Chương 1. Chúng tôi trình bày cơ sở lí thuyết và một số van dé liên quan đến đề tài. Về cơ sở lí thuyết, chúng tôi trình bày về vần thơ, vấn đề phân loại vần thơ, lí thuyết về nhịp điệu, phân loại nhịp điệu, các tiêu chí nhận diện và miêu tả nhịp điệu trong thơ, mối quan hệ van và nhịp điệu, vài nét về thơ thiếu nhi của tác giả Trần Đăng Khoa. Li thuyết về van 1.1 Khái niệm “vẫn” Theo Nguyễn Thiện Giáp chủ biên trong cuốn 777 khái niệm ngôn ngữ học (2010) “Van (rhyme) là một bộ phận của âm tiết tiếng Việt, sau khi trừ đi phần âm đầu và thanh điệu.
Thí dụ: Trong âm tiết TOÁN thì OAN là vần” [12. Tác giả Nguyễn Lương Ngọc đã đưa ra một định nghĩa về vần trong một cuốn sách lý luận văn học “Sự lặp lại những thanh đọc theo một âm ở cuối hay quãng giữa dòng tho dé tang tiết tau và sự biểu hiện của từ gọi là van” [21, tr. Con quan niệm của Mai Ngoc Chir (2005)“Van là sự hòa âm, sự cộng hưởng nhau theo những quy luật ngữ âm nhất định giữa hai từ hoặc hai âm tiết ở trong hay cuối dòng thơ và thực hiện những chức năng nhất định như liên kết các dòng thơm gợi, tả, nhấn mạnh sự ngừng nhịp” [06, tr. Như vậy, quan niệm của ông đã có những nét đổi mới, tiễn bộ và hoàn toàn phù hợp với đặc điểm vần thơ Việt Nam.
Theo Mai Ngọc Cht, don vi hiệp van trong thơ có thé là từ (như trong thơ Nga, tho Anh, thơ Pháp, thơ malay) hoặc cũng có thể là âm tiết (như trong thơ Trung Quốc, thơ Việt Nam). Các từ và âm tiét hiệp vân với nhau không chỉ đứng ở vi trí cuôi dòng 11 mà còn có thể đứng ở trong dòng thơ như ở thê thơ lục bát và thơ song thất lục bát của ta. Điểm đặc biệt, định nghĩa của ông đã nhận định sự hiệp vần giữa hai từ với nhau không chỉ bó hep ở sự đồng nhất âm tổ mà còn được mở rộng tới sự đồng nhất các đặc trưng (nét, dấu hiệu) ngữ âm ở bậc thấp hon âm tố: Đặc trưng âm sắc hoặc âm lượng của nguyên âm, đặc trưng vang (mũi) của phụ âm cuối, đặc trưng tuyên điệu (bằng) của thanh điệu, vv. Van dé phân loại van thơ Thơ văn Việt Nam vẫn thường có ba cách phân loại vần: phân loại dựa vào vị trí của tiếng gieo vần ở trong dòng thơ, khổ thơ (thành các vần lưng, van chân, van chân ôm nhau, van chân đan chéo nhau.); Phân loại dựa vào mức độ hòa âm giữa hai âm tiết bắt vần với nhau (thành vần chính, vần thông, vần ép) và phân loại dựa vào đường nét biến thiên của thanh điệu ở âm tiết mang van (thành van bang, van trắc).
Chức năng của van thơ Van có một vai trò vô cùng trong mỗi dòng thơ, khổ thơ hay toàn bai thơ. van không chỉ don giản khiến có câu thơ trở nên mượt mà, có nhịp điệu lên xuống dễ đọc mà van còn có nhiệm vụ nối các khổ thơ lại với nhau thành một hệ thống chặt chẽ. Thậm chí, có những van “đắt” giúp nhẫn mạnh, gợi tả, giúp câu thơ in sâu hơn vào lòng độc giả. Tóm lai, vần có vai trò vô cùng quan trọng trong thơ ca Việt Nam, nhưng, để đi sâu vào nghiên cứu toàn bộ chức năng nhỏ lẻ của van thì khá rắc rồi.
Chính vì vậy, chúng tôi đã đồng ý và đi theo hướng nghiên cứu các chức năng của vần theo quan điểm của Mai Ngọc chừ, được viết trong cuốn Vân thơ Việt Nam dưới ánh sáng Ngôn ngữ học, được NXB Văn hóa thông tin xuất bản vào năm 2005. 1) Chức năng tô chức liên kết văn bản của van Là một hiện tượng hòa âm, vần trước hết có chức năng tô chức (cấu tạo). Trong thơ, vần là những chiếc cầu bắc qua các dòng thơ, nối gắn chúng lại với nhau thành từng đoạn từng khổ, từng bài hoàn chỉnh. Chức năng tô 12 chức, chức năng liên kết văn bản của van được thé hiện đặc biệt rõ ở những bài thơ truyền thống vốn có các khổ theo một mô hình cố định.
Thông thường, mỗi khổ thơ thường có bốn dòng, giữa các dòng có thé hiệp vần với nhau bởi một hoặc hai vần theo cách khác nhau: Ví dụ 1: Hạt gạo lang ta Có vị phù sa Của sông Kinh Thay Có hương sen thơm Trong hồ nước day Có lời mẹ hát Ngọt bùi đăng cay. (Hạt gạo làng ta - Trần Đăng Khoa) Mỗi dòng thơ có các vần “ta, sa, thầy, đầy, cay” hiệp với nhau có tác dụng nối dòng, khiến cho các dong thơ trong cùng một khổ như gắn kết với nhau, giúp cho việc đọc thơ dễ dàng hơn, và bài thơ In sâu hơn, thu hút được nhiều cảm tình của người đọc hơn. Ở các khổ thơ, bài thơ có van, với chức năng tô chức, vần như sợi dây ràng buộc các dòng thơ lại với nhau do đó giúp cho việc đọc được thuận miệng, nghe được thuận tai và làm cho người đọc, người nghe dễ thuộc, dé nhớ. Chức năng tổ chức, chức năng liên kết văn bản của van được thé hiện đặc biệt rõ ở những bai thơ truyền thống vốn có các khổ theo một mô hình cố định ở đây van thé hiện rõ vai trò tổ chức khổ thơ tức là liên kết các dòng thơ riêng biệt lại thành một khô.
Trong thơ ca truyền thống Việt Nam, ta hay gặp một khổ bốn dòng. Các dòng này có thé liên kết với nhau bởi một hoặc hai van theo những cách khác nhau: a a. Ví dụ 2: Gà mẹ ơi! (a) 13 Mày không biết trên trời (b) Có những quả bom lao xuống như gió độc (a) Mày chưa kip gọi con, đã bi vùi trong đất (b) Có nhìn thấy gì đâu (a) Xác con mày bay lên cùng với những lá trầu.(b) (Nói với con gà mái - Tran Dang Khoa) Trong những vần thơ hiện đại, vốn không có cầu trúc cố định như trong các thé loaj thơ truyền thống thì vai trò của van lại càng quan trọng. Ở đây nếu van vắng mặt ta sẽ có cảm giác câu thơ trở nên rời rac.
Và nếu như ở thơ có khổ “soi dây” vần được “cắt” đều đặn ra làm nhiều khổ ngắn thì ở những bai tho tự do, “sợi day” đó như kéo dai mãi. Vi vậy, đối với những trường hợp như thé có thé nói về chức năng 6 chức đoạn thơ, bài thơ của vần [06, tr. Ví dụ 3: Trên đường Ta đi đánh giặc Ta về Nam Hay ta lên Bắc ở đâu cũng gặp Những ngọn đèn đầu Chong mốt Đêm /hâu. 2) Chức năng nhấn mạnh sự ngừng nhịp “Sự ngắt nhịp là tiền đề của hiện tượng gieo vần.
Nhưng một chiều khác, chính vần cũng tác động trở lại nhịp. Sự tác động này được biểu hiện ở chỗ nhịp khi có sự hỗ trợ của vần thì chỗ ngừng, chỗ ngắt trở nên dễ dàng hơn, lâu và đậm hơn. Nói cách khác, trong nhiêu trường hợp, vân có chức 14 năng nhân mạnh sự ngừng nhịp. Trước hết xin nói về chỗ ngừng nhịp cuối dòng và gắn liền với nó là vai trò của loại vần chân.
Có thể nói một cách không qua dang rang tất cả các van chân đều có chức năng nhắn mạnh sự ngừng nhịp ở cuối dong thơ. Ví dụ 4: chỗ ngừng nhịp sau âm tiết “. Bố mẹ em chạy ra Mẹ em chạy ra Chị em chạy ra Bé Giang chạy ra Con chó vàng chạy ra Em cũng chạy ra.” (A! Em biết thăng giặc Mỹ rồi- Trần Đăng Khoa) “Tác dụng nhấn mạnh sự ngừng nhịp của van, thậm chí, có hiệu lực đến mức: Giả dụ những dòng thơ có van chân của một khổ nào đó không được viết rời ra theo thông lệ mà lại viết gan nhau như trong van xuôi thi sự ton tại của vẫn vẫn nhắc người ta phải ngừng, phải ngắt nhịp sau các vần đó. Chính hiệu quả ngữ âm do van tạo nên, trong một số trường hợp, đã làm cho chỗ ngừng sau âm tiết - vần còn dễ nhận thấy hơn chỗ ngừng ngữ điệu - cú pháp.
Như vậy là vần không chỉ có chức năng tổ chức, liên kết các dòng lại thành khổ, thành đoạn mà còn có chức năng phân cách ranh giới giữa các dòng, nhân mạnh nhịp. Nói cách khác, vần có chức năng phân giới. Van là một tín hiệu báo rang day là điểm cuối cùng, điểm ngừng, điểm ngắt nhịp dòng thơ [06, tr. 3) Van và sức mạnh biểu đạt ý nghĩa của nó “Trong một dòng thơ, từ hoặc tiếng mang van luôn được nêu bật hắn lên so với các từ hoặc tiếng khác.
Về ngữ âm, từ mang vần bao giờ cũng mang một trọng âm, tức được nhấn mạnh hơn so với các từ bên cạnh. Có thé coi nó như một đơn vị tách khỏi lời nói bình thường dé “cộng hưởng”, dé đối chiếu 15 với một đơn vị khác bắt vần với nó. Từ mang vần, vì vậy trở thành” tiêu điểm” thành điểm ngời sang trong dòng thơ. Đây chính là một cơ sở khác quan làm cho người đọc thơ, người ngâm thơ, thậm chí cả người thưởng thức thơ hay chú ý đến những từ, những tiếng mang van.
Và cũng do đứng ở vi trí đặc biệt như thế cho nên, không chỉ là một hiện tượng ngữ âm thuần túy,trong nhiều trường hợp, nhà thơ còn tận dụng van dé làm tăng sức mạnh biéu đạt ý nghĩa cho câu thơ, bài thơ. Thông thường, những tiếng mang van bao giờ cũng được đọc nhấn mạnh hơn các từ khác. Vì vậy, nếu đặt được những từ, những tiếng chứa lượng thông tin cao vào vị trí của vần thì ý nghĩa của nó sẽ được hiện lên rõ hơn trong ý thức người nghe, người đọc” [06, tr. Ví dụ 5: Lap lóe lửa chai - sao hiện ra Mây bay lóng lánh - cánh buồm xa Em mang sắc biên về qué đó Sắc biển xanh trên những mái nhà (Mang biển về quê - 1969, Trần Đăng Khoa) 1.
Khái quát về nhịp điệu 1. Khái niệm Theo M.K Halliday (trong cuốn Dẫn luận ngữ pháp chức năng) nhịp điệu là lời nói tự nhiên trong tất cả các ngôn ngữ có tính nhịp điệu cao, nhịp đều đặn. Nhưng nó có thể có nhịp điệu theo cách khác nhau, phụ thuộc vào từng ngôn ngữ mot. Trong ngôn ngữ, người ta phân ra thành hai kiểu nhịp điệu, mặc dù một số ngôn ngữ phù hợp rõ ràng hơn với kiêu nhịp điệu này hay với kiểu nhịp điệu kia trong khi một số kia lại có thể là sự kết hợp của cả hai kiểu.