Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam với đề tài "Khu ủy Trị - Thiên - Huế trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ năm 1966 đến năm 1975" tập trung phục dựng có hệ thống quá trình thành lập, củng cố tổ chức và lãnh đạo chiến tranh nhân dân của một cấp ủy đảng cấp khu đặc biệt trong giai đoạn khốc liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954, Trị - Thiên - Huế trở thành địa bàn tiền tiêu, tiếp giáp trực tiếp với miền Bắc xã hội chủ nghĩa qua Vĩ tuyến 17. Trong hơn 10 năm đầu (1955-1966), hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên được tổ chức thành Liên Tỉnh ủy Trị - Thiên thuộc Khu ủy V và thực hiện nhiệm vụ theo sách lược "khu đệm", hạn chế đấu tranh vũ trang. Khi đế quốc Mỹ chuyển sang chiến lược "Chiến tranh cục bộ" vào năm 1965, tính chất chiến trường thay đổi căn bản. Bộ máy Liên Tỉnh ủy cũ bộc lộ nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu chỉ đạo tác chiến phối hợp quy mô lớn.

Trước đòi hỏi thực tiễn, tháng 4-1966, Bộ Chính trị quyết định thành lập Khu ủy Trị - Thiên - Huế trực thuộc Trung ương Đảng, đồng thời Quân ủy Trung ương thành lập Quân khu Trị - Thiên - Huế. Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là: mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về quân sự hoặc lịch sử đảng bộ từng địa phương riêng lẻ, nhưng chưa có công trình chuyên khảo nào nghiên cứu toàn diện, độc lập và có hệ thống về cơ cấu tổ chức cũng như vai trò lãnh đạo toàn diện của Khu ủy Trị - Thiên - Huế trong toàn bộ giai đoạn 1966-1975.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ quá trình thành lập, xây dựng tổ chức và lãnh đạo chiến tranh nhân dân của Khu ủy Trị - Thiên - Huế trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ năm 1966 đến năm 1975; phân tích các thành công, hạn chế và đúc kết những kinh nghiệm lịch sử.

Để thực hiện mục đích trên, luận án giải quyết 5 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Khái quát tình hình và chủ trương của Trung ương Đảng về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước giai đoạn 1965-1975.
  2. Phân tích đặc điểm chiến trường Trị - Thiên - Huế trong cuộc kháng chiến, đặc biệt từ năm 1965 khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh cục bộ.
  3. Nêu rõ yêu cầu khách quan của việc thành lập, chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Khu ủy Trị - Thiên - Huế.
  4. Trình bày quá trình kiện toàn, xây dựng, phát triển tổ chức và quá trình lãnh đạo toàn diện cuộc kháng chiến của Khu ủy từ năm 1966 đến năm 1975 trên địa bàn Trị - Thiên - Huế.
  5. Đánh giá thành công, hạn chế và tổng kết một số kinh nghiệm lịch sử từ thực tiễn tổ chức và lãnh đạo của Khu ủy.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Sự thành lập Khu ủy Trị - Thiên - Huế; quá trình xây dựng tổ chức và quá trình lãnh đạo chiến tranh nhân dân của Khu ủy từ năm 1966 đến năm 1975.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào sự thành lập, kiện toàn tổ chức bộ máy của Khu ủy và quá trình lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ: đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị, công tác vận động quần chúng, đấu tranh binh vận, xây dựng Đảng, phát triển kinh tế và xây dựng vùng giải phóng. Do nguồn tài liệu lưu trữ về tổ chức không liên tục theo thời gian, nội dung xây dựng tổ chức được trình bày ở mức độ nhất định và tập trung sâu vào quá trình lãnh đạo thực tiễn.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn Trị - Thiên - Huế gồm hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên và thành phố Huế, trải dài từ phía Nam sông Bến Hải (Vĩ tuyến 17) - Vĩnh Linh (Quảng Trị) đến phía Bắc đèo Hải Vân (Phú Lộc - Thừa Thiên Huế).
  • Phạm vi thời gian: Từ tháng 4-1966 (thời điểm thành lập Khu ủy) đến tháng 4-1975 (thời điểm Khu ủy hoàn thành nhiệm vụ và giải thể).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã khảo cứu và phân loại khối lượng lớn tài liệu nghiên cứu liên quan theo ba nhóm chính:

Các công trình nghiên cứu trong nước

  • Nhóm công trình tổng kết chung về cuộc kháng chiến: Tiêu biểu là Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và bài học (1995) và Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945-1975 - Thắng lợi và bài học của Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị; Về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Đại tướng Văn Tiến Dũng; Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 (các tập IV, V, VI, VII, VIII) của Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam; Lịch sử biên niên xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954-1975) của Viện Lịch sử Đảng; các tác phẩm lý luận chỉ đạo của Trường Chinh, Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp. Các công trình này cung cấp bức tranh chiến lược toàn cục của cách mạng giải phóng miền Nam, trong đó có vị trí của chiến trường Trị - Thiên - Huế.
  • Nhóm công trình chuyên sâu về chiến trường và địa phương: Chiến trường Trị - Thiên - Huế trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước toàn thắng (Dự thảo) của Ban Tổng kết chiến tranh chiến trường Trị - Thiên - Huế (Bộ Quốc phòng); Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975) do Võ Văn Minh chủ biên; Lịch sử Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị (1966-1973) của Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam; Lịch sử Đảng bộ Tỉnh Thừa Thiên - Huế (1945-1975) (tập 2); Lịch sử Đảng bộ Quảng Trị (1945-1975) (tập 2); Thừa Thiên - Huế kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975) của Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Thừa Thiên Huế; Quảng Trị kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975); cùng hệ thống lịch sử đảng bộ cấp huyện, thị xã, thành phố của hai tỉnh.
  • Các hồi ký, bài viết chuyên đề của nhân chứng lịch sử: Các bài viết của Thượng tướng Trần Văn Quang (nguyên Bí thư Khu ủy Trị - Thiên - Huế), Trung tướng Lê Tự Đồng (nguyên Bí thư Khu ủy), Thiếu tướng Lê Chưởng (nguyên Phó Bí thư Khu ủy), ông Lê Minh (nguyên Phó Bí thư Khu ủy), Thượng tướng Lê Khả Phiêu, Trung tướng Đặng Kinh, Đại tá Thân Trọng Một; các công trình nghiên cứu chuyên đề về Tết Mậu Thân 1968, chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh, chiến dịch Xuân - Hè 1972 của Hồ Khang, Vũ Quang Hiển, Nguyễn Trọng Phúc, Nguyễn Mạnh Hà.

Các công trình nghiên cứu của tác giả nước ngoài

Luận án tham khảo các tư liệu từ phía Mỹ và phương Tây nhằm đối chiếu góc nhìn, gồm hồi ký của các nhân vật chính trị và quân sự Mỹ như Robert S. McNamara, Lyndon B. Johnson, Richard Nixon, William C. Westmoreland, Bruce Palmer; các công trình khảo cứu lịch sử của Michael Maclear, Neil Sheehan, Don Oberdorfer, Daniel Ellsberg, George C. Herring, Gabriel Kolko, Phillip B. Davidson, John Prados và Ray W. Stubbe.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình trước đây chủ yếu tập trung vào khía cạnh diễn biến quân sự, nghệ thuật chiến dịch hoặc phản ánh hoạt động hành chính - đảng bộ của từng địa phương đơn lẻ (Quảng Trị, Thừa Thiên hoặc Huế riêng biệt). Luận án này lựa chọn giải quyết khoảng trống: làm rõ vai trò của Khu ủy Trị - Thiên - Huế với tư cách là cơ quan lãnh đạo cao nhất tại chỗ, trực thuộc Trung ương, chịu trách nhiệm hợp nhất lãnh đạo cả hai tỉnh và thành phố Huế, kết hợp tác chiến giữa chiến trường nhân dân địa phương (Mặt trận B4) với mặt trận binh đoàn chủ lực Trung ương (Mặt trận B5) trong suốt 9 năm tồn tại (1966-1975).


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận

Luận án vận dụng các nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các quan điểm, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam về:

  • Lý luận chiến tranh nhân dân và khởi nghĩa vũ trang.
  • Vai trò của quần chúng nhân dân trong tiến trình lịch sử.
  • Nguyên tắc tổ chức và công tác xây dựng Đảng trong điều kiện chiến tranh cách mạng.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp chủ yếu: Sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic. Phương pháp lịch sử giúp tái hiện tiến trình thành lập và hoạt động thực tiễn của Khu ủy theo đúng trình tự thời gian và bối cảnh cụ thể. Phương pháp lôgic làm sáng tỏ bản chất của các chủ trương, phân tích mối quan hệ nhân quả giữa sự chỉ đạo của Khu ủy và chuyển biến trên chiến trường.
  • Phương pháp kết hợp: Phương pháp nghiên cứu văn bản học (thẩm định, đối chiếu các nghị quyết, chỉ thị, điện báo), phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh lịch sử, phương pháp điền dã và khai thác lời kể nhân chứng lịch sử.

Nguồn tư liệu

  • Văn kiện, tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng.
  • Nguồn tài liệu gốc lưu trữ: Các văn bản nghị quyết, chỉ thị, công điện, báo cáo tổng kết của Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương, Khu ủy Trị - Thiên - Huế, Quân khu Trị - Thiên - Huế, Tỉnh ủy Quảng Trị, Tỉnh ủy Thừa Thiên được lưu giữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, Viện Lịch sử Đảng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Phòng Lưu trữ Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế và Tỉnh ủy Quảng Trị.
  • Các tư liệu hồi ký, tổng kết chiến trường của tướng lĩnh và cán bộ lãnh đạo thời kỳ 1966-1975.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương 1 hệ thống hóa các nhóm công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài. Tác giả phân tích thành tựu của các công trình đi trước về bối cảnh chiến tranh, đường lối chỉ đạo chung của Đảng và diễn biến các chiến dịch quân sự lớn tại Trị - Thiên - Huế. Đồng thời, chương này chỉ ra những nội dung mà luận án kế thừa (phương pháp luận nghiên cứu tổ chức đảng đặc thù, tư liệu lịch sử quân sự) và xác định rõ các vấn đề cần tập trung giải quyết: phân tích cơ cấu tổ chức bộ máy Khu ủy, sự phối hợp chỉ đạo giữa Khu ủy với Trung ương và các địa phương, cũng như vai trò lãnh đạo toàn diện trên các mặt trận quân sự, chính trị, binh vận, kinh tế và xây dựng Đảng.

Chương 2: Khu ủy Trị - Thiên - Huế thành lập, lãnh đạo kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ năm 1966 đến năm 1968

Chương 2 trình bày hoàn cảnh ra đời của Khu ủy Trị - Thiên - Huế và thực tiễn lãnh đạo phong trào kháng chiến trong giai đoạn đối đầu với chiến lược "Chiến tranh cục bộ":

  • Đặc điểm địa bàn và yêu cầu thành lập: Trị - Thiên - Huế có diện tích khoảng 10.300 km² (Thừa Thiên Huế: 5.600 km², Quảng Trị: 4.700 km²), dân số trên 80 vạn người, địa hình gồm 3 vùng: rừng núi (chiếm 3/4 diện tích), nông thôn đồng bằng hẹp và đô thị ven biển (thành phố Huế có diện tích hơn 90 km² với 15 vạn dân). Địa bàn vừa là tiền tuyến của miền Nam vừa là hậu phương bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa.
  • Tổ chức bộ máy: Tháng 4-1966, Bộ Chính trị thành lập Khu ủy Trị - Thiên - Huế. Ban đầu, Thiếu tướng Đặng Thí làm Bí thư Khu ủy (4-1966 đến 6-1966). Từ tháng 6-1966, Thiếu tướng Trần Văn Quang được chỉ định làm Bí thư Khu ủy kiêm Tư lệnh Quân khu; Thiếu tướng Lê Chưởng làm Phó Bí thư Khu ủy kiêm Chính ủy Quân khu; ông Lê Minh làm Phó Bí thư Khu ủy kiêm Trưởng Ban An ninh khu (từ tháng 8-1966). Bộ máy giúp việc gồm: Văn phòng, Ban Tổ chức, Ban Tuyên huấn, Ban Kiểm tra, Ban An ninh, Ban Dân vận, Ban Binh vận, Ban Giao liên, Ban Kinh tế, Ban Thi đua khen thưởng, Hội đồng tiền phương. Khu ủy trực tiếp chỉ đạo Tỉnh ủy Thừa Thiên (Bí thư Nguyễn Vạn), Tỉnh ủy Quảng Trị (Bí thư Trương Chí Công), Thành ủy Huế (Bí thư Trần Anh Liên, cấp tương đương Tỉnh ủy) và Quân Khu ủy.
  • Lãnh đạo chống kế hoạch "bình định" (1966-1967): Khu ủy ban hành Chỉ thị ngày 6-6-1966, tổ chức Hội nghị lần thứ 2 (10-1966) và Hội nghị mở rộng (5-1967), đề ra chủ trương đẩy mạnh chiến tranh nhân dân, kết hợp "hai chân, ba mũi, ba vùng, ba thứ quân". Phối hợp chặt chẽ giữa Mặt trận Trị - Thiên - Huế (B4) và Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị (B5, thành lập tháng 6-1966).
  • Lãnh đạo cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968: Khu ủy sắp xếp lại tổ chức, lãnh đạo quân và dân phối hợp với bộ đội chủ lực tiến công làm chủ thành phố Huế trong 25 ngày đêm, đồng thời tham gia chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh.
Chỉ tiêu / Lĩnh vực Kết quả đạt được trên chiến trường Trị - Thiên - Huế (10/1966 - 10/1967)
Tổn thất sinh lực địch Loại khỏi vòng chiến đấu 48.285 tên địch (trong đó có 27.396 lính Mỹ)
Phương tiện chiến tranh của địch bị phá hủy/hỏng 1.335 xe cơ giới (362 xe tăng, xe bọc thép), 136 pháo, 461 máy bay, 31 tàu thuyền, 50 cầu cống
Phát triển lực lượng vũ trang Bộ đội chủ lực tăng từ 3 tiểu đoàn lên 20 tiểu đoàn; lực lượng địa phương có 74 xã tham gia chiến đấu, >1.900 du kích, ~17.000 dân quân
Mở rộng vùng làm chủ nông thôn Làm chủ 1/2 số thôn, 1/3 số dân; 38 xã làm chủ mức độ cao, 24 xã làm chủ có mức độ, 23 xã tranh chấp
Xây dựng cơ sở bí mật tại Huế Xây dựng 1.000 cơ sở mật nội thành, hàng ngàn cơ sở ngoại thành (thành phần: lao động 51%, đảng viên 13%, đoàn viên 11,5%, tự vệ mật 10,34%)
Huy động đóng góp lương thực Đoàn 7 (Quảng Trị): 1.242,5 tấn gạo; Hướng Hóa: 200 tấn gạo, 2 triệu bụi sắn; Thừa Thiên: đồng bằng 3.000 tấn gạo, miền núi 1.000 tấn gạo

Chương 3: Khu ủy Trị - Thiên - Huế xây dựng tổ chức và lãnh đạo kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ năm 1969 đến năm 1975

Chương 3 phân tích hai giai đoạn chuyển biến quan trọng của phong trào cách mạng:

  • Giai đoạn 1969-1972: Củng cố tổ chức và lực lượng sau Mậu Thân 1968 trước sự đánh phá ác liệt của địch; khôi phục thế trận chiến tranh nhân dân, tham gia phục vụ và phối hợp trong chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào (1971); lãnh đạo quân dân địa phương phối hợp với các binh đoàn chủ lực mở cuộc tiến công chiến lược năm 1972, giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị (ngày 1-5-1972).
  • Giai đoạn 1973-1975: Phát triển tổ chức Đảng và bộ máy chính quyền nhân dân, lãnh đạo xây dựng và bảo vệ vùng giải phóng tỉnh Quảng Trị; củng cố cơ sở chính trị và vũ trang ở vùng giáp ranh và đô thị Thừa Thiên Huế; lãnh đạo cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn Trị - Thiên - Huế vào tháng 3-1975, góp phần vào thắng lợi chung giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm

Chương 4 đánh giá toàn diện các ưu điểm và hạn chế trong quá trình lãnh đạo của Khu ủy, đồng thời đúc kết các bài học kinh nghiệm:

  • Ưu điểm: Khu ủy đã nhanh chóng chuyển hướng tổ chức phù hợp với yêu cầu của chiến trường trọng điểm; kiên trì phương châm kết hợp ba mũi giáp công trên cả ba vùng chiến lược; giải quyết tốt mối quan hệ phối hợp giữa lực lượng vũ trang địa phương với các binh đoàn chủ lực của Bộ.
  • Hạn chế: Trong một số thời điểm, công tác nắm tình hình và đánh giá khả năng phản kích của địch còn thiếu chính xác; trình độ tác chiến hiệp đồng của lực lượng vũ trang địa phương trong giai đoạn đầu còn hạn chế; việc duy trì phong trào du kích ở một số vùng đồng bằng ven biển chưa đồng đều.
  • Kinh nghiệm: Tổng kết các bài học về xây dựng cấp ủy vững mạnh đáp ứng đặc thù chiến trường chia cắt; bài học về vận động quần chúng và xây dựng thế trận lòng dân; bài học về kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ tác chiến tại chỗ với nhiệm vụ bảo vệ hành lang vận tải chiến lược Bắc - Nam (Đường Hồ Chí Minh).

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về khoa học và lý luận

  • Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên tái hiện một cách toàn diện, có hệ thống quá trình hình thành, xây dựng cơ cấu tổ chức và phương thức lãnh đạo của Khu ủy Trị - Thiên - Huế trong giai đoạn 1966-1975.
  • Làm rõ tính đúng đắn và sáng tạo của Trung ương Đảng khi thành lập một đảng bộ cấp khu đặc biệt trực thuộc Trung ương nhằm đáp ứng yêu cầu của địa bàn "đầu cầu" chiến lược nối liền hai miền Nam - Bắc.
  • Cung cấp luận cứ khoa học về mối quan hệ chỉ đạo, phối hợp giữa cơ quan lãnh đạo chính trị địa phương (Khu ủy) với các cơ quan chỉ đạo tác chiến quân sự cấp chiến dịch, chiến lược (Quân khu Trị - Thiên - Huế, Mặt trận B5, các binh đoàn chủ lực).

Đóng góp thực tiễn và bài học vận dụng

  • Hệ thống hóa các nguồn tư liệu văn kiện, báo cáo nội bộ của Khu ủy và các tỉnh ủy địa phương, phục vụ công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng.
  • Rút ra các bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn đối với công tác xây dựng Đảng bộ vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức tại các địa bàn chiến lược trọng yếu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do điều kiện chiến tranh ác liệt và tính chất bảo mật thời chiến, nguồn tài liệu lưu trữ chuyên sâu về công tác tổ chức nội bộ của Khu ủy Trị - Thiên - Huế còn thiếu hụt, không liên tục theo từng năm. Do đó, luận án chưa thể trình bày chi tiết toàn bộ các lần thay đổi nhân sự và sinh hoạt chi bộ cấp cơ sở ở tất cả các giai đoạn.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục khai thác, sưu tầm các nguồn tư liệu hồi ức chưa công bố, tư liệu từ các kho lưu trữ địa phương và tư liệu giải mật từ phía đối phương để làm sâu sắc hơn các khía cạnh về xây dựng lực lượng vũ trang địa phương, công tác binh vận và công tác tiếp quản vùng giải phóng sau ngày Hiệp định Pari (1973) được ký kết.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và nhà nghiên cứu: Luận án là tài liệu chuyên khảo tham khảo hữu ích cho các chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Quân sự Việt Nam và Lịch sử Việt Nam hiện đại; đặc biệt có giá trị ở phần phân tích cơ cấu tổ chức bộ máy cấp ủy đặc thù thời chiến.
  • Đối với giảng viên và cơ sở đào tạo: Phục vụ trực tiếp cho việc giảng dạy các chuyên đề về lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, các trường đại học và viện nghiên cứu.
  • Đối với cấp ủy, cơ quan ban ngành địa phương: Cung cấp tài liệu tra cứu chính xác cho Tỉnh ủy Quảng Trị, Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế, Ban Tuyên giáo các cấp trong công tác biên soạn địa chí, lịch sử đảng bộ địa phương và giáo dục truyền thống cách mạng.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao Bộ Chính trị quyết định thành lập Khu ủy Trị - Thiên - Huế vào tháng 4-1966 thay vì giữ nguyên mô hình Liên Tỉnh ủy trực thuộc Khu ủy V?

Trả lời: Trước năm 1966, Trị - Thiên trực thuộc Khu ủy V và chịu sự chỉ đạo theo quan điểm "khu đệm", hạn chế hoạt động quân sự. Khi đế quốc Mỹ ồ ạt đưa quân vào miền Nam thực hiện chiến lược "Chiến tranh cục bộ", Trị - Thiên - Huế trở thành địa bàn tiền tiêu tiếp giáp miền Bắc, nơi đọ sức trực tiếp giữa hai bên. Bộ Chính trị thành lập Khu ủy Trị - Thiên - Huế trực thuộc Trung ương nhằm tạo lập một cơ quan lãnh đạo độc lập, đủ tầm chỉ đạo, giúp chiến trường Trị - Thiên - Huế phối hợp nhịp nhàng với toàn Miền và ngăn chặn âm mưu mở rộng chiến tranh ra miền Bắc của địch.

2. Nhân sự ban lãnh đạo chủ chốt của Khu ủy Trị - Thiên - Huế khi mới thành lập gồm những ai?

Trả lời: Khi mới thành lập (4-1966), Thiếu tướng Đặng Thí được chỉ định làm Bí thư Khu ủy. Từ tháng 6-1966, Thiếu tướng Trần Văn Quang giữ chức Bí thư Khu ủy kiêm Tư lệnh Quân khu, Bí thư Quân Khu ủy; Thiếu tướng Lê Chưởng giữ chức Phó Bí thư Khu ủy kiêm Chính ủy Quân khu; ông Nguyễn Húng (đến tháng 8-1966) và sau đó là ông Lê Minh giữ chức Phó Bí thư Khu ủy kiêm Trưởng Ban An ninh khu.

3. Mối quan hệ giữa Khu ủy Trị - Thiên - Huế và Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị (Mặt trận B5) được xác định như thế nào?

Trả lời: Khu ủy Trị - Thiên - Huế lãnh đạo toàn diện địa bàn hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên và thành phố Huế (gắn với Mặt trận B4). Tháng 6-1966, Quân ủy Trung ương thành lập thêm Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị (Mặt trận B5) do các binh đoàn chủ lực đảm nhiệm. Hai mặt trận này phối hợp tác chiến chặt chẽ: Mặt trận B5 thu hút, kìm giữ và tiêu diệt lực lượng cơ động chủ lực của Mỹ ở vùng rừng núi, tạo điều kiện thuận lợi cho Mặt trận B4 đẩy mạnh chiến tranh nhân dân, phá kế hoạch bình định ở vùng đồng bằng và đô thị.

4. Kết quả nổi bật về công tác xây dựng cơ sở bí mật tại thành phố Huế trong giai đoạn 1966-1967 được luận án ghi nhận ra sao?

Trả lời: Đến cuối năm 1967, Thành ủy Huế dưới sự chỉ đạo của Khu ủy đã xây dựng được 1.000 cơ sở mật ở nội thành và hàng ngàn cơ sở ở vùng ven. Cơ cấu thành phần cơ sở bí mật bao gồm: nhân dân lao động chiếm 51%, đảng viên chiếm 13%, đoàn viên thanh niên chiếm 11,5%, lực lượng tự vệ mật chiếm 10,34%. Hệ thống này là cơ sở trực tiếp phục vụ cho việc tiến công và chiếm giữ thành phố Huế 25 ngày đêm trong dịp Tết Mậu Thân 1968.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả đã tái hiện một cách khoa học và hệ thống toàn bộ quá trình thành lập, kiện toàn tổ chức và vai trò lãnh đạo của Khu ủy Trị - Thiên - Huế từ năm 1966 đến năm 1975. Công trình khẳng định chủ trương thành lập Khu ủy trực thuộc Trung ương là quyết định đúng đắn, đáp ứng kịp thời đòi hỏi khách quan của một chiến trường tiền tiêu trọng yếu. Các kết quả nghiên cứu, hệ thống số liệu lịch sử và bài học kinh nghiệm được đúc kết trong luận án đóng góp nguồn tư liệu giá trị cho chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam và lịch sử kháng chiến tại địa phương.