Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG VÀ VAI TRÒ CỦA DÂN QUÂN DU KÍCH LÀO TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ GIAI ĐOẠN 1964-1968 1. Tình hình thế giới và khu vực LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân các bộ tộc Lào diễn ra trong thời kỳ cao điểm của “Chiến tranh lạnh” giữa hai siêu cường Mỹ và Liên Xô. Việc giải quyết vấn đề các nước phát xít và khu vực phát xít chiếm đóng, thành lập tổ chức Liên hợp quốc và phân chia phạm vi ảnh hưởng của các nước thắng trận tại Hội nghị Ianta đã tạo ra khuôn khổ của một trật tự thế giới mới, hoàn toàn khác trước (không còn hoàn toàn bị chủ nghĩa đế quốc chi phối, mà đã có sự tham gia tích cực của các lực lượng dân chủ đứng đầu là Liên Xô và việc giải quyết các vấn đề an ninh thế giới dựa trên cơ chế an ninh tập thể thông qua Liên hợp quốc). Khuôn khổ trật tự thế giới này chịu sự chi phối sâu sắc của hai siêu cường Mĩ và Liên Xô.
Thế giới phân thành hai cực (hai phe): TBCN và XHCN - hiện tượng đầu tiên trong lịch sử thế giới. Ở châu Âu có sự phân chia hai cực rõ ràng, phân định chặt chẽ - Đông Âu: ảnh hưởng của Liên Xô - XHCN, Tây Âu ảnh hưởng của Mỹ - TBCN. Tuy nhiên ở châu Á: Tình hình không hẳn như thế, nó đã bị “vi phạm” ngay từ đầu và tình hình trong khu vực diễn ra ngày càng có chiều hướng khác với sự đối đầu của hai phe: Theo thoả thuận giữa Anh, Mỹ, Liên Xô tại Ianta thì Trung Quốc sẽ là “khu đệm”, một chính phủ liên hiệp sẽ được thành lập trong đó có Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch và sự tham gia của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Cuộc đàm phán Quốc - Cộng đã diễn ra và hai bên kí Hiệp định song thập (ngày 10 tháng 10 năm 1945).
Nhưng chưa đầy một năm sau, tháng 7 năm 1946 cuộc nội chiến lần thứ ba bùng nổ. Tình hình Trung Quốc đã không diễn ra như sự sắp đặt của 2 siêu cường Liên Xô và Mỹ. Đối với các khu vực Đông Nam Á, Nam Á, Tây Á: Ba cường quốc cũng thoả thuận khu vực này vẫn thuộc phạm vi ảnh hưởng truyền thống của các nước phương Tây, vẫn chấp nhận nền thống trị thuộc địa của các nước thực dân phương Tây. Ngay sau khi được tin phát xít Nhật đầu hàng, các dân tộc Đông Nam Á đã nhanh chóng nổi dậy giành chính quyền, tuyên bố độc lập và lập nên những Nhà nước mới, tiêu biểu có Inđônêxia, Việt Nam, Lào.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như một phản ứng dây chuyền, làn sóng đấu tranh giải phóng dân tộc đã lan nhanh sang Nam Á, Tây Á, tới châu Phi. Sau đó các dân tộc Đông Nam Á đã kiên cường tiến hành các cuộc kháng chiến chống thực dân tái xâm lược, các nước đế quốc phương Tây cuối cùng đã phải tuyên bố công nhận, trao trả độc lập cho các dân tộc, trong đó có Lào. Các dân tộc châu Á đã không cam chịu chấp nhận cái khu vực “phạm vi ảnh hưởng truyền thống của các nước tư bản phương Tây” như một thiết chế của trật tự hai cực. Phong trào giải phóng dân tộc đã trực tiếp làm suy yếu chủ nghĩa đế quốc thực dân phương Tây - một cực trong “Trật tự Ianta” và thực tế đã là một nhân tố làm rạn nứt, xói mòn quyền lực đưa tới sự sụp đổ của trật tự hai cực Ianta.
Nhưng mặt khác, cũng cần nhìn nhận một sự thật lịch sử đã diễn ra: Trong bối cảnh thế giới hai cực, một số nước sau khi giành được độc lập bị cuốn hút theo cực này cực kia, phe này phe kia trong trật tự thế giới hai cực. Khu vực Đông Nam Á là một tiêu biểu. Thậm chí là chiến trường của “Chiến tranh lạnh” trong nhiều thập niên. Mối quan hệ Liên Xô và Mỹ là nhân tố chi phối chủ yếu quan hệ quốc tế trong thời kỳ này.
Sự mâu thuẫn giữa hai siêu cường Xô-Mỹ càng trở nên quyết liệt với việc thành lập hai khối quân sự NATO - VACSAVA. Đây là hai khối quân sự lớn nhất toàn cầu do Mỹ và Liên Xô đứng đầu, đối địch nhau, đều chạy đua vũ trang, trang bị những vũ khí hiện đại để tăng cường sức mạnh của mỗi bên. Sự kình địch và chạy đua vũ trang của hai khối quân sự này là cuộc đối đầu chính của “Chiến tranh lạnh” trong nửa cuối thế kỷ XX, đã làm cho tình hình thế giới ngày càng căng thẳng. Thế giới hình thành hai phe chống đối nhau gay gắt là phe các nước XHCN và phe các nước TBCN.
Đứng đầu trong phe TBCN là Mỹ thì thực hiện hàng loại các chiến lược toàn cầu, mở rộng sự ảnh hưởng ra toàn khu vực châu Á nói chung và Đông Nam Á nói riêng. Mỹ trở thành nước tư bản giàu mạnh nhất độc quyền về vũ khí nguyên tử, tự cho mình có quyền lãnh đạo thế giới. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Liên Xô đứng đầu phe XHCN cũng theo đuổi mục tiêu cân bằng chiến lược với Mỹ. Địa vị của Liên Xô được nâng cao.
Liên Xô là nước XHCN hùng mạnh nhất thế giới (trở thành một trong hai cực của “Trật tự Ianta”) là thành trì của hoà bình và là chỗ dựa cho phong trào cách mạng thế giới. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng tìm mọi cách để vươn lên thành cường quốc đứng sau Mỹ và Liên Xô. Trong khi đó, các nước phương Tây (do Mỹ cầm đầu) đã thực hiện chính sách thù địch với Liên Xô, bao vây kinh tế chuẩn bị cuộc chiến tranh tổng lực nhằm tiêu diệt Liên Xô và các nước CNXH. Tuy nhiên, trong bối cảnh thế giới hai cực, quan hệ Liên Xô - Mỹ, quan hệ giữa hai phe, mặc dù mâu thuẫn, nhưng vẫn phụ thuộc và kiềm chế nhau, đều thực hiện chiến lược phòng ngự, đều tránh đụng đầu trực tiếp với nhau.
Vì thế, về đại cục, hòa bình thế giới được duy trì trong suốt thời kỳ “Chiến tranh lạnh” và cả sau đó. Tình hình thế giới xuất hiện một luồng gió mới, đó là phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của các nước thứ ba ngày một lên cao ở khắp châu Á, châu Phi và Mỹ La tinh; các nước sau khi hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, đã tuyên bố đi lên CNXH cùng với Liên Xô hợp thành một hệ thống XHCN hùng mạnh, dẫn đến sự ra đời của Phong trào không liên kết. Những thành tựu xây dựng CNXH trong những năm 50 - 60 đã thu hút sự chú ý của thế giới và tác động tới chiều hướng phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới. Ảnh hưởng của CNXH ngày càng lớn, CNXH là chỗ dựa tin cậy của phong trào đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Phòng trào không liên kết đã tập hợp các nước tham gia vào phong trào đấu tranh cho hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới, đã tạo ra cán cân cân bằng về so sánh lực lượng trong quan hệ quốc tế, có lợi cho trào lưu cách mạng thế giới. Các tầng lớp nhân dân, các tổ chức chính trị, xã hội, tôn giáo của các nước đều ủng hộ sự nghiệp chính nghĩa của các dân tộc. Đó là những thuận lợi, hỗ trợ cho phong đấu tranh chống Mỹ, cứu nước của quân và dân các bộ tộc Lào. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ở khu vực châu Á nói chung và Đông Nam Á nói riêng, Tổng thống Mỹ Giônsơn sau khi lên cầm quyền tiếp tục mở rộng chiến tranh xâm lược đối với các nước như Việt Nam, Campuchia và Lào.
Ở Việt Nam, Mỹ ra sức củng cố chính quyền và quân đội Việt Nam cộng hòa, đưa thêm cố vấn Mỹ vào miền Nam Việt Nam, đẩy mạnh kế hoạch bình định, trọng tâm là dồn dân lập “ấp chiến lược”; ở miền Bắc Việt Nam đế quốc Mỹ dựng lên sự kiện Vịnh Bắc bộ và tăng cường không quân và hải quân đánh phá, ngăn chặn nguồn chi viện vào miền Nam, uy hiếp tinh thần nhân dân ta. Đối với Campuchia, Mỹ thực hiện chính sách mua chuộc Hoàng thân Sihanouk, nhưng Mỹ đã thất bại liên tiếp trong các kế hoạch can thiệp và xâm lược, Chính phủ Vương quốc và nhân dân Campuchia không chấp nhận viện trợ của Mỹ và vẫn giữ được nền trung lập. Như vậy, trong những năm 1964-1968, tình hình thế giới và khu vực có nhiều thuận lợi, nhưng cũng tiềm ẩn nhiều khó khăn, phức tạp, ảnh hưởng đến hoạt động xây dựng và tác chiến của nhân dân và LLVT Lào nói chung và của lực lượng DQDK Lào nói riêng. Sự điều chỉnh chiến lược của Mỹ trong chiến tranh Đông Dương và ở Lào Chiến lược chiến tranh của Mỹ thực hiện ở Việt Nam, Lào và Campuchia sau Chiến tranh thế giới thứ hai chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn 1945-1954 là hình thức xâm lược thực dân kiểu cũ và giai đoạn 1954-1975 là hình thức xâm lược thực dân kiểu mới.
Nói cách khác, chiến tranh xâm lược thực dân là hình thức chủ yếu mà chủ nghĩa đế quốc đã sử dụng ở khu vực Đông Dương. Đó là một đặc điểm và cũng là một nét khác biệt so với nhiều quốc gia khác ở khu vực Đông Nam Á và các khu vực khác ở châu Á Châu Phi và Mỹ La Tinh thời kỳ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Ở Việt Nam, đế quốc Mỹ sau khi thực hiện chiến lược “Chiến tranh đơn phương” (1954 - 1960), “Chiến tranh đặc biệt” (1961 - 1965) thì đến đầu năm 1965, trước nguy cơ phá sản hoàn toàn của chiến lược “Chiến tranh đặc LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com biệt”, nhà Trắng quyết định thay đổi chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” thành chiến lược “Chiến tranh cục bộ” ở miền Nam và mở rộng “chiến tranh phá hoại” miền Bắc. “Chiến tranh cục bộ” là loại hình chiến tranh xâm lược thực dân mới nằm trong chiến lược quân sự toàn cầu “phản ứng linh hoạt” của Mỹ.
“Chiến tranh cục bộ” được tiến hành bằng lực lượng của quân viễn chinh Mỹ, quân “đồng minh” và quân ngụy tay sai ở miền Nam, trong đó quân Mỹ giữ vai trò quan trọng và không ngừng tăng lên về số lượng và trang bị, nhằm chống lại các lực lượng cách mạng Việt Nam. Thủ đoạn là tăng cường đội quân viễn chinh Mỹ và đồng minh vào Việt Nam, dựa vào ưu thế lực lượng và vũ khí hiện đại thực hiện chiến thuật hai gọng kìm “tìm diệt” và “bình định” vào căn cứ kháng chiến của Việt Nam.