Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính ở Việt Nam" được thực hiện bởi tác giả Nguyễn Ngọc Hiếu (lớp 2005LHOB, ngành Luật, Học viện Hành chính Quốc gia) dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Nguyễn Thị Hương vào năm 2024. Đề tài thuộc lĩnh vực khoa học pháp lý, chuyên ngành luật tố tụng hành chính, kết hợp giữa nghiên cứu lý luận pháp luật thực định và khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật.
Về bối cảnh thực tiễn, tác giả nêu rõ hoạt động xét xử là phương thức trực tiếp bảo vệ công lý và quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Tuy nhiên, hoạt động tố tụng hành chính có tính chất phức tạp, áp dụng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đa dạng trên nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước. Dưới áp lực công việc và sự giới hạn về nguồn nhân lực, vật lực, các cơ quan tiến hành tố tụng khó tránh khỏi những sai sót trong các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Để kịp thời phát hiện, sửa chữa các sai phạm này và bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa, chế định giám đốc thẩm được thiết lập, trong đó kháng nghị giám đốc thẩm đóng vai trò là tiền đề pháp lý bắt buộc. Dù vậy, thực tiễn thi hành cho thấy hệ thống quy định của Luật Tố tụng hành chính hiện hành về căn cứ kháng nghị còn thiếu văn bản hướng dẫn chi tiết; các quy định về thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị còn nhiều điểm chưa rõ ràng; đồng thời vẫn còn những quyết định kháng nghị thiếu căn cứ dẫn đến việc không được Hội đồng giám đốc thẩm chấp nhận.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể gồm:
- Xây dựng và hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính.
- Phân tích các quy định của pháp luật tố tụng hành chính hiện hành và đánh giá thực tiễn thực hiện công tác kháng nghị giám đốc thẩm tại Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân.
- Chỉ ra những ưu điểm, hạn chế, bất cập trong các quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 cùng nguyên nhân phát sinh từ góc độ pháp lý và thực tiễn thi hành.
- Đề xuất các quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống quy định pháp luật và nâng cao chất lượng công tác kháng nghị giám đốc thẩm vụ án hành chính ở Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hệ thống các quy định của pháp luật tố tụng hành chính Việt Nam điều chỉnh hoạt động kháng nghị giám đốc thẩm và thực tiễn thi hành các quy định này.
Về phạm vi nghiên cứu, khóa luận tập trung phân tích các quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), có đối chiếu với Luật Tố tụng hành chính năm 2010. Về mặt không gian và thời gian thực tiễn, đề tài nghiên cứu số liệu xét xử và kháng nghị trên phạm vi cả nước trong giai đoạn 05 năm, từ ngày 01/01/2019 đến ngày 31/12/2023. Tác giả xác định rõ giới hạn phạm vi nghiên cứu là không đi sâu vào các vấn đề liên quan đến việc tạm hoãn thi hành án khi thực hiện kháng nghị giám đốc thẩm.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành và các công trình nghiên cứu khoa học pháp lý chuyên sâu. Hệ thống pháp luật được tác giả sử dụng làm căn cứ trực tiếp bao gồm Hiến pháp năm 2013, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) và Luật Tố tụng hành chính năm 2010. Tác giả tham khảo định nghĩa và thuật ngữ từ Từ điển Tiếng Việt, Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam, Từ điển Luật học và Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học. Về mặt học thuật, công trình kế thừa và đối chiếu các quan điểm lý luận từ Giáo trình Luật Tố tụng hành chính Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội (2019, Hoàng Văn Sao chủ biên), sách chuyên khảo "Bình luận và giải thích Luật Tố tụng hành chính năm 2015" của Nguyễn Cảnh Hợp (2017), sách "Bình luận Luật Tố tụng hành chính" của Lê Việt Sơn, bài viết nghiên cứu của Lê Thị Mơ (2023), Trần Thị Quỳnh (2022), khóa luận của Võ Văn Sơn Thất (2014) và nghiên cứu trong tố tụng hình sự của Phạm Ngân Giang.
Phương pháp nghiên cứu được tác giả vận dụng bao gồm:
- Phương pháp phân tích: Được sử dụng xuyên suốt tại Chương 1 để làm rõ nội hàm lý luận, các khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và từng điều khoản quy định về kháng nghị giám đốc thẩm; đồng thời được dùng tại Chương 2 nhằm phân tích thực tiễn xét xử và nội dung các phán quyết của Tòa án.
- Phương pháp tổng hợp: Sử dụng để tập hợp các tư liệu, đúc kết các vấn đề pháp lý và khái quát thực trạng nhằm đưa ra quan điểm cá nhân về việc hoàn thiện pháp luật.
- Phương pháp so sánh luật học: Được áp dụng để đối chiếu quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 với Luật Tố tụng hành chính năm 2010, so sánh với pháp luật tố tụng dân sự, tố tụng hình sự và tham chiếu kinh nghiệm lập pháp trong Bộ luật Thủ tục tư pháp của một số quốc gia trên thế giới.
- Phương pháp thống kê: Sử dụng chủ yếu tại Chương 2 để trích lọc, xử lý và mã hóa số liệu thực tiễn công tác kháng nghị giám đốc thẩm vụ án hành chính giai đoạn 2019–2023 từ các báo cáo tổng kết chính thức.
- Phương pháp nghiên cứu vụ án điển hình: Được vận dụng để phân tích sâu các bản án, quyết định cụ thể nhằm minh chứng cho các lập luận lý luận và nhận định thực tiễn.
Nguồn dữ liệu thực tế của đề tài được trích xuất từ các Báo cáo tổng kết công tác năm của ngành Tòa án nhân dân từ năm 2019 đến năm 2023, Báo cáo công tác của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XV, báo cáo công tác của ngành Kiểm sát năm 2021, 2022 và các văn bản tố tụng thực tế (Bản án hành chính sơ thẩm số 69/2018/HCST của TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Bản án hành chính phúc thẩm số 128/2020/HC-PT của TANDCC tại TP. Hồ Chí Minh; Quyết định giải quyết việc kháng cáo đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 60/2019/QĐPT-HC của TANDCC tại Hà Nội; Bản án hành chính sơ thẩm số 22/2020/HC-ST của TAND tỉnh Đồng Nai; Bản án hành chính phúc thẩm số 541/2020/HC-PT của TANDCC tại TP. Hồ Chí Minh; Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 32/2023/KN-HC và số 38/2023/KN-HC của Chánh án TANDTC).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính Việt Nam
Chương 1 tập trung xây dựng nền tảng lý luận và phân tích các quy định pháp luật thực định về kháng nghị giám đốc thẩm. Tác giả đưa ra định nghĩa: Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính là hành vi tố tụng của người có thẩm quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án khi có những căn cứ, điều kiện do pháp luật quy định nhằm bảo đảm cho việc xét xử vụ án hành chính luôn được chính xác, công bằng, khách quan.
Chế định này được xác định thông qua bốn đặc điểm cơ bản:
- Là hành vi tố tụng của một số chủ thể đặc biệt được pháp luật trao thẩm quyền.
- Đối tượng tác động là bản án, quyết định của Tòa án đã phát sinh hiệu lực pháp luật (khác với kháng nghị phúc thẩm có đối tượng là bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật).
- Phải được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục luật định về cả hình thức văn bản, thời hạn và việc gửi thông báo.
- Là cơ sở pháp lý duy nhất làm phát sinh trách nhiệm tiến hành thủ tục giám đốc thẩm của Tòa án có thẩm quyền (TAND cấp cao, TAND tối cao).
Về ý nghĩa, kháng nghị giám đốc thẩm là công cụ bảo đảm tính đúng đắn của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật; là động lực buộc Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm phải thận trọng, chuẩn xác hơn khi xét xử; là phương thức để Tòa án cấp trên tổng kết, rút kinh nghiệm xét xử và hướng dẫn Tòa án cấp dưới áp dụng thống nhất pháp luật; đồng thời bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và củng cố niềm tin của nhân dân vào hoạt động tư pháp.
Đi sâu vào nội dung quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015, tác giả phân tích cụ thể:
- Đối tượng kháng nghị: Gồm bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật, bản án phúc thẩm (có hiệu lực ngay khi tuyên án) và các quyết định đã có hiệu lực pháp luật (quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án; quyết định công nhận đối thoại thành; quyết định giải quyết kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định đình chỉ; quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Ủy ban thẩm phán TAND cấp cao). Quyết định của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao không là đối tượng bị kháng nghị giám đốc thẩm vì đây là phán quyết cuối cùng. Số liệu trích dẫn cho thấy quyết định có hiệu lực pháp luật chỉ chiếm tỷ lệ khoảng 18,9% tổng số vụ việc giám đốc thẩm, phần lớn đối tượng bị kháng nghị là bản án.
- Căn cứ kháng nghị: Phân tích 03 căn cứ tại Điều 255: (1) Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án phương hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự; (2) Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng dẫn đến việc đương sự không thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình làm cho quyền, lợi ích hợp pháp không được bảo vệ; (3) Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật.
- Chủ thể có thẩm quyền kháng nghị: Gồm Chánh án TAND tối cao, Viện trưởng VKSND tối cao, Chánh án TAND cấp cao và Viện trưởng VKSND cấp cao.
- Thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị (Điều 265): Người có thẩm quyền kháng nghị được quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị nếu chưa hết thời hạn kháng nghị; được quyền rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị trước khi mở phiên tòa (bằng văn bản) hoặc tại phiên tòa giám đốc thẩm (ghi vào biên bản để HĐXX ra quyết định đình chỉ xét xử giám đốc thẩm).
Chương 2: Thực trạng thực hiện kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính ở Việt Nam
Chương 2 phản ánh bức tranh thực tiễn áp dụng pháp luật thông qua số liệu thống kê và các vụ án cụ thể.
Về kết quả đạt được:
- Ngành Kiểm sát: Năm 2021 ban hành 24 kháng nghị giám đốc thẩm vụ án hành chính (tăng 41,2%), HĐXX xét xử 16 vụ, chấp nhận 10 kháng nghị (đạt tỷ lệ 62,5%). Trong hai năm 2021 và 2022, Viện kiểm sát ban hành 42 kháng nghị giám đốc thẩm, được Tòa án chấp nhận 30 kháng nghị (đạt 78,9%, vượt 3,9% chỉ tiêu Quốc hội). Tỷ lệ này tiếp tục tăng và vượt chỉ tiêu trong năm 2023.
- Ngành Tòa án: Năm 2022, tỷ lệ giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm đạt 62,4% (vượt 2,4% so với chỉ tiêu của Quốc hội). Đặc biệt, 100% quyết định kháng nghị giám đốc thẩm của Chánh án TAND tối cao đều được Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao chấp nhận, không có vụ án nào phải rút kháng nghị hoặc để quá thời hạn.
Dưới đây là bảng số liệu tổng hợp tình hình kháng nghị giám đốc thẩm vụ án hành chính trên phạm vi cả nước trong giai đoạn 2019–2023 do tác giả thống kê và tính toán:
| Năm |
Tổng số vụ án hành chính đã xét xử sơ thẩm, phúc thẩm |
Số vụ có kháng nghị giám đốc thẩm |
Tỷ lệ vụ án có kháng nghị giám đốc thẩm (%) |
Số vụ có kháng nghị giám đốc thẩm đã được thụ lý |
Số vụ có kháng nghị giám đốc thẩm đã xét xử |
Số kháng nghị giám đốc thẩm được chấp nhận |
Số kháng nghị giám đốc thẩm không được chấp nhận |
Tỷ lệ kháng nghị giám đốc thẩm được chấp nhận (%) |
| 2019 |
7.142 |
68 |
0,95% |
64 |
45 |
40 |
5 |
88,89% |
| 2020 |
8.582 |
64 |
0,75% |
60 |
51 |
46 |
5 |
90,20% |
| 2021 |
5.693 |
33 |
0,58% |
30 |
26 |
22 |
4 |
84,62% |
| 2022 |
8.524 |
47 |
0,55% |
41 |
38 |
35 |
3 |
92,11% |
| 2023 |
9.130 |
45 |
0,49% |
43 |
41 |
39 |
2 |
95,12% |
| Tổng |
39.071 |
257 |
0,65% |
238 |
201 |
182 |
19 |
90,55% |
Dữ liệu cho thấy tỷ lệ vụ án hành chính có kháng nghị giám đốc thẩm giảm dần qua các năm, từ 0,95% (năm 2019) xuống còn 0,49% (năm 2023). Đồng thời, tỷ lệ quyết định kháng nghị được Hội đồng xét xử chấp nhận tăng từ 88,89% (năm 2019) lên 95,12% (năm 2023), trung bình cả giai đoạn đạt 90,55%. Tỷ lệ kháng nghị bị bác giảm tương ứng từ 11,11% xuống 4,88%.
Bên cạnh kết quả đạt được, tác giả chỉ ra các khó khăn, tồn tại:
- Xử lý bước đầu đối với đơn đề nghị xem xét kháng nghị giám đốc thẩm chưa bảo đảm, khối lượng đơn thư rất lớn tạo áp lực nặng nề cho Tòa án và Viện kiểm sát; lực lượng thẩm tra viên thiếu hụt và chưa được đào tạo nghiệp vụ chuyên sâu; có trường hợp trả lời không có căn cứ nhưng sau đó lại bị kháng nghị.
- Việc chuyển hồ sơ giám đốc thẩm còn chậm trễ, sự phối hợp giữa TAND và VKSND trong việc thông báo, bàn giao hồ sơ chưa nghiêm túc, cá biệt có tình trạng chậm chuyển hồ sơ dẫn tới hết thời hạn kháng nghị; công tác ủy thác thu thập chứng cứ bị kéo dài.
- Chất lượng một số quyết định kháng nghị chưa bảo đảm, thiếu căn cứ pháp lý rõ ràng, không chỉ rõ điểm sai sót của bản án sơ thẩm, phúc thẩm dẫn đến việc kháng nghị bị Hội đồng giám đốc thẩm bác bỏ, làm kéo dài thời gian thi hành án.
Về nguyên nhân, tác giả phân định thành hai nhóm: nguyên nhân pháp lý (Luật Tố tụng hành chính năm 2015 chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về "vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng"; Điều 265 chưa quy định rõ thời điểm và trình tự thủ tục thay đổi, bổ sung kháng nghị; chưa có quy định thời hạn gửi quyết định đình chỉ xét xử giám đốc thẩm cho đương sự và VKS cùng cấp; chưa làm rõ thẩm quyền kháng nghị tại Khoản 2 Điều 260 khi vụ án có Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm) và nguyên nhân thực tiễn (áp lực quá tải số lượng án, trình độ cán bộ chưa đồng đều, sự phối hợp cung cấp tài liệu của các cơ quan quản lý hành chính nhà nước chưa kịp thời).
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính Việt Nam
Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc tại Chương 2, Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp chia làm hai nhóm chính:
Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật:
- Ban hành văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn chi tiết các căn cứ kháng nghị tại Điều 255 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, đặc biệt làm rõ các tiêu chí xác định thế nào là "vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng" để phân biệt với vi phạm thủ tục không nghiêm trọng.
- Sửa đổi, bổ sung Điều 265 Luật Tố tụng hành chính theo hướng quy định cụ thể về thời điểm, trình tự, thủ tục thực hiện việc thay đổi, bổ sung kháng nghị giám đốc thẩm trước phiên tòa; đồng thời bổ sung quy định bắt buộc và ấn định thời hạn Tòa án giám đốc thẩm phải gửi quyết định đình chỉ xét xử giám đốc thẩm cho Viện kiểm sát cùng cấp và các đương sự có liên quan.
- Hoàn thiện quy định tại Khoản 2 Điều 260 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 nhằm xác định rõ thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm của Chánh án TAND cấp cao đối với bản án, quyết định sơ thẩm của TAND cấp huyện, TAND cấp tỉnh đã có hiệu lực nhưng vụ án có quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm.
Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi:
- Kiện toàn tổ chức bộ máy, bổ sung biên chế và đào tạo chuyên sâu về kỹ năng nghiệp vụ phân loại, xử lý đơn đề nghị giám đốc thẩm cho đội ngũ Thẩm tra viên, Thẩm phán và Kiểm sát viên.
- Tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong công tác quản lý và chuyển giao hồ sơ vụ án; thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ, kịp thời giữa Tòa án và Viện kiểm sát trong việc mượn, sao lục hồ sơ và ủy thác xác minh chứng cứ.
- Cải tiến quy trình tiếp nhận, theo dõi và giải quyết đơn khiếu nại, đề nghị giám đốc thẩm; hạn chế tối đa việc để đơn quá hạn luật định hoặc trả lời đơn thiếu căn cứ thuyết phục.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đóng góp hệ thống số liệu thực tiễn toàn diện về công tác kháng nghị giám đốc thẩm vụ án hành chính tại Việt Nam trong giai đoạn 05 năm (2019–2023). Tác giả đã trích lọc, tổng hợp từ 39.071 vụ án hành chính đã xét xử sơ thẩm, phúc thẩm để làm rõ 257 trường hợp có kháng nghị giám đốc thẩm (chiếm tỷ lệ 0,65%), với 201 vụ đã được đưa ra xét xử giám đốc thẩm, trong đó 182 kháng nghị được chấp nhận (đạt tỷ lệ bình quân 90,55%) và 19 kháng nghị bị bác (chiếm 9,45%). Khóa luận đã phân tích các vụ việc điển hình để chứng minh thực trạng áp dụng pháp luật, tiêu biểu như vụ án tại Bà Rịa - Vũng Tàu (Kháng nghị số 32/2023/KN-HC) và vụ án tại Long Khánh, Đồng Nai (Kháng nghị số 38/2023/KN-HC) do Chánh án TAND tối cao ban hành được chấp nhận hủy án phúc thẩm.
Về mặt đóng góp so với các nghiên cứu trước đây, tác giả chỉ ra rằng đa số các công trình trước đó mới chỉ tiếp cận khái quát về thủ tục giám đốc thẩm nói chung hoặc so sánh trong tố tụng dân sự (như khóa luận của Võ Văn Sơn Thất năm 2014 dựa trên Luật Tố tụng hành chính 2010). Khóa luận của tác giả đã thực hiện việc đánh giá toàn diện chế định kháng nghị giám đốc thẩm dưới góc độ lập pháp của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), chỉ ra các lỗ hổng kỹ thuật lập pháp tại Điều 255, Khoản 2 Điều 260 và Điều 265, đồng thời gắn liền lý luận với chuỗi số liệu thực tế cập nhật đến hết năm 2023.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có giới hạn phạm vi nghiên cứu do tác giả chủ động xác định từ phần mở đầu: Đề tài tập trung vào trình tự, thủ tục, căn cứ và thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, không đi sâu nghiên cứu chuyên sâu các vấn đề liên quan đến cơ chế tạm hoãn thi hành bản án, quyết định khi thực hiện kháng nghị giám đốc thẩm.
Về hướng nghiên cứu tiếp theo, văn bản gợi mở sự cần thiết phải có các công trình nghiên cứu sâu hơn về cơ chế pháp lý tạm hoãn thi hành án hành chính trong giai đoạn giám đốc thẩm, cũng như nghiên cứu xây dựng các tiêu chí định tính và định lượng cụ thể nhằm chuẩn hóa khái niệm "vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng" trong các văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật của TAND tối cao.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học ngành Luật, đặc biệt là chuyên ngành Luật Hành chính và Luật Tố tụng hành chính, khi nghiên cứu về các thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Đề tài cũng cung cấp tư liệu thực chứng cho những người thực hiện nghiên cứu, làm khóa luận hoặc đề tài tương tự về kiểm soát quyền lực tư pháp và thủ tục giám đốc thẩm.
Phần đáng giá tham khảo nhất của công trình là bảng số liệu tổng hợp 05 năm (2019–2023) về công tác kháng nghị giám đốc thẩm trên phạm vi toàn quốc, các phân tích so sánh kỹ thuật lập pháp tại Điều 255, Điều 260, Điều 265 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, cùng với các hồ sơ vụ án thực tiễn được trích lược cụ thể phản ánh rõ các sai phạm dẫn đến việc bản án phúc thẩm bị Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hủy bỏ.
Câu hỏi thường gặp
1. Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính được định nghĩa như thế nào trong khóa luận?
Theo tác giả, kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính là hành vi tố tụng của người có thẩm quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án khi có những căn cứ, điều kiện do pháp luật quy định nhằm bảo đảm cho việc xét xử vụ án hành chính luôn được chính xác, công bằng, khách quan.
2. Những phán quyết nào của Tòa án không thể là đối tượng bị kháng nghị giám đốc thẩm?
Các quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao không phải là đối tượng bị kháng nghị giám đốc thẩm. Phán quyết của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao là phán quyết có hiệu lực pháp luật cao nhất, đánh dấu sự kết thúc toàn bộ việc giải quyết vụ án. Ngoài ra, các bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật cũng không thuộc đối tượng của thủ tục này.
3. Tỷ lệ kháng nghị giám đốc thẩm vụ án hành chính được Hội đồng xét xử chấp nhận trong giai đoạn 2019–2023 là bao nhiêu?
Theo bảng thống kê của khóa luận, trong tổng số 201 vụ án hành chính có kháng nghị giám đốc thẩm được xét xử từ năm 2019 đến năm 2023, có 182 quyết định kháng nghị được Hội đồng xét xử chấp nhận, đạt tỷ lệ trung bình 90,55%. Tỷ lệ chấp nhận có xu hướng tăng qua các năm, từ 88,89% (năm 2019) lên 95,12% (năm 2023).
4. Tác giả chỉ ra khó khăn chính nào trong việc xử lý bước đầu đối với đơn đề nghị giám đốc thẩm?
Khó khăn chính gồm: Số lượng đơn gửi đến Tòa án và Viện kiểm sát rất lớn do đương sự có thói quen gửi đơn ngay sau khi nhận bản án; nhiều đơn không kèm chứng cứ rõ ràng; đội ngũ cán bộ, thẩm tra viên thực hiện công tác xem xét đơn thiếu hụt về số lượng và chưa được đào tạo nghiệp vụ chuyên sâu, dẫn đến tình trạng xử lý đơn còn chậm chạp, tản mạn và có trường hợp trả lời đơn thiếu chính xác.
5. Khóa luận nêu ra những bất cập gì tại Điều 265 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 về thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị?
Khoản 1 Điều 265 cho phép thay đổi, bổ sung kháng nghị trong thời hạn kháng nghị nhưng chưa quy định cụ thể về trình tự, thủ tục thực hiện việc này trước phiên tòa. Khoản 2 Điều 265 quy định về rút kháng nghị chưa toàn diện, chưa có quy định về thời hạn cũng như trách nhiệm bắt buộc Tòa án giám đốc thẩm phải gửi quyết định đình chỉ xét xử giám đốc thẩm cho đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Ngọc Hiếu đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản và phân tích chi tiết thực trạng thực hiện chế định kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính Việt Nam. Dựa trên chuỗi số liệu thống kê thực tế 05 năm (2019–2023) và các vụ án điển hình, tác giả đã phản ánh trung thực kết quả đạt được cùng những tồn tại, khó khăn xuất phát từ cả quy định pháp luật và công tác tổ chức thi hành. Các đề xuất sửa đổi Luật Tố tụng hành chính năm 2015 và giải pháp nâng cao năng lực bộ máy tư pháp trong công trình có tính đồng bộ, đáp ứng yêu cầu cấp thiết của thực tiễn giải quyết vụ án hành chính hiện nay.