Tổng quan luận án
Công trình Đấu tranh chính trị ở Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ từ năm 1961 đến năm 1968 do tác giả Trần Thị Lan thực hiện, thuộc chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (mã số: 62 22 03 13), được bảo vệ năm 2015 tại Trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Ngọc Long và TS. Nguyễn Văn Hoa.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954-1975), đấu tranh chính trị và đấu tranh quân sự là hai hình thức đấu tranh cơ bản giữ vai trò quyết định thắng lợi. Tây Nguyên là địa bàn chiến lược trọng yếu, đóng vai trò xương sống của chiến trường miền Nam, nơi đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn tập trung triển khai các kế hoạch bình định, dồn dân, lập ấp chiến lược và chia rẽ khối đoàn kết dân tộc. Mặc dù phong trào đấu tranh tại miền Nam đã được nghiên cứu ở nhiều góc độ, song tính đến thời điểm tác giả thực hiện đề tài, chưa có công trình chuyên sâu nào khảo cứu toàn diện, có hệ thống về đấu tranh chính trị ở địa bàn Tây Nguyên giai đoạn 1961-1968. Do đó, việc nghiên cứu đề tài là cần thiết nhằm phản ánh bức tranh toàn cảnh về đấu tranh chính trị tại một địa bàn miền núi, làm rõ nghệ thuật chiến tranh nhân dân và đúc rút kinh nghiệm lịch sử phục vụ công tác an ninh - quốc phòng hiện nay.
Mục đích nghiên cứu của luận án là tái hiện quá trình đấu tranh chính trị ở Tây Nguyên từ năm 1961 đến năm 1968, bổ sung kết quả nghiên cứu lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ trên địa bàn; đồng thời cung cấp luận cứ khoa học góp phần nâng cao chất lượng công tác chính trị, tư tưởng, vận động quần chúng và xây dựng thế trận quốc phòng - an ninh ở Tây Nguyên.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:
- Phân tích vị trí chiến lược, khái quát đặc điểm dân cư và kinh tế - xã hội của Tây Nguyên, truyền thống yêu nước và cách mạng của đồng bào các dân tộc trên địa bàn - những yếu tố tác động đến đấu tranh chính trị.
- Làm rõ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với đấu tranh chính trị ở Tây Nguyên từ năm 1961 đến năm 1968.
- Tái hiện một cách khách quan và chân thực quá trình đấu tranh chính trị ở các tỉnh Tây Nguyên từ năm 1961 đến năm 1968.
- Phân tích, luận giải những đặc điểm và vai trò của đấu tranh chính trị ở Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ; đúc rút những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn đấu tranh để ngày nay có thể kế thừa và vận dụng trong xây dựng thế trận an ninh - quốc phòng ở địa bàn chiến lược này.
Về đối tượng nghiên cứu, luận án tập trung khảo cứu phong trào đấu tranh chính trị ở Tây Nguyên những năm 1961-1968, trọng tâm là các cuộc đấu tranh của nông dân, sinh viên - học sinh, tín đồ các tôn giáo và các tầng lớp xã hội khác chống càn quét, gom dân, phá ấp chiến lược, đòi bình đẳng tôn giáo, tự do dân chủ, cải thiện dân sinh, chống bắn phá buôn làng, nương rẫy và đòi quân Mỹ rút về nước.
Phạm vi nghiên cứu được xác định rõ ràng:
- Về không gian: Bao gồm 5 tỉnh Tây Nguyên theo phân chia địa giới của chính quyền cách mạng trong kháng chiến chống Mỹ (Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng, Tuyên Đức), tương ứng với địa bàn 5 tỉnh Tây Nguyên hiện nay là Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng.
- Về thời gian: Từ giữa năm 1961 đến cuối năm 1968, mốc thời gian đế quốc Mỹ triển khai hai chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" và "Chiến tranh cục bộ" ở miền Nam Việt Nam.
- Về nội dung: Khảo cứu toàn diện quá trình đấu tranh chính trị ở Tây Nguyên từ năm 1961 đến năm 1968.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong Chương 1, tác giả phân loại và điểm lại tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài thành 3 nhóm công trình chính:
Nhóm thứ nhất: Các công trình nghiên cứu về đấu tranh chính trị trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Nhóm này gồm các công trình tổng kết chiến tranh và lịch sử Đảng như Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ - Thắng lợi và bài học (1995), Chiến tranh cách mạng Việt Nam (1945-1975) - Thắng lợi và bài học (2000) của Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị; Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tập 2 (1995) của Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Các tác phẩm xác định đấu tranh chính trị là mũi tiến công sắc bén, đi đôi với đấu tranh quân sự để tạo thành bạo lực cách mạng. Tham luận của Nguyễn Thị Định tại Hội thảo khoa học năm 1985 khẳng định đấu tranh chính trị là một hình thức đấu tranh cơ bản, gắn liền với vai trò của "đội quân tóc dài". Bộ Quốc phòng và Viện Lịch sử quân sự Việt Nam xuất bản bộ Lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) gồm 9 tập và bộ Lịch sử quân sự Việt Nam gồm 14 tập (trong đó có Tập 11 xuất bản năm 2005) đề cập đến phong trào phá ấp chiến lược, phong trào đô thị Đà Lạt năm 1966 và cuộc nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Các nghiên cứu chuyên sâu khác gồm bài viết của Quỳnh Cư trên Tạp chí Nghiên cứu lịch sử (số 3-1980); công trình của Hội đồng chỉ đạo biên soạn lịch sử Nam Bộ kháng chiến (2011); bài viết của Lê Cung trên Tạp chí Lịch sử quân sự (số 6-2006) và tham luận năm 2008 về phong trào đô thị; bài viết của Trịnh Thị Hồng Hạnh trên Tạp chí Lịch sử Đảng (số 6-2010); bài viết của Vũ Thị Thúy Hiền (2000) về phụ nữ miền Nam; bài viết (2005) và luận án tiến sĩ (2006) của Phí Văn Thức về phong trào đô thị Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng; cùng các luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Phương Yến (2005), Trương Hoàng Trương (2005), Hoàng Chí Hiếu (2006), Phạm Thị Thanh Thúy (2012). Tác giả nhận xét các công trình này chủ yếu phản ánh đường lối chung hoặc phong trào ở các đô thị lớn đồng bằng, chưa đi sâu vào địa bàn Tây Nguyên.
Nhóm thứ hai: Các công trình nghiên cứu về chính sách của Mỹ và chính quyền Sài Gòn đối với Tây Nguyên.
Bao gồm các ấn phẩm từ phía Việt Nam Cộng hòa như Sơ lược về chính sách Thượng vụ trong lịch sử của Paul Nưr (1966), Hội đồng các sắc tộc - Một tân định chế dân chủ của nền đệ II Cộng hòa Việt Nam của Nguyễn Trắc Dĩ (1970), Miền Thượng Cao Nguyên của Cửu Long Giang và Toan Ánh (1974). Các công trình sau năm 1975 gồm sách của Vũ Đình Lợi, Bùi Minh Đạo và Vũ Thị Hồng (2000) về sở hữu đất đai; các nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Vân trên Tạp chí Nghiên cứu lịch sử (2003) và sách Chuyển biến kinh tế - xã hội Bắc Tây Nguyên (1945-1995) (2008); nghiên cứu của Nguyễn Duy Thụy (2010) và Trần Thị Hà (2010) về chính sách dinh điền, đồn điền và kiến điền Thượng tại Đắk Lắk. Về phía tài liệu nước ngoài và hồi ký, có công trình của William Colby (Một chiến thắng bị bỏ lỡ, 2007) phân tích chương trình "Phòng vệ xóm làng"; tài liệu của J. Schrock do Ban Nghiên cứu Quân đội Hoa Kỳ ấn hành (1966); công trình của nhà nhân chủng học Hickey về phát triển kinh tế - xã hội người Thượng và tổ chức FULRO; cùng các tác phẩm, hồi ký của Gabriel Kolko (1991), Robert McNamara (1995), Neil Sheehan (2003), George C. Herring và William Westmoreland (1998). Nhóm tài liệu này cung cấp cơ sở để làm rõ bản chất các thủ đoạn chính trị, quân sự của đối phương ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Nhóm thứ ba: Các công trình nghiên cứu về đấu tranh chính trị ở Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Gồm các công trình lịch sử chiến trường như Khu 5 - 30 năm chiến tranh giải phóng, Tập II (1989), Lịch sử Khu 6 kháng chiến chống Mỹ (1954-1975), Lịch sử Đảng bộ Quân khu 5 (1946-2010); các công trình của Viện Lịch sử Đảng và Hội đồng biên soạn lịch sử Nam Trung Bộ (1992, 1999); Lịch sử Đảng bộ các tỉnh Kon Tum (1998), Gia Lai (2009), Đắk Lắk (2003), Lâm Đồng (2008), Đắk Nông (2006); lịch sử các thị xã Buôn Ma Thuột (1994), Đà Lạt (1994), Pleiku (1994, 2006); các tổng kết công tác binh vận tỉnh Gia Lai (1998), Kon Tum, Đắk Lắk (2001). Cùng với đó là luận văn thạc sĩ của Nguyễn Vĩnh Phúc (2007) về học sinh - sinh viên Đà Lạt, luận văn và bài báo của Nguyễn Thị Minh Lương (2009) về đấu tranh chính trị ở Đắk Lắk và Buôn Ma Thuột; tham luận của Nguyễn Hữu Trí tại hội thảo Buôn Ma Thuột (2004); các tham luận của Trần Thế Việt, Hồ Hiếu, Bùi Thị Nga (Sáu Nga) tại hội thảo Đà Nẵng (2012) về phong trào Đà Lạt năm 1966 và Nhóm "AQ" (Đoàn Thanh niên Ái Quốc Việt Nam).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình địa phương trước đây chỉ đề cập phong trào đấu tranh chính trị một cách giản lược trong dòng chảy lịch sử chung, số liệu trích dẫn chưa đầy đủ và nguồn gốc thiếu đối sánh hai phía. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách: khảo cứu toàn diện, có hệ thống đấu tranh chính trị trên cả địa bàn nông thôn và đô thị của 5 tỉnh Tây Nguyên giai đoạn 1961-1968; kết hợp tư liệu lưu trữ của cách mạng và tài liệu lưu trữ của chính quyền Sài Gòn; phân tích làm rõ đặc điểm, vai trò của đấu tranh chính trị tại địa bàn miền núi trong thế trận "ba mũi giáp công" và rút ra các bài học kinh nghiệm.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý luận, luận án được thực hiện dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về chiến tranh cách mạng, chiến tranh nhân dân, bạo lực cách mạng kết hợp giữa đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị.
Về phương pháp nghiên cứu, luận án sử dụng hai phương pháp chủ yếu của khoa học lịch sử:
- Phương pháp lịch sử: Dùng để tái hiện các phong trào đấu tranh chính trị theo tiến trình thời gian và các giai đoạn phát triển cụ thể (1961-1965 và 1965-1968), làm rõ hoàn cảnh lịch sử, lực lượng tham gia, mục tiêu và diễn biến của từng phong trào.
- Phương pháp logic: Dùng để phân tích mối liên hệ bản chất giữa các sự kiện, so sánh trạng thái phát triển về chất giữa các giai đoạn, từ đó luận giải nguyên nhân, đúc rút các đặc điểm, vai trò và bài học kinh nghiệm mang tính quy luật.
- Phương pháp bổ trợ: Phân tích, tổng hợp, so sánh và các phương pháp liên ngành (điền dã khảo sát thực địa tại các di tích, quan sát bảo tàng, thống kê xử lý tư liệu, phỏng vấn nhân chứng lịch sử).
Về nguồn tư liệu, tác giả khai thác từ ba nhóm dữ liệu chính:
- Tài liệu xuất bản: Các văn kiện Đảng, Nhà nước, tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh; các công trình nghiên cứu, bài báo khoa học trong và ngoài nước.
- Tài liệu lưu trữ:
- Hồ sơ, chỉ thị, nghị quyết của cách mạng tại Trung tâm Lưu trữ các tỉnh Tây Nguyên, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Bộ Chỉ huy Quân sự, Bảo tàng các tỉnh Tây Nguyên; Trung tâm Lưu trữ Bộ Tư lệnh Quân khu V, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam và Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.
- Tài liệu của chính quyền Sài Gòn và cơ quan Mỹ bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (Thành phố Hồ Chí Minh), bao gồm báo cáo, công điện, tờ trình của các Tỉnh trưởng Cao nguyên Trung phần, Phủ Thủ tướng, Bộ Phát triển sắc tộc, Phủ Tổng ủy Dinh điền và Tòa Đại biểu Chính phủ tại Cao nguyên Trung phần.
- Tài liệu điền dã: Khảo sát thực địa các di tích lịch sử phong trào đấu tranh tại Pleiku, Buôn Ma Thuột, Đà Lạt và phỏng vấn các nhân chứng lịch sử từng trực tiếp tham gia hoặc chỉ đạo phong trào.
Nội dung chính theo từng chương
Bố cục nội dung của luận án gồm phần Mở đầu (6 trang), 4 chương nội dung (139 trang), phần Kết luận (5 trang), Danh mục công trình của tác giả (1 trang) và Tài liệu tham khảo (17 trang).
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu
Chương 1 (19 trang, từ trang 9 đến 27) hệ thống hóa các tài liệu liên quan đến đề tài theo 3 nhóm vấn đề chính: nghiên cứu về đấu tranh chính trị trong kháng chiến chống Mỹ; chính sách của Mỹ và chính quyền Sài Gòn đối với Tây Nguyên; đấu tranh chính trị của nhân dân Tây Nguyên. Tác giả đánh giá thành tựu và hạn chế của các công trình đi trước, đồng thời xác lập 4 vấn đề trọng tâm mà luận án trực tiếp giải quyết: hệ thống hóa âm mưu, chính sách của đối phương từ góc nhìn đa chiều; tái hiện chi tiết phong trào đấu tranh ở nông thôn và đô thị qua các mốc 1961-1965, 1965-1967 và 1968; xác định các đặc điểm riêng của đấu tranh chính trị vùng đồng bào thiểu số; đúc kết vai trò và bài học kinh nghiệm cho thế trận an ninh - quốc phòng.
Chương 2: Đấu tranh chính trị ở Tây Nguyên giai đoạn 1961-1965
Chương 2 (35 trang, từ trang 27 đến 58) tập trung làm rõ các yếu tố tác động, bối cảnh lịch sử và diễn biến phong trào đấu tranh chính trị thời kỳ chống chiến lược "Chiến tranh đặc biệt":
- Yếu tố tự nhiên và kinh tế - xã hội: Địa hình Tây Nguyên phân bậc rõ rệt từ 250m đến 2.600m (với các đỉnh Ngọc Linh 2.598m, Chư Yang Sin 2.167m, cùng các cao nguyên Kon Plong, Pleiku, Đắk Lắk, Di Linh), khí hậu nhiệt đới gió mùa phân hóa sâu sắc hai mùa mưa - nắng. Mạng lưới giao thông chiến lược gồm Đường 14, Đường 19 và Đường 21. Địa hình phức tạp và dân cư thưa thớt, sống tự cung tự cấp khiến phong trào đấu tranh khó tập trung đông người, quy mô cuộc đấu tranh thường không lớn như ở đồng bằng; lực lượng sinh viên - học sinh mỏng do ít trường học, công nhân đồn điền phân tán. Đối phương lợi dụng điều kiện kinh tế thiếu thốn để thực hiện viện trợ, mua chuộc và chiến tranh tâm lý.
- Truyền thống yêu nước và thực tiễn trước năm 1961: Điểm lại các cuộc khởi nghĩa chống Pháp của Ama Jhao (1890, 1905), N'Trang Gưh (1900-1914), N'Trang Lơng (1912-1935), phong trào của Y Jút (1925-1926), phong trào Nước Xu của Săm Brăm (1935-1939), cùng hệ thống làng chiến đấu Stơr, Xốp Dìu, Dlei Ya, Ya Hội trong kháng chiến chống Pháp. Giai đoạn 1954-1960, quần chúng đấu tranh đòi chồng con đi lính trở về, đòi hiệp thương tổng tuyển cử (nổi bật tại Đà Lạt tháng 8-1955 với hơn 300 tiểu thương bãi thị; Cheo Reo cuối năm 1955 với 1.400 người vây ép quận trưởng). Đồng bào vận dụng phong tục tập quán để chống "tố cộng" (lấy cớ sợ "Yang" bắt tội, sợ "màu đỏ là màu máu" để không xé cờ Đảng, làm lễ bỏ mả và lập mộ giả cho cán bộ); đấu tranh chống cướp đất lập dinh điền (điển hình tại Tây Gia Lai với 40.000 người ở 143 làng tham gia). Phong trào Đồng khởi 1960 làm tan rã bộ máy tay sai ở 3.200 buôn làng trên tổng số 5.721 thôn, buôn toàn vùng.
- Chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" và các chính sách của Mỹ - CQSG: Mỹ tăng cường quân số và triển khai chương trình "Phòng vệ xóm làng" (VDP) do CIA và David A. Nuttle khởi xướng, thực hiện thí điểm tại Buôn Ea Nao (Đắk Lắk) từ tháng 10-1961, sau đó chuyển giao cho Lực lượng Đặc biệt Mỹ thành chương trình Dân sự chiến đấu (CIDG), lập các trung tâm huấn luyện tại Plei Mơrông, Chud’rong, Ea Nao, Đam Pao, Tân Rai và lồng ghép vào quốc sách ấp chiến lược.
- Phong trào đấu tranh nông thôn và đô thị: Quần chúng nông thôn đấu tranh quyết liệt chống càn quét, chống dồn dân và phá ấp chiến lược. Cấu trúc ấp chiến lược kiên cố với hệ thống hào chông "hai sông, ba núi", rào liên gia, hầm chữ chi ngụy trang dưới chuồng trâu, nhà bếp; việc kiểm soát gắt gao giờ giấc (mở cổng 8 giờ sáng, đóng cổng 17 giờ chiều, bắt úp gùi kiểm tra). Ở đô thị, phong trào tập trung đòi dân sinh, dân chủ, chống bắt lính và tố cáo tội ác chiến tranh.
Bảng tổng hợp một số số liệu quân sự và dồn dân giai đoạn 1961-1963 được ghi nhận trong luận án:
| Địa bàn / Lực lượng |
Thời gian |
Dữ liệu ghi nhận từ văn bản luận án |
| Tỉnh Gia Lai |
1961 - 1963 |
Quân đội Sài Gòn tăng từ 17.000 quân (1961) lên 27.585 quân (1963), gồm 2 trung đoàn, 13 tiểu đoàn, 8 đại đội. |
| Tỉnh Gia Lai |
1962 - 1963 |
Đối phương mở 629 cuộc càn quét (có 283 cuộc quy mô cấp tiểu đoàn trở lên). |
| Tỉnh Kon Tum |
1961 |
Đồn trú Sư đoàn bộ binh 22 (thị xã Kon Tum), Trung đoàn 40 (Tân Cảnh); quân địa phương có 1.091 quân, bảo an 885 quân, dân vệ 300 quân, 1.656 thanh niên Cộng hòa. |
| Tỉnh Đắk Lắk |
1962 |
Khu chiến thuật 23, Sư đoàn 23, Trung đoàn 45; mức tuyển mộ tối đa bảo an và dân vệ khoảng 5.000 quân. |
| Tỉnh Tuyên Đức |
1961 - 1963 |
3 tiểu đoàn bảo an, 1.120 thanh niên chiến đấu, 834 lính Mỹ (cố vấn, công binh, pháo binh, biệt kích). |
| Thí điểm Buôn Ea Nao (giai đoạn 1) |
12/1961 - 4/1962 |
Triển khai ở 40 buôn làng Êđê; dân số 14.000 người; 300 biệt kích (Strike forces), 900 dân sự chiến đấu (villagers). |
| Thí điểm Buôn Ea Nao (giai đoạn 2) |
4/1962 - 12/1962 |
Mở rộng thêm 200 buôn làng Êđê; dân số 60.000 người; 1.500 biệt kích, 10.000 dân sự chiến đấu; cấp phát 18.000 khẩu súng. |
| Thung lũng sông Krông Knô |
10/1962 |
Cuộc hành quân An Lạc cưỡng ép di chuyển 12.674 đồng bào dân tộc thiểu số quận Lắk về quận Lạc Dương và Đức Trọng. |
| Toàn miền Nam (kế hoạch bình định) |
Đến 10/1963 |
Chính quyền Sài Gòn đã lập được 1.000 ấp chiến lược (theo trích dẫn của tác giả). |
Chương 3: Đấu tranh chính trị ở Tây Nguyên giai đoạn 1965-1968
Chương 3 (45 trang, từ trang 58 đến 94) phân tích giai đoạn đối đầu trực diện khi quân viễn chinh Mỹ trực tiếp tham chiến:
- Bối cảnh: Mỹ chuyển sang chiến lược "Chiến tranh cục bộ", đưa quân đội viễn chinh và quân đồng minh trực tiếp đổ bộ vào Tây Nguyên; củng cố các căn cứ quân sự, đẩy mạnh bình định gom dân và thành lập các tổ chức chính trị như FULRO nhằm lôi kéo đồng bào thiểu số.
- Đấu tranh chính trị ở đô thị (1965-1967): Tiêu biểu là cao trào đấu tranh tại thị xã Đà Lạt năm 1966. Phong trào do lực lượng sinh viên - học sinh, trí thức, tiểu thương và Phật tử phát động, với lực lượng nòng cốt là Nhóm "AQ" (Đoàn Thanh niên Ái Quốc Việt Nam) do Hồ Hiếu phụ trách. Quần chúng biểu tình bãi khóa, bãi thị, chiếm giữ đài phát thanh và làm chủ nửa thành phố Đà Lạt suốt một thời gian, tạo thế hai chính quyền song song tồn tại giữa đô thị. Luận án cũng chỉ rõ khuyết điểm của phong trào: sự chỉ đạo của cấp ủy chưa kịp thời, xử lý phương châm bí mật và công khai chưa tốt, đội an ninh có lúc có thái độ kiêu binh gây phiền hà cho nhân dân và thiếu phương án rút lui an toàn khi phong trào thoái trào.
- Đấu tranh chính trị ở nông thôn (1965-1967): Diễn ra phong trào chống càn quét, chống bắn phá buôn làng, nương rẫy bằng chất độc hóa học và bom đạn; quần chúng kiên quyết bám đất giữ làng, phá từng mảng ấp chiến lược, phá vỡ kế hoạch gom dân của đối phương.
- Đấu tranh chính trị trong Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968: Quần chúng nông thôn phối hợp với lực lượng vũ trang tiến hành "nhập thị". Tại Buôn Ma Thuột, các đoàn biểu tình chính trị từ ba hướng Đông, Bắc và Nam tiến vào thị xã; nhân dân các Ấp 3, 4 và 5 khu vực trung tâm phối hợp dẫn đường, tiếp tế và nổi dậy phá rã bộ máy kìm kẹp cơ sở. Các phong trào tương tự cũng diễn ra tại thị xã Kon Tum, Pleiku và Đà Lạt.
Chương 4: Đặc điểm, vai trò và bài học kinh nghiệm
Chương 4 (30 trang, từ trang 94 đến 141) tổng kết toàn diện thực tiễn đấu tranh thành ba nội dung lớn:
- Ba đặc điểm của đấu tranh chính trị ở Tây Nguyên:
- Có sự tham gia đông đảo của đồng bào các dân tộc thiểu số (Êđê, J'rai, Ba Na, Xơ Đăng, M'Nông...), là lực lượng chủ yếu của phong trào cách mạng miền núi.
- Hình thức và biện pháp đấu tranh phong phú, đa dạng: kết hợp đấu tranh hợp pháp, nửa hợp pháp với bất hợp pháp; sử dụng lý lẽ pháp lý kết hợp chặt chẽ với phong tục, tập quán buôn làng để phản kháng kìm kẹp.
- Quy mô mỗi cuộc đấu tranh thường không lớn do đặc thù địa bàn bị chia cắt hiểm trở, mật độ dân cư thưa thớt, các đô thị có quy mô nhỏ.
- Ba vai trò lịch sử:
- Góp phần trực tiếp đánh bại chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" và "Chiến tranh cục bộ" của Mỹ tại chiến trường Tây Nguyên thông qua việc làm phá sản quốc sách ấp chiến lược và kìm giữ quân chủ lực đối phương.
- Tăng cường khối đại đoàn kết, gắn bó giữa đồng bào các dân tộc thiểu số với nhau và giữa đồng bào Thượng với đồng bào Kinh.
- Khẳng định vai trò to lớn, vị trí quan trọng của đấu tranh chính trị trong phương châm "hai chân, ba mũi giáp công" (quân sự, chính trị, binh vận) trên một địa bàn chiến lược rừng núi.
- Ba bài học kinh nghiệm:
- Phát huy vai trò của các già làng, trưởng buôn, người có uy tín để giác ngộ và tập hợp quần chúng nhân dân.
- Quan tâm xây dựng, củng cố và phát triển tổ chức cơ sở Đảng cùng các đoàn thể quần chúng phù hợp với điều kiện thực tế miền núi.
- Bám dân, hiểu dân và tôn trọng lợi ích thiết thực của nhân dân; phát huy quyền làm chủ buôn làng của đồng bào.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt học thuật và thực tiễn, luận án tự xác định ba đóng góp mới:
- Thứ nhất, tái hiện bức tranh tổng thể, có hệ thống về phong trào đấu tranh chính trị ở Tây Nguyên chống cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới của đế quốc Mỹ từ năm 1961 đến năm 1968, lấp đầy khoảng trống nghiên cứu chuyên khảo về địa bàn này.
- Thứ hai, khẳng định vai trò của đấu tranh chính trị với tư cách là một trong hai hình thức đấu tranh cơ bản trên chiến trường rừng núi. Rút ra các bài học kinh nghiệm về xây dựng cơ sở chính trị, công tác vận động quần chúng để vận dụng vào quá trình hoạch định chính sách dân tộc, củng cố thế trận quốc phòng - an ninh trên địa bàn Tây Nguyên hiện nay.
- Thứ ba, bổ sung khối tư liệu lịch sử được khai thác đối chiếu từ cả hai phía (tài liệu cách mạng và tài liệu lưu trữ của chính quyền Sài Gòn tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II); cung cấp tài liệu phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy lịch sử và giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ.
Về kiến nghị và giải pháp thực tiễn, tác giả nhấn mạnh việc tiếp tục kế thừa bài học "bám dân, hiểu dân", phát huy vai trò của già làng, trưởng buôn trong hệ thống chính trị cơ sở hiện nay; cảnh giác trước các thủ đoạn kích động hằn thù dân tộc của các thế lực thù địch nhằm bảo đảm an ninh chính trị vùng Tây Nguyên.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, do giới hạn phạm vi nghiên cứu, luận án dừng lại ở mốc cuối năm 1968, chưa bao quát toàn bộ tiến trình đấu tranh chính trị đến năm 1975 (thời kỳ "Việt Nam hóa chiến tranh"). Địa bàn nghiên cứu tập trung vào 5 tỉnh chiến trường Tây Nguyên nên tư liệu về các vùng giáp ranh, tuyến hành lang vận tải chiến lược giáp Lào và Campuchia chưa được đào sâu tương xứng. Nguồn tư liệu lưu trữ của chính quyền Sài Gòn ở một số quận vùng sâu chưa thật đồng đều do tình trạng thất lạc tài liệu chiến tranh.
Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo cứu đấu tranh chính trị ở Tây Nguyên giai đoạn 1969-1975 để hoàn thiện bức tranh toàn diện suốt 21 năm kháng chiến chống Mỹ; so sánh đối chiếu sâu hơn mô hình tổ chức đấu tranh chính trị giữa chiến trường Tây Nguyên với các căn cứ miền núi khác như Trị Thiên hoặc miền Tây Khu V.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật đối với:
- Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam và Lịch sử Quân sự khi tìm hiểu về nghệ thuật chiến tranh nhân dân, hình thái bạo lực cách mạng kết hợp quân sự với chính trị tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
- Cán bộ làm công tác nghiên cứu lịch sử địa phương tại các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng; cán bộ tham mưu công tác dân tộc, tôn giáo và an ninh - quốc phòng trên địa bàn Tây Nguyên.
- Phần đáng tham khảo nhất là các mục phân tích chính sách bình định, chương trình "Phòng vệ xóm làng", cấu trúc ấp chiến lược (Chương 2) và hệ thống bài học kinh nghiệm về phát huy vai trò già làng, xây dựng cơ sở Đảng vùng miền núi (Chương 4).
Câu hỏi thường gặp
1. Chương trình "Phòng vệ xóm làng" (Village Defense Program - VDP) của Mỹ được triển khai thí điểm như thế nào tại Tây Nguyên?
Chương trình VDP được cơ quan tình báo Mỹ (CIA) và David A. Nuttle khởi xướng, bắt đầu thí điểm ngày 1-10-1961 tại Buôn Ea Nao (Đắk Lắk) - một buôn người Êđê cách thị xã Buôn Ma Thuột 10 km. Từ tháng 12-1961 đến tháng 4-1962, chương trình mở rộng ra 40 buôn làng Êđê với 14.000 dân, huấn luyện 300 biệt kích và 900 nhân dân chiến đấu. Từ tháng 4 đến tháng 12-1962, chương trình tiếp tục mở rộng tới 200 buôn khác với 60.000 dân, tuyển 1.500 biệt kích, 10.000 dân sự chiến đấu và cấp 18.000 khẩu súng, trước khi được chuyển giao cho Lực lượng Đặc biệt Mỹ và sáp nhập vào hệ thống ấp chiến lược.
2. Nhân dân Tây Nguyên đã vận dụng phong tục, tập quán như thế nào để đấu tranh chống chiến dịch "tố cộng" của chính quyền Ngô Đình Diệm?
Quần chúng được cán bộ cách mạng hướng dẫn dựa vào tập quán tâm linh để từ chối các hành vi chống phá cách mạng, như nại lý do sợ "Yang" phạt tội, sợ "màu đỏ là màu máu" để không xé cờ Đảng, không xé ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, không đâm hình nộm cộng sản; viện cớ không biết chữ để không viết giấy ly khai; đồng thời phao tin cán bộ đã đi tập kết, bị cọp vồ, trôi sông hoặc tổ chức lễ bỏ mả, lập mộ giả để bảo vệ cán bộ nằm vùng.
3. Ấp chiến lược ở Tây Nguyên được đối phương xây dựng với quy mô và cấu trúc phòng thủ ra sao?
Các ấp chiến lược kiên cố được rào bằng 3 lớp kẽm gai và cọc gỗ, gài mìn vướng nổ, xen kẽ hai hệ thống hào cắm chông sâu từ 2 đến 5m (gọi là "hai sông, ba núi"). Bên trong chia thành các cụm liên gia 5-7 hộ có rào riêng cao 1,5m; quanh các lối đi đào hầm chữ chi ngụy trang dưới chuồng trâu, nhà bếp để phòng thủ. Cổng ấp chỉ mở từ 8 giờ sáng đến 17 giờ chiều, người dân khi ra khỏi ấp phải úp gùi xuống để lính gác kiểm tra nhằm ngăn chặn tiếp tế cho cách mạng.
4. Phong trào đấu tranh đô thị Đà Lạt năm 1966 có diễn biến và lực lượng nòng cốt nào đáng chú ý?
Phong trào bùng nổ từ tháng 3 đến tháng 6-1966, thu hút đông đảo sinh viên - học sinh, Phật tử và tiểu thương tham gia. Lực lượng nòng cốt là Nhóm "AQ" (Đoàn Thanh niên Ái Quốc Việt Nam) do Hồ Hiếu phụ trách. Quần chúng đã tiến hành biểu tình, bãi thị, bãi khóa, chiếm đài phát thanh và làm chủ nửa thị xã Đà Lạt suốt nhiều tuần, hình thành trạng thái hai chính quyền song song tồn tại ngay tại trung tâm đô thị.
5. Những bài học kinh nghiệm lớn nhất được luận án đúc rút từ phong trào đấu tranh chính trị ở Tây Nguyên là gì?
Luận án đúc kết ba bài học kinh nghiệm cơ bản: một là phát huy vai trò của các già làng, trưởng buôn để tập hợp lực lượng quần chúng; hai là quan tâm xây dựng, phát triển tổ chức cơ sở Đảng và các đoàn thể phù hợp với điều kiện thực tế miền núi; ba là bám dân, hiểu dân, tôn trọng lợi ích và phát huy quyền làm chủ của đồng bào các dân tộc.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Thị Lan là công trình khảo cứu chuyên sâu, tái hiện có hệ thống tiến trình đấu tranh chính trị của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên trong hai giai đoạn chống chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" và "Chiến tranh cục bộ" (1961-1968). Dựa trên nguồn tư liệu lưu trữ đa dạng từ cả phía cách mạng lẫn tài liệu của đối phương tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, tác giả đã làm rõ quy mô, phương thức đấu tranh chống dồn dân, phá ấp chiến lược và phong trào đô thị. Công trình khẳng định đấu tranh chính trị là mũi tiến công cơ bản hợp thành thế trận chiến tranh nhân dân ở vùng rừng núi, đồng thời đúc kết những bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn đối với công tác dân tộc và thế trận an ninh - quốc phòng tại Tây Nguyên hiện nay.