Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về bảo đảm quyền công dân trong tố tụng hành chính của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Chương 2: Thực trạng bảo đảm quyền công dân trong tố tụng hành chính của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Chương 3: Phương hướng và giải pháp bảo đảm quyền công dân trong tố tụng hành chính tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CÔNG DÂN TRONG TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH CỦA TÕA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1.
Khái quát về bảo đảm quyền công dân trong tố tụng hành chính của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh 1.1 Khái niệm về bảo đảm quyền công dân trong tố tụng hành chính của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh Khái niệm về tố tụng hành chính Khái niệm Tố tụng hành chính là khái niệm còn khá mới trong hoạt động tư pháp ở Việt Nam về cả phương diện lý luận và thực tiễn. Để tìm hiểu về tố tụng hành chính, chúng ta cần phải hiểu rõ những quan niệm về hoạt động tài phán nói chung và tài phán hành chính nói riêng bởi giữa chúng có mối quan hệ mật thiết, tương hỗ lẫn nhau. Tố tụng hành chính được xem là một dạng của hoạt động tài phán. Thuật ngữ “tài phán” có nguồn gốc từ tiếng Latinh là “jurisdictio”, trong tiếng Anh là từ “jurisdiction”.
Theo nghĩa rộng thì tài phán là quyền lực của chính phủ trong việc xem xét tính đúng sai của các hoạt động diễn ra trên phạm vi lãnh thổ nhất định; theo nghĩa hẹp thì thuật ngữ này dùng để chỉ thẩm quyền của Tòa án trong việc xem xét, đánh giá và ra các phán quyết đối với vụ việc cụ thể và với các đối tượng xác định (Bryan A.Garner, Black’s Law Dictionary, tr 85, 1999). Theo khái niệm này thì tài phán được hiểu bao gồm hoạt động giải quyết tranh chấp của Tòa án và hoạt động giải quyết tranh chấp thuộc thẩm quyền của cơ quan hành chính. Ở Việt Nam, trước khi Tòa hành chính được thành lập (01-7-1996) thì vấn đề giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với các quyết định hành chính, hành vi 9 hành chính của cơ quan công quyền đã được quan tâm ở mức độ nhất định. Tuy nhiên do chịu ảnh hưởng của mô hình hệ thống pháp luật cũng như tư tưởng lập pháp xã hội chủ nghĩa trước đây nên trong thời kỳ này pháp luật nước ta chỉ thừa nhận các tranh chấp hành chính như những khiếu nại thông thường, được giải quyết theo thủ tục giải quyết khiếu nại hành chính mà không được giải quyết theo thủ tục tố tụng tại Tòa án.
Ngày 28/10/1995, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khoá IX, kỳ họp thứ 8 đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức Toà án nhân dân, trong đó Toà án nhân dân được trao chức năng xét xử các vụ án hành chính. Theo đó, hệ thống Toà hành chính đã được thành lập bên cạnh các Toà chuyên trách khác của Tòa án nhân dân như: Toà kinh tế, Toà lao động, Toà dân sự, Toà hình sự. Đây có thể coi là sự chuyển biến căn bản về tư tưởng lập pháp trong việc giải quyết các tranh chấp hành chính ở nước ta, là dấu mốc đánh dấu sự ra đời của ngành luật hành chính ở Việt Nam. Như vậy, mô hình tài phán hành chính ở Việt Nam không theo mô hình của các quốc gia thuộc hệ thống Common Law, cũng không hoàn toàn giống các quốc gia thuộc hệ thống Civil Law.
Chúng ta thừa nhận cơ chế giải quyết tranh chấp hành chính bằng thủ tục tố tụng, tuy nhiên không thành lập một hệ thống Tòa án hành chính độc lập mà thành lập các Tòa hành chính với tư cách là tòa chuyên trách thuộc hệ thống Tòa án nhân dân. Có thể khái quát rằng, Tố tụng hành chính là toàn bộ hoạt động của Tòa án, Viện kiểm sát, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, của cá nhân, của cơ quan Nhà nước và tổ chức có quyền và nghĩa vụ liên quan trong việc giải quyết vụ án hành chính, cũng như trình tự do pháp luật quy định đối với việc khởi kiện, thụ lý, giải quyết vụ án hành chính và thi hành bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính được giải quyết bởi Tòa 10 hành chính nằm trong hệ thống Tòa án nhân dân theo một cơ chế riêng được điều chỉnh bởi ngành luật Tố tụng hành chính. Khái niệm bảo đảm quyền công dân trong tố tụng hành chính Trước yêu cầu thể chế hóa các chủ trương cải cách tư pháp của Đảng, chúng ta thấy rằng, Nhà nước ta đang ngày càng quan tâm đến công dân tại nước mình, đảm bảo một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, Nhà nước của dân, do dân, vì dân, yêu cầu cụ thể hóa các quy định tại Hiến pháp 2013 và để đáp ứng đòi hỏi từ thực tiễn, hệ thống pháp luật tố tụng hành chính theo thời gian đã từng bước hoàn thiện, có tính thống nhất ngày càng cao, ghi nhận và bảo đảm quyền con người, quyền công dân bằng pháp luật và bảo đảm quyền công dân trong lĩnh vực này được thực hiện trên thực tế. Hiến pháp 2013 đã khẳng định sứ mệnh cao quý, riêng có của Tòa án là “bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”.
[10] Pháp luật tố tụng hành chính – một lĩnh vực, một ngành luật khá mới mẻ trong hệ thống pháp luật Việt Nam được hình thành kể từ khi Tòa án có chức năng xét xử hành chính – xét xử đối với những tranh chấp hành chính giữa công dân, tổ chức với chính quyền hành chính. Theo đó, Tòa án nhân danh công lý và Nhà nước để phán xét về tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính bị công dân, tổ chức khiếu kiện, thông qua đó để bảo đảm quyền công dân, quyền con người đã bị xâm hại bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính của chính quyền hành chính. Đặc biệt trong Tố tụng hành chính nói riêng, bảo đảm quyền công dân trong TTHC là bảo đảm quyền công dân trong hoạt động tư pháp, là việc Nhà nước thiết lập các điều kiện, cơ chế pháp lý - tổ chức cần thiết nhằm ghi nhận, tôn trọng và thực hiện các quyền công dân trong quá trình giải quyết 11 các khiếu kiện hành chính bằng con đường tố tụng, thông qua hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân, theo một cơ chế riêng và được điều chỉnh bởi ngành luật tố tụng hành chính. Bảo đảm quyền công dân trong TTHC trước hết phải tạo điều kiện, tiền đề để công dân dễ dàng tiếp cận với Tòa án để tự bảo vệ các quyền của mình, mà họ cho rằng đã bị quyết định hành chính, hành vi hành chính xâm phạm.
Mặt khác, phải tạo ra được điều kiện thuận lợi để công dân đối thoại, tranh luận với cơ quan, người có thẩm quyền ra quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu kiện, từ đó tạo được sự bình đẳng trong quan hệ tố tụng giữa cơ quan hành chính nhà nước và công dân. Vì vậy, bảo đảm quyền công dân trong TTHC còn được hiểu là bảo đảm dân chủ, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước, cũng là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong tố tụng hành chính.2 Nguyên tắc bảo đảm quyền công dân trong tố tụng hành chính của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh Một trong những chức năng quan trọng và là tiêu chí đánh giá mức độ dân chủ của một Nhà nước, đó là việc tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền công dân. Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân thì vấn đề bảo đảm quyền công dân phải được chú trọng hàng đầu, đặc biệt là trong các quan hệ tố tụng nói chung và tố tụng hành chính nói riêng. Bảo đảm quyền công dân trong tố tụng hành chính là bảo đảm quyền công dân trong hoạt động tư pháp, là việc Nhà nước thiết lập các điều kiện cần thiết nhằm tôn trọng và thực hiện các quyền công dân của các cá nhân trong việc giải quyết các khiếu kiện hành chính bằng con đường tố tụng.
12 Các nguyên tắc bảo đảm quyền công dân được quy định trong Luật TTHC 2015. Luật này quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hành chính để bảo đảm quyền công dân; ghi nhận nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; trình tự, thủ tục khởi kiện, giải quyết vụ án hành chính, thi hành án hành chính và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hành chính nhằm đảm bảo quyền công dân trong Tố tụng hành chính. Trong TTHC, nguyên tắc hiến định đã được Luật TTHC 2015 cụ thể hóa tại Điều 23 đó là nguyên tắc: “Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” [14], theo đó, trong quá trình xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân không bị ảnh hưởng bởi bất cứ cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào, việc ra phán quyết về tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính chỉ trên cơ sở quy định của pháp luật. Mục đích của nguyên tắc này nhằm bảo đảm quyền công dân, quyền bình đẳng của công dân trước pháp luật, đồng thời tránh sự can thiệp, tác động của các cơ quan hành pháp, lập pháp vào hoạt động xét xử của Tòa án, tránh sự “tùy tiện” từ phía Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân khi đưa ra các quyết định.
Nhà nước bảo đảm nguyên tắc này được thực hiện trên thực tế bằng các hình thức khác nhau trong đó có việc “nghiêm cấm các cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân dưới bất kỳ hình thức nào” [14]. Có thể nói, Nhà nước bảo đảm sự độc lập của Tòa hành chính chính là bảo đảm quyền công dân; là biểu hiện của sự chịu trách nhiệm của Nhà nước trước công dân, bởi hiệu quả của công tác xét xử phụ thuộc vào chính sự độc lập này.