CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM ĐỐI VỚI BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH GIẢI QUYẾT VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về chức năng của Viện kiểm sát nhân dân: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp”. Nếu như trong giải quyết vụ án hình sự, Viện kiểm sát phải thực hiện đồng thời hai chức năng này thì đối với việc giải quyết vụ việc dân sự, chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp lại cần được chú trọng và phát huy. Một trong những phương thức thực hiện quyền năng của Viện kiểm sát trong lĩnh vực này đó chính là thực hiện quyền kháng nghị. Cụ thể, đối với vụ việc hôn nhân và gia đình, việc thực hiện tốt công tác kiểm sát việc giải quyết và thực hiện quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm các bản án, quyết định giải quyết sẽ giúp cho bản án, quyết định đảm bảo đúng pháp luật cũng như hiệu lực thi hành, đảm bảo tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, nhất là khi việc giải quyết về hôn nhân gia đình là tiền đề để mỗi cá nhân có thể ổn định cuộc sống và phát triển.
Một số vấn đề lý luận về hoạt động kháng nghị phúc thẩm đối với bản án, quyết định giải quyết về hôn nhân và gia đình 1. Khái niệm - Khái niệm “kháng nghị”: Theo cách hiểu chung nhất, kháng nghị là sự bày tỏ ý kiến phản đối bằng văn bản chính thức của chủ thể có thẩm quyền. Trong khoa học luật tố tụng, kháng nghị bản án, quyết định có thể hiểu là quyết định chính thức của Viện kiểm sát về việc không đồng ý với bản án, quyết định của Toà án, làm ngưng hiệu lực phán quyết của Toà án trong bản án, quyết định đã tuyên và đồng thời yêu cầu đưa vụ án ra xét xử lại. Dưới góc độ khoa học kiểm sát, kháng nghị là quyền năng, là biện pháp pháp lý đặc biệt quan trọng và cần thiết để Viện Kiểm sát nhân dân thực hiện -8- chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật, góp phần đảm bảo cho pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh, thống nhất.
- Khái niệm “kháng nghị phúc thẩm”: Hiện nay, khái niệm kháng nghị phúc thẩm đang được hiểu theo một số quan điểm khác nhau, cụ thể: Quan điểm thứ nhất: Kháng nghị phúc thẩm “là hành vi tố tụng của người có thẩm quyền, thể hiện việc phản đối một phần hoặc toàn bộ nội dung bản án hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Toà án với mục đích nhằm đảm bảo cho toàn bộ việc xét xử được chính xác, công bằng, đồng thời sửa chữa những sai lầm trong bản án, quyết định của Toà án” [1]. Quan điểm thứ hai: Kháng nghị phúc thẩm “là hoạt động tố tụng của Viện kiểm sát theo quy định pháp luật trong việc đề nghị Toà án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định của Toà án chưa có hiệu lực pháp luật” [23]. Quan điểm thứ ba: Kháng nghị phúc thẩm “là một trong những quyền của Viện kiểm sát được thực hiện bằng một văn bản pháp lý thể hiện quan điểm không thống nhất với bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp sơ thẩm vì xét xử thiếu căn cứ, không phù hợp với pháp luật và yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án đó đúng pháp luật” [34]. Ngoài ra, bàn về kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự, có quan điểm cho rằng: “Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm vụ án dân sự là hoạt động tố tụng của người có thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân theo quy định pháp luật trong việc phản đối toàn bộ hoặc một phần bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án dân sự, xem xét lại quyết định theo thủ tục phúc thẩm” [10].
Tuy tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm kháng nghị phúc thẩm, nhưng từ những quan điểm nêu trên, có thể hiểu: “Kháng nghị phúc thẩm là hoạt động tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân thể hiện sự phản đối toàn bộ hoặc một phần đối với bản án, quyết định của Toà án chưa có hiệu lực pháp luật, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.” -9- Trong giai đoạn giải quyết vụ việc theo thủ tục sơ thẩm, Viện kiểm sát đã tiến hành các hoạt động kiểm sát cần thiết theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho quá trình giải quyết vụ việc được tiến hành đúng pháp luật. Tuy nhiên, vẫn có thể tồn tại trường hợp, trong quá trình giải quyết không phát hiện kịp thời những vi phạm, thậm chí có trường hợp giữa Toà án và Viện kiểm sát chưa có sự thống nhất về quan điểm, nhận thức về việc giải quyết vụ việc, dẫn đến Toà án ra bản án, quyết định mà VKS cho rằng chưa đảm bảo tính hợp pháp cả về pháp luật nội dung và pháp luật về tố tụng. Khi đó, chính bằng việc kháng nghị, Viện kiểm sát mới thực hiện được đầy đủ và hiệu quả chức năng của mình là góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất trong suốt quá trình tố tụng. Kháng nghị của Viện kiểm sát là hoạt động tố tụng làm phát sinh một thủ tục tố tụng mới, buộc Toà án có thẩm quyền phải xem xét lại bản án, quyết định bị kháng nghị.
Mặc dù pháp luật không quy định hạn chế quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong tố tụng dân sự của VKS, nhưng để tránh việc kháng nghị trùng lặp, không cần thiết, đồng thời bảo đảm quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự, VKS thường chỉ trực tiếp kháng nghị đối với những trường hợp có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự theo trình tự sơ thẩm hoặc trường hợp VKS đã có ý kiến trước đó về vi phạm pháp luật nhưng Toà án cấp sơ thẩm không có biện pháp khắc phục. - Khái niệm bản án, quyết định giải quyết về hôn nhân và gia đình: Kết quả của việc giải quyết về hôn nhân và gia đình này được thể hiện bằng hình thức bản án hoặc quyết định, gồm bản án sơ thẩm, bản án phúc thẩm, quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự, quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, quyết định giám đốc thẩm, quyết định tái thẩm, … “Bản án, quyết định” được xem là văn bản ghi nhận phán quyết của Toà án sau khi xét xử một vụ việc, phản ánh những kết quả của phiên toà và ý kiến phân tích, đánh giá của hội đồng xét xử. - 10 - Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định những vụ việc hôn nhân - gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án gồm các vụ án hôn nhân gia đình như ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn và các việc hôn nhân gia đình như yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thoả thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn …, từ đó có thể hiểu vụ việc hôn nhân – gia đình là những tranh chấp, yêu cầu phát sinh từ quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình, được các bên chủ thể thực hiện hành vi khởi kiện hoặc nộp đơn yêu cầu và được Toà án có thẩm quyền thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật. - Khái niệm kháng nghị phúc thẩm đối với bản án, quyết định giải quyết về hôn nhân và gia đình: Kháng nghị phúc thẩm được thực hiện trong cả ba hình thức tố tụng: Tố tụng hình sự, tố tụng dân sự và tố tụng hành chính.
Đối với tố tụng dân sự, vụ việc dân sự được toà án thụ lý giải quyết bao gồm vụ việc trong các lĩnh vực dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại và lao động. Từ những phân tích trên, có thể hiểu “Kháng nghị phúc thẩm đối với bản án, quyết định giải quyết về hôn nhân và gia đình là hoạt động của Viện kiểm sát được tiến hành theo trình tự, thủ tục thống nhất, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm phản đối một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định giải quyết về hôn nhân và gia đình chưa có hiệu lực pháp luật, là cơ sở để Toà án cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết lại theo quy định của pháp luật”. Đặc điểm của hoạt động kháng nghị phúc thẩm đối với bản án, quyết định giải quyết về hôn nhân và gia đình Hoạt động kháng nghị phúc thẩm bản án, quyết định giải quyết vụ việc hôn nhân gia đình vừa mang đặc điểm chung của kháng nghị phúc thẩm trong tố tụng dân sự, vừa mang đặc điểm riêng gắn với lĩnh vực hôn nhân – gia đình. Cụ thể: Thứ nhất, căn cứ phát sinh thủ tục xét xử phúc thẩm vụ việc hôn nhân và gia đình là khi việc kháng nghị phúc thẩm bản án, quyết định giải quyết vụ việc hôn nhân – gia đình.
Điều 270 BLTTDS 2015 có quy định: “Xét xử phúc thẩm là việc Toà án cấp phúc thẩm trực tiếp xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định của - 11 - Toà án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị”. Theo đó, kháng nghị phúc thẩm sẽ góp phần bảo về quyền và lợi ích của các chủ thể, của Nhà nước và đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa; đảm bảo tính có căn cứ của bản án, quyết định, là cơ sở giúp Toà án cấp phúc thẩm khắc phục sai lầm của Toà án cấp sơ thẩm [10]. Thứ hai, đối tượng kháng nghị của các vụ việc hôn nhân và gia đình nói riêng cũng như trong lĩnh vực tố tụng dân sự nói chung là các bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án chưa có hiệu lực pháp luật. Đây là vấn đề lí luận cơ bản trong pháp luật tố tụng, được thể hiện cụ thể ở Điều 278 BLTTDS năm 2015.
Thứ ba, chủ thể có thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm bản án, quyết định sơ thẩm nói chung, bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình chỉ có duy nhất Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền này. Điều này được quy định rất rõ trong BLTTDS, Bộ luật Tố tụng Hình sự hay Luật Tố tụng hành chính. Qua đó, VKSND thể hiện được chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của mình khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Tòa án.