗi tài liệu này là một cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về ngôn ngữ và cấu trúc câu, từ đó nâng cao hiểu biết của mình về ngôn ngữ học.