phần mở đầu, kết luận và thƣ mục tham khảo luận văn gồm có 3 chƣơng : Chƣơng 1 : Cơ sở lí luận Chƣơng 2 : Khảo sát tiểu loại động từ cảm nghĩ – nói năng trong các tài liệu giảng dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài Chƣơng 3 : Một số bàn luận và đề xuất giải pháp 6 PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Dẫn nhập Trong việc dạy và học tiếng của một ngôn ngữ thì việc nắm vững ngữ pháp của các từ loại là rất quan trọng, đặc biệt là từ loại động từ, bởi vì trong câu động từ là hạt nhân cơ bản biểu đạt các sự tình mà ngƣời học nắm đƣợc nó sẽ nắm đƣợc thông tin của câu. Động từ là một từ loại rất phức tạp bao gồm nhiều từ loại theo các hệ thống phân loại khác nhau. Luận văn này chúng tôi lựa chọn phạm trù động từ cảm nghĩ - nói năng để tiếp cận, khảo sát và đánh giá sự thể hiện chúng trong các tài liệu giảng dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài.
Một số cơ sở lí thuyết về động từ tiếng Việt 1. Khái niệm động từ Trƣớc khi bàn về động từ cảm nghĩ – nói năng thì phải nói đến cơ sở nền tảng của nó, chính là từ loại động từ. Trong tiếng Việt động từ đƣợc coi là một trong hai từ loại cơ bản, còn xét riêng về mặt ngữ pháp thì động từ - vị ngữ là trung tâm của các hoạt động ngữ pháp, chi phối các thành tố ngữ pháp tập hợp các vai nghĩa và các quan hệ ngữ nghĩa – ngữ dụng. Các sách truyền thống vẫn định nghĩa động từ nhƣ: “Động từ là từ loại chỉ hoạt động, trạng thái của các sự vật” (Diệp Quang Ban, 2005).
Định nghĩa đó đúng nhƣng chƣa đủ, ngoài những động từ chỉ vận động trực tiếp của các sự vật còn có những động từ thể hiện hành động nói năng nên các hành vi nói năng và suy nghĩ đƣợc nói ra bởi ngƣời nói cũng là một vấn đề cần tìm hiểu. Trong câu, quan hệ ngữ pháp giữa danh từ và động từ rất đặc biệt bắt nguồn từ quan hệ ngữ nghĩa giữa hai từ loại này, trong đó động từ chỉ ra đặc trƣng quan trọng nhất của sự vật là vận động (Đinh Văn Đức – 1986). Cũng nhƣ ngữ nghĩa của danh từ, ngữ nghĩa của động từ hình thành một 7 mặt phản ánh nội dung thực tại, mặt khác động từ còn thể hiện cả các mối quan hệ giữa các khái niệm trong cách thức phản ánh. Các quan hệ này là cơ sở của ngữ pháp động từ.
Đặc biệt là các ý nghĩa cú pháp trong câu. Từ loại là một nội dung quan trọng trong ngữ pháp học và ngữ pháp tiếng Việt. Hầu hết các tài liệu giảng dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài đều đặt ra những yêu cầu cụ thể cho vấn đề từ loại. Đặc biệt đối với từ loại động từ, các tài liệu giảng dạy tiếng đã dành nhiều không gian để mô tả và luyện tập cho ngƣời học (trong quan hệ với việc đặt trong các phần bài học và thực hành qua bài tập).
Cơ sở lý luận đầu tiên cho nghiên cứu ở đây là về từ loại, đó là: “những lớp từ có cùng bản chất ngữ pháp được phân chia theo ý nghĩa; theo khả năng kết hợp với các từ ngữ khác trong ngữ lưu và thực hiện những chức năng ngữ pháp nhất định trong câu ’’ (Đinh Văn Đức – 1986). Từ loại thƣờng đƣợc chia thành 3 mảng lớn: thực từ, hƣ từ và tình thái từ. Chúng khác nhau về ý nghĩa, về đặc trƣng ngữ pháp và trong cách dùng. Trong thực từ thì đối lập danh – động và nòng cốt cấu trúc ngữ pháp của câu là quan trọng nhất.
Khi ngƣời học tiếng Việt trên phƣơng diện câu/ phát ngôn thì bắt buộc họ phải quan tâm đúng mức đến đối lập này. Trong đối lập danh – động thì động từ có một cƣơng vị đặc biệt. Ở trong câu/ phát ngôn, trên phƣơng diện giao tiếp thì động từ là hạt nhân cú pháp, tập hợp rất nhiều quan hệ ngữ nghĩa – ngữ pháp và từ đó nó chi phối các quan hệ ngữ dụng. Vấn đề bản chất của từ loại động từ trong nghiên cứu này phải đƣợc đặt trên 3 phƣơng diện: a.
Động từ trong quan hệ với các từ loại nói chung. Động từ tiếng Việt với tƣ cách là vị ngữ trung tâm của câu c. Động từ tiếng Việt với những đặc điểm ngữ pháp của một ngôn ngữ đơn lập 8 Trong vấn đề từ loại, 3 đặc điểm này trở thành trung tâm của các nghiên cứu, kể cả việc dạy tiếng Việt nhƣ một ngoại ngữ. Xƣa nay các tài liệu giảng dạy tiếng Việt vẫn sử dụng định nghĩa truyền thống về động từ, coi động từ là từ loại chỉ hành động và trạng thái của các sự vật.
Định nghĩa đó đúng nhƣng chƣa thật đầy đủ. Hiểu một cách rộng hơn về mặt lý luận thì động từ không chỉ có quan hệ với các sự vật mà ta trực giác tri nhận đƣợc (nhìn, sờ, thấy…), mà còn bao gồm các sự vật trừu tƣợng (đƣợc thể hiện bằng các danh từ) và các chủ thể phát ngôn (nhân vật), nhân xƣng. Theo đó thì các động từ cảm nghĩ – nói năng thuộc phạm vi chủ thể của các hành động đƣợc thực hiện bởi ngƣời nói và đƣợc xác định cƣơng vị thông qua việc phân loại động từ. Phân loại động từ Công tác phân loại động từ trong tiếng Việt đã đƣợc nói đến từ nửa đầu thế kỉ XX, đặc biệt là công trình Việt Nam văn phạm của Trần Trọng Kim (1940), kế theo đó, sự phân loại của tác giả Lê Văn Lý (1948), Emeno (1981), Thompson (1965) đã có nhiều gợi ý quan trọng.
Đặc biệt là công trình phân loại động từ tiếng Việt của X.Buxtrov (1966), là một hệ thống phân loại rất điển hình và theo kiểu Đông Phƣơng học. Các tác giả về sau: Nguyễn Tài Cẩn (1975), Đinh Văn Đức (1986), Nguyễn Thị Quy (1995)…đã tiếp tục khơi sâu thêm vấn đề và đƣa ra những giải pháp bổ sung, những gợi ý quan trọng. Cũng nhƣ ở các thực từ nói chung, đặc trƣng ngữ pháp của mỗi động từ đƣợc quy định bởi bản chất ngữ pháp của bản thân nó và các mối tƣơng liên ngữ pháp của các từ đồng dạng về ngữ pháp đã hình thành nên các tiểu loại. Ngƣời ta thƣờng chia động từ thành các động từ nội động và ngoại động theo các quan hệ ngữ pháp (chuyển tác - không chuyển tác).
Mặt khác, ngƣời ta chia động từ thành các lớp theo chức năng (động từ tình thái – động từ ngôn hành – động từ tổng hợp). Còn có thể phân loại động từ dựa vào ý nghĩa 9 khái quát, theo đó ta có:(động từ hành động, động từ trạng thái, động từ chuyển động, động từ cảm nghĩ – nói năng, động từ tiếp thụ). Động từ cảm nghĩ – nói năng có một cƣơng vị ngữ pháp đặc thù trong số các tiểu loại đƣợc phân định về mặt ngữ nghĩa. Danh sách động từ cảm nghĩ – nói năng thƣờng gặp có thể tạm giới thiệu nhƣ: trông, nghe, nhìn, thấy, nghe nói, nói, nghĩ, nhận thấy, biết, kể, bảo, báo, bình luận, phàn nàn, nhớ, quên… 1.
Cƣơng vị của động từ trong giao tiếp Theo quan điểm của Đinh Văn Đức (Ngữ pháp tiếng Việt- Từ loại, 1986), trong tiếng Việt, động từ là một trong hai từ loại cơ bản. Bản chất ngữ pháp của động từ đƣợc đặc trƣng bởi các phƣơng diện ngữ nghĩa, khả năng kết hợp và chức năng cú pháp. Về mặt số lƣợng, danh sách động từ ít hơn so với danh từ, điều đó có quan hệ bản chất với ý nghĩa của từ loại này: Danh từ biểu đạt các khái niệm về sự vật (và thực thể nói chung), còn động từ thì gắn với các khái niệm thuộc phạm trù vận động. Số lƣợng khái niệm của phạm trù thứ nhất lớn hơn của phạm trù thứ hai nhiều do chỗ danh sách các sự vật (và thực thể) lớn hơn danh sách các dạng vận động của chúng.
Cũng theo Đinh Văn Đức, “ Động từ đã trở thành phƣơng tiện ngôn ngữ cơ bản để biểu đạt sự tình phát ngôn”. Nhƣ vậy, động từ rất quan trọng trong giao tiếp. Theo quan điểm của Nguyễn Kim Thản (Động từ trong tiếng Việt, 1977), động từ là một loại từ phức tạp nhất, sử dụng rộng rãi nhất, chiếm địa vị quan trọng hàng đầu trong hệ thống các loại từ của các ngôn ngữ. Trong tiếng Việt, theo thống kê, số câu mà vị ngữ là động từ vào khoảng 88%, trong khi đó, số câu có vị nghữ tính từ chỉ chiếm 4%, và số câu có vị ngữ danh từ chỉ vào khoảng 8%.
Ngoài ra, động từ trong tiếng Việt còn có thể đảm nhiệm nhiều chức năng khác nữa. Tiểu loại động từ cảm nghĩ – nói năng tiếng Việt Động từ cảm nghĩ – nói năng là một tiểu loại có vị trí đặc biệt trong hệ 10 thống phân loại các động từ tiếng Việt. Xét trên bình diện ngữ nghĩa thì tiểu loại động từ này cũng chỉ ra các hình thái vận động nhƣng không phải là của các sự vật trong thế giới khách quan mà là các hành vi diễn ra trong thế giới chủ quan của ngƣời nói và các hành động giao tiếp do ngƣời nói thực hiện (nói, quát, kể, nghĩ, đoán, định … ). Do đặc tính này động từ cảm nghĩ – nói năng mang nhiều tính chất ngôn hành (ngữ vi), bởi vì nó đƣợc thực hiện bởi ngƣời nói và nhiều khi phát ngôn cũng đồng thời thực hiện luôn hành vi nói ấy.
Động từ cảm nghĩ – nói năng là động từ biểu thị hành vi nói năng của ngƣời nói, thái độ của ngƣời nói đối với sự tình và các quan hệ tình thái liên quan. Động từ cảm nghĩ – nói năng có thể là động từ vô tác và cũng có thể là động từ chuyển tác, ngƣời ta có thể minh họa chúng trong nhiều phát ngôn. Xét trên phƣơng diện chức năng thì động từ cảm nghĩ – nói năng bao gồm 2 loại hành vi chính là: “nói và nghĩ’’. Chúng cũng tạo nên hai loại tập hợp: Nói là hành vi giao tiếp (nói, quát, kể, tuyên bố, kêu gọi …) đƣợc thực hiện bởi ngƣời nói và một phần ngay trong lúc nói, cho nên chúng cũng là động từ ngôn hành, ngữ vi.
Nghĩ là hành động thực hiện bởi chủ thể phát ngôn trƣớc khi nói ra, hành vi này diễn ra trong hành động phản ánh và logic của ngƣời nói. Cả hai nhóm cảm nghĩ và nói năng vừa mang tính ngôn hành vừa mang tính tình thái, đó là nét ngữ pháp đặc thù rất lớn của tiểu loại này.