Chương 1. Một số vấn đề cơ bản về kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính Việt Nam. Thực tiễn thực hiện quy định của pháp luật tố tụng hành chính Việt Nam về kháng nghị giám đốc thẩm. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính Việt Nam.
6 CH£¡NG 1: MÞT SÞ VÂN ĐÀ C¡ BÀN VÀ KHÁNG NGHÞ GIÁM ĐÞC TH¾M TRONG TÞ TĀNG HÀNH CHÍNH VIàT NAM 1. Khái niám, đặc điểm, ý nghĩa kháng nghß giám đßc th¿m trong tß tāng hành chính ã Viát Nam 1. Khái niệm Kháng nghị theo thā tÿc giám đốc thẩm trong TTHC là một nội dung quan trọng, đây là hoạt động có tính chuyên biệt cāa một số chā thể đặc biệt được Nhà nước trao quyền. Thuật ngữ <kháng nghị giám đốc thẩm= đã xuất hiện rất nhiều trong các diễn đàn khoa học pháp lý, tuy nhiên không phải ai cũng thật sự nắm chắc được đầy đā nội hàm cāa khái niệm này.
Do đó, việc hiểu chính xác và đầy đā khái niệm kháng nghị giám đốc thẩm là hết sức cần thiết, có ý nghĩa rất quan trọng trong khoa học nghiên cứu về kháng nghị giám đốc thẩm trong TTHC ở Việt Nam. Để đảm bảo được tính logic, toàn diện và dễ hiểu, tác giả sẽ minh thị nội hàm cāa khái niệm <kháng nghị giám đốc thẩm= thông qua việc giải thích về hai cÿm từ <kháng nghị= và <giám đốc thẩm=. Theo Từ điển Tiếng Việt, kháng nghị được hiểu là <sự bày tỏ ý kiến phản đối bằng văn bản chính thức=[64, tr.621], bên cạnh đó theo Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam thì <kháng nghị= có thể hiểu là <sự bày tỏ quan điểm phản đối, chống đối về một vấn đề, một ý kiến gì đó bất kì mà chủ thể kháng nghị cho rằng vấn đề đó, ý kiến đó là sai lầm= [27, tr. Như vậy, xét theo góc độ ngôn ngữ thông thường, kháng nghị là bày tỏ ý kiến không đồng ý, phản đối đối với một quyết định, ý kiến nào đó.
Nhận thấy, những từ điển đưa ra khái niệm trên là từ điển giải thích từ ngữ chung cho mọi lĩnh vực trong cuộc sống nên phần nào còn mang tính tổng quát, khái quát, thiếu chuyên sâu do đó các đặc điểm và đặc trưng cāa kháng nghị giám đốc thẩm trong TTHC vẫn chưa được thể hiện rõ ràng. Theo Từ điển Luật học, kháng nghị là <việc người có thẩm quyền bằng văn bản của mình gửi đến Tòa án có thẩm quyền làm ngưng hiệu lực phán quyết của Tòa án trong bản án, quyết định để xét xử theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm làm cho vụ án được chính xác, khách quan và đúng pháp luật= [63, tr. Với cách tiếp cận này, khái niệm kháng nghị đã làm nổi bật được một số đặc điểm cāa kháng nghị theo pháp luật như: thẩm quyền kháng nghị chỉ thuộc về một số cá nhân có thẩm quyền, hình thức kháng nghị được thể hiện bằng văn bản, mÿc đích hướng tới cāa kháng nghị là làm cho vÿ án được giải quyết, xét xử một cách chính xác và đúng theo quy định cāa pháp luật. Ngoài ra, có sự khác biệt hơn, Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học có nêu: <kháng 7 nghị là việc người có thẩm quyền yêu cầu Tòa án xét lại bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật theo thủ tục phúc thẩm, xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm= [56, tr.
Thông qua khái niệm này, một số vấn đề về chā thể có thẩm quyền kháng nghị, đối tượng cāa kháng nghị là bản án, quyết định cāa Tòa án chưa có hoặc đã có hiệu lực pháp luật đã được làm rõ. Như vậy, từ khái niệm, khía cạnh giải thích từ ngữ như trên, có thể hiểu: kháng nghị trong TTHC là hành vi tố tụng của người có thẩm quyền, thể hiện việc phản đối toàn bộ hoặc một phần bản án, quyết định của Tòa án nhằm bảo đảm cho việc xét xử được chính xác, công bằng. Để có thể xây dựng khái niệm kháng nghị giám đốc thẩm trong TTHC đầy đā và toàn diện thì việc giải thích khái niệm <giám đốc thẩm= cũng rất quan trọng. Không khó để nhận thấy, khái niệm giám đốc thẩm hiện nay được đề cập trong khá nhiều công trình khoa học, được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhay và khá gần gũi.
Về mặt thuật ngữ, Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học xác định đây là một giai đoạn tố tÿng đặc biệt trong TTHC trong đó Tòa án cấp trên có thẩm quyền tiến hành xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật cāa Tòa án cấp dưới nếu phát hiện sai lầm dựa trên cơ sở kháng nghị cāa chā thể có thẩm quyền [56, tr. Như vậy, thông qua cách hiểu này, khái niệm giám đốc thẩm không quá phức tạp và từ đây chúng ta thấy được tính chất đặc thù cāa việc giám đốc thẩm trong tố tÿng nói chung và TTHC nói riêng. Với tính chất là việc < xem xét bản án do một Tòa án ban hành, chứ không phải xét xử một vụ án do người dân khiếu kiện= [35, tr.16] có thể thấy giám đốc thẩm là một giai đoạn tố tÿng đặc biệt mà không phải là một cấp xét xử độc lập trong TTHC nói chung và giai đoạn tố tÿng đặc biệt này chỉ phát sinh khi người có thẩm quyền kháng nghị trên cơ sở họ đã phát hiện những sai lầm trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhằm <chữa lỗi= của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, cho dù là lỗi về khía cạnh pháp lí hay khía cạnh sự kiện của vụ án, chứ không nhằm mục đích trực tiếp giải quyết vụ án về mặt nội dung= [22, tr. Mặt khác, về mặt quan điểm khoa học, trong sách Bình luận Luật Tố tÿng hành chính, tác giả Lê Việt Sơn cũng nhận định <giám đốc thẩm là thủ tục đặc biệt nhằm xét lại tính đúng đắn, hợp pháp của bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị khi có đủ căn cứ và điều kiện theo quy định của pháp luật= [23, tr.
Qua cách tiếp cận này, tác giả cũng đã khẳng định giám đốc thẩm là thā tÿc đặc biệt với mÿc đích là xét lại tính đúng đắn, hợp pháp cāa bản án, quyết định đã phát sinh hiệu lực pháp luật, cơ sở để phát sinh giám đốc thẩm là bị các chā thể có thẩm quyền 8 kháng nghị dựa trên các căn cứ và điều kiện do pháp luật quy định. Về mặt pháp lý, hiện nay Luật TTHC nước ta không có điều khoản nào quy định chính thức về khái niệm giám đốc thẩm tuy nhiên với quy định về tính chất cāa hoạt động giám đốc thẩm tại Điều 254 khi nêu ra rằng <Giám đốc thẩm là xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị giám đốc thẩm khi có căn cứ quy định tại Điều 255 của Luật này= phần nào đã làm rõ cách hiểu, cách tiếp cận cāa các nhà làm luật về chế định này. Do vậy, dù các học giả, các nhà nghiên cứu có nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm giám đốc thẩm nhưng nhìn chung hiện nay họ đều thừa nhận những đặc điểm cơ bản cāa giám đốc thẩm như: một là, giám đốc thẩm không phải là cấp xét xử độc lập, là thā tÿc đặc biệt trong TTHC; hai là, đối tượng cāa giám đốc thẩm là bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật cāa Tòa án; ba là, điều kiện để phát sinh giám đốc thẩm là phải có kháng nghị cāa các chā thể đặc biệt được Nhà nước trao quyền và bốn là, cơ sở để kháng nghị giám đốc thẩm phải có các căn cứ pháp luật quy định. Đối với thuật ngữ <kháng nghị giám đốc thẩm=, cả về mặt lý luận và học thuật cũng có những quan điểm có đề cập.
Với TTHC, tác giả Võ Văn Sơn Thất cho rằng: <kháng nghị giám đốc thẩm là hoạt động tố tụng, do người có thẩm quyền thực hiện theo một trình tự, thủ tục luật định, khi phát hiện sai lầm trong các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, để yêu cầu Tòa án xem xét lại vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm= [52, tr. Với TTHS, tác giả Phạm Ngân Giang cho rằng kháng nghị giám đốc thẩm là việc ban hành một văn bản để can thiệp trực tiếp vào toàn bộ hoặc một phần bản án, quyết định cāa Tòa án đã phát sinh hiệu lực pháp luật nhưng có căn cứ cho rằng có sai lầm nghiêm trọng trong quá trình xử lý vÿ án và văn bản này phải được ban hành bởi các chā thể có thẩm quyền theo trình tự, thā tÿc luật định; đây sẽ là cơ sở để phát sinh việc xét lại tính đúng đắn, hợp pháp cāa một bản án, quyết định cāa Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thā tÿc giám đốc thẩm và có thể dẫn tới sự thay đổi hoặc chấm dứt hiệu lực pháp luật cāa toàn bộ hoặc một phần bản án, quyết định bị kháng nghị [19, tr. Có thể thấy, dù khái niệm này không đặt trong bối cảnh cāa TTHC tuy nhiên thông qua cách tiếp cận đó chúng ta có thể tiếp cận hoàn chỉnh hơn về kháng nghị giám đốc thẩm trong TTHC. Như vậy, trong khuôn khổ quan điểm học thuật, các tác giả đều cùng chung quan điểm rằng kháng nghị giám đốc thẩm là hành vi tố tÿng cāa chā thể có thẩm quyền theo quy định cāa pháp luật tố tÿng nhằm yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xem xét lại bản án, quyết định cāa Tòa án đã có hiệu lực pháp luật khi có căn cứ do Luật quy định.
9 Từ các phân tích, bàn luận chi tiết nêu trên, đặt trong phạm vi nghiên cứu cāa đề tài, tác giả rút ra được khái niệm kháng nghị giám đốc thẩm trong TTHC như sau: Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính là hành vi tố tụng của người có thẩm quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án khi có những căn cứ, điều kiện do pháp luật quy định nhằm bảo đảm cho việc xét xử VAHC luôn được chính xác, công bằng, khách quan. Đặc điểm Làm rõ các đặc điểm cāa kháng nghị giám đốc thẩm luôn là phần quan trọng không thể thiếu trong quá trình nghiên cứu, giúp chúng ta nhận thấy được sự khác biệt với kháng nghị phúc thẩm, kháng nghị tái thẩm trong TTHC.