Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp cử nhân sư phạm ngành Lịch sử mang tên "Góp phần tìm hiểu căn cứ cách mạng Lộc Ninh trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975)" được tác giả Hà Thị Vân Anh thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS. Dương Văn Huê tại Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (khóa 2004 - 2008, nghiệm thu tháng 5/2008).

Về bối cảnh thực tiễn và lý do chọn đề tài, tác giả chỉ ra rằng thắng lợi của cuộc kháng chiến 30 năm (kết thúc ngày 30/4/1975) bắt nguồn từ những bước ngoặt quân sự - chính trị mang tính quyết định, trong đó Chiến thắng Phước Long đầu năm 1975 đã tạo cơ sở thực tiễn để Hội nghị Bộ Chính trị (ngày 25/3/1975) và Nghị quyết 15 của Trung ương Cục miền Nam hạ quyết tâm giải phóng miền Nam trước mùa mưa năm 1975. Gắn liền với sự đột biến chiến lược đó là vị trí đặc biệt của vùng đất Lộc Ninh. Sau Hiệp định Paris năm 1973, Lộc Ninh trở thành vùng giải phóng hoàn chỉnh, là "thủ phủ" của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, nơi đặt căn cứ của Bộ đội Chủ lực và Bộ Chỉ huy Miền, đồng thời là điểm cuối của tuyến hành lang vận tải chiến lược Trường Sơn (Đường Hồ Chí Minh). Tuy nhiên, việc nghiên cứu về Lộc Ninh ở cấp độ địa phương tỉnh Bình Phước cũng như trong toàn cảnh cuộc kháng chiến chống Mỹ vẫn còn những nội dung chưa được hệ thống hóa đầy đủ. Do đó, đề tài được thực hiện nhằm tái hiện bức tranh toàn cảnh về căn cứ địa này.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:

  1. Trình bày tổng quan về điều kiện tự nhiên, đặc điểm dân cư và truyền thống yêu nước, đấu tranh cách mạng của đồng bào các dân tộc thiểu số tại vùng đất Lộc Ninh.
  2. Phân tích quá trình xây dựng thế trận, phong tràu đấu tranh chính trị kết hợp vũ trang, chống gom dân lập "ấp chiến lược" của quân dân Lộc Ninh qua các giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1972.
  3. Làm rõ vị trí và vai trò của Lộc Ninh trong giai đoạn 1973 - 1975 khi trở thành căn cứ địa đầu não, hậu phương trực tiếp phục vụ các chiến dịch lớn, đỉnh cao là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Căn cứ cách mạng Lộc Ninh, quá trình xây dựng căn cứ địa và phong trào đấu tranh của quân dân địa phương trong mối liên hệ với chiến trường miền Đông Nam Bộ (chiến trường B2).
  • Phạm vi không gian: Địa bàn huyện Lộc Ninh (được xem xét qua các thời kỳ thuộc tỉnh Thủ Biên, tỉnh Bình Long, tỉnh Bình Phước và tỉnh Sông Bé).
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 1954 - 1975, tập trung làm rõ hai bước chuyển: thời kỳ 1954 - 1972 (từ vùng đứng chân xây dựng lực lượng tiến lên giải phóng hoàn toàn huyện) và thời kỳ 1973 - 1975 (Lộc Ninh với vai trò căn cứ địa trung tâm đầu não của cách mạng miền Nam).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được triển khai trên nền tảng phương pháp luận sử học Mác-xít và tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân, kết hợp chặt chẽ giữa hai phương pháp chuyên ngành là phương pháp lịch sử và phương pháp logic nhằm tái hiện các sự kiện theo trình tự thời gian đồng thời rút ra bản chất, quy luật vận động của phong trào cách mạng tại địa phương. Tác giả vận dụng các phương pháp cụ thể gồm: sưu tầm, tập hợp tư liệu; so sánh, đối chiếu, phân loại và tổng hợp nguồn sử liệu thành văn và lời kể của nhân chứng lịch sử.

Nguồn tư liệu của đề tài bao gồm bốn nhóm chính:

  • Văn kiện, nghị quyết của Đảng và tác phẩm của các nhà lãnh đạo cách mạng, tướng lĩnh trực tiếp chỉ đạo chiến trường như Tổng Bí thư Lê Duẩn, Thượng tướng Trần Văn Trà.
  • Các công trình nghiên cứu lịch sử chiến tranh nhân dân, lịch sử quân sự địa phương đã xuất bản: Lịch sử 30 năm chiến tranh nhân dân tỉnh Sông Bé (1945-1975) (Cao Hùng chủ biên), Lịch sử Bình Phước kháng chiến (Hồ Sơn Đài chủ biên), Lịch sử Bộ Chỉ huy Miền (1961-1976), Lịch sử chiến khu Đ, Địa chí tỉnh Sông Bé (Trần Bạch Đằng chủ biên), Vấn đề dân tộc ở Sông Bé (Mạc Đường chủ biên), Lộc Ninh lịch sử và truyền thống (Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Lộc Ninh, các ấn bản năm 1987 và 2001).
  • Nguồn tài liệu gốc, báo cáo tổng kết, hồ sơ di tích lưu trữ tại Bảo tàng tỉnh Bình Phước, Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Bình Phước, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bình Phước, Phòng Lịch sử Đảng, Ban Tổng kết Lịch sử thuộc Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Bình Phước và Phòng Khoa học Công nghệ Môi trường Quân khu 7.
  • Nguồn tư liệu chuyên ngành từ các hội thảo khoa học về vai trò của đồng bào các dân tộc thiểu số miền Đông Nam Bộ và lịch sử phong trào công nhân cao su Việt Nam.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Khái quát về tự nhiên và con người Lộc Ninh

Chương I trình bày cơ cấu tự nhiên, lịch sử hành chính, phân bố dân cư và truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm của các cộng đồng dân tộc tại Lộc Ninh:

  • Điều kiện tự nhiên: Lộc Ninh là huyện biên giới nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Bình Phước, có 175 km đường biên giới giáp Campuchia (các tỉnh Kratie, Mondulkiri, Kampong Cham) trên tổng số 240 km biên giới toàn tỉnh. Địa bàn được bao bọc bởi ba con sông lớn: sông Măng (phía Bắc), sông Bé (phía Đông) và sông Sài Gòn (phía Tây). Độ cao biến thiên từ 90m đến 222m, thoải dần từ Đông sang Tây, có hơn 20 con suối lớn nhỏ và các hồ tự nhiên (tiêu biểu như hồ Cầu Trắng rộng hàng chục hecta). Về giao thông, Quốc lộ 13 chạy xuyên suốt từ TP. Hồ Chí Minh qua Thủ Dầu Một lên Lộc Ninh nối sang Campuchia và Lào, kết nối với Quốc lộ 14 tạo nên vị trí bàn đạp quân sự xung yếu án ngữ cửa ngõ phía Bắc miền Đông Nam Bộ.
  • Lịch sử phân định hành chính và dân cư: Dấu tích cư trú của các nhóm cư dân tiền sử thuộc ngữ hệ Môn-Khmer (tổ tiên người S'tiêng, Mạ, M'nông, Khmer) có niên đại cách nay 2500 - 3000 năm. Đến đầu thế kỷ XIX, nhà Nguyễn thiết lập quản lý hành chính (năm 1808 thuộc huyện Phước Long, trấn Biên Hòa). Sau khi chiếm đóng năm 1861, thực dân Pháp biến Lộc Ninh thành tổng thuộc quận Cần Lê, rồi lập đại lý hành chính Hớn Quản (1906), đồn binh Bù Đốp (1906), đưa tư bản vào lập các đồn điền cao su lớn như Cexo (Xét-xô), Đắc Kia, Xa Cam, Xa Cát. Dưới thời chính quyền Ngô Đình Diệm, chính sách di dân cưỡng bức đưa đồng bào Công giáo di cư (xứ đạo Bùi Chu, Phát Diệm) lập các dinh điền Chu Ninh 1, 2, 3 (xã Thiện Hưng), Tích Thiện (xã Lộc Khánh) và đưa dân Khu 5 (Quảng Nam, Quảng Ngãi) lên nhằm tạo vành đai bảo vệ Sài Gòn từ xa. Theo số liệu đầu năm 2008, huyện Lộc Ninh có dân số 117.433 người, gồm 13 dân tộc thiểu số với 19.073 người (chiếm 16,3%), trong đó người S'tiêng (9.039 người) và Khmer (7.901 người) chiếm tỷ lệ chủ yếu.
  • Truyền thống yêu nước cách mạng của các dân tộc thiểu số: Tác giả liệt kê các phong trào tiêu biểu như liên minh khởi nghĩa Pô Cum Pô - Trương Quyền (1864); phong trào chống cướp đất lập đồn điền của thủ lĩnh Điều Dé (1908) thu hút người S'tiêng, Châu Ro, Mạ, Tà Mun; phong trào phối hợp giữa thủ lĩnh R'Đinh với nghĩa quân N'Trang Lơng (1912-1916); chiến công phục kích giết chết Quan đạo Gatille của R'Đinh (1924-1925) tại Bù Đốp. Trong kháng chiến chống Pháp, con em Lộc Ninh tham gia "Đội quân áo nâu" dưới sự chỉ huy của đồng chí Lê Đức Anh chiến đấu tại mặt trận Cầu Bến Phân (Hóc Môn, Gia Định) tháng 9/1945; trận đánh Bù Đốp tháng 3/1949 phá nhà tù giải thoát 60 người, tiêu diệt trọn một trung đội địch, thu 41 súng. Trong kháng chiến chống Mỹ, địa bàn ghi nhận sự ra đời của các đơn vị vũ trang dân tộc như Đội C568, Trung đội 290, Đại đội C31 (thành lập 1965-1966 với nòng cốt thanh niên dân tộc thiểu số), đóng góp lương thực của đồng bào Sóc Bom Bo (1965) và tấm gương chiến đấu của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Điểu Ong.

Chương II: Lộc Ninh từ 1954 đến 1972

Nội dung chương II phân tích diễn biến phong trào qua ba giai đoạn chiến lược:

  • Giai đoạn 1954 - 1965 (Chống chiến lược "Chiến tranh một phía" và "Chiến tranh đặc biệt"):
    • Sau Hiệp định Genève 1954, Mỹ đưa Ngô Đình Diệm lên nắm quyền, thành lập phái bộ MAAG và điều động Sư đoàn 5 đóng dọc Chơn Thành - Lộc Ninh. Chi bộ bí mật Lộc Ninh được tái lập ngày 26/2/1955 gồm 3 đảng viên do đồng chí Nguyễn Văn Tuyết làm Bí thư (trực thuộc Huyện ủy Quản Lợi).
    • Ngày 13/3/1955, 12.000 công nhân do "Hội lao công tương tế" tổ chức đình công, phối hợp cùng gần 5.000 đồng bào dân tộc từ các phum sóc kéo về thị trấn Lộc Ninh đòi tăng lương 20%, đòi trả lương công nhân người Thượng bằng người Kinh.
    • Trước chiến dịch "Tố cộng, diệt cộng" (tiêu biểu là chiến dịch Trương Tấn Bửu 1955-1956) và sự khủng bố của địch, phong trào chuyển sang thế đấu tranh tự vệ bí mật ("Điều lắng cán bộ").
    • Thực hiện Nghị quyết 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 1/1959), Tỉnh ủy Bình Long họp ngày 31/1/1960; ngày 25/2/1960 cuộc nổi dậy Đồng Khởi bùng nổ tại Lộc Ninh - Bù Đốp.
    • Mở đường hành lang chiến lược Bắc - Nam: Thực hiện nhiệm vụ mở đường nối liền hậu phương miền Bắc với miền Nam, Đoàn B90 (do Ban Thống nhất Trung ương và Bộ Quốc phòng thành lập ngày 25/5/1959 gồm 25 cán bộ do đồng chí Trần Quang Sang làm Trưởng đoàn, Phùng Đình Am và Phạm Lạc làm Phó đoàn) đã bắt liên lạc với đoàn soi đường của Khu ủy Miền Đông vào ngày 4/11/1960 tại chân cột cây số 4, Đường 14 (từ ngã ba Đắk Song vào Gia Nghĩa). Tuyến đường xuyên qua Lộc Ninh từ Gia Nghĩa - Bù Gia Mập - Bù Đốp qua Lộ 13 về Cà Tum, Xa Mát được khai thông.
    • Đánh phá "Quốc sách ấp chiến lược": Thực hiện Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 2/1962, Hội nghị Ban Cán sự Lộc Ninh họp tại căn cứ La Buông (Lộc Thạnh) năm 1962 đề ra phương châm phá ấp chiến lược. Ngày 19/10/1963, lực lượng địa phương Bình Long phối hợp du kích bẻ gãy cuộc càn của Sư đoàn 5 ngụy vào Lộc Tân, loại khỏi vòng chiến 300 tên địch, làm bị thương 108 tên, bắn rơi 4 máy bay.
    • Chiến dịch Phước Long - Đồng Xoài (11/5 - 20/7/1965): Bộ Chỉ huy Miền (Lê Trọng Tấn làm Chỉ huy trưởng, Trần Độ làm Chính ủy) huy động 3 trung đoàn chủ lực, 1 trung đoàn pháo binh, 2 tiểu đoàn đặc công. Sau 64 ngày đêm đánh 16 trận cấp tiểu đoàn và trung đoàn, quân và dân ta tiêu diệt gần 4.500 tên địch (có 73 cố vấn Mỹ), bắn hạ 34 máy bay, xóa sổ 4 tiểu đoàn bộ binh ngụy, phá rã hệ thống ấp chiến lược trên diện rộng.
  • Giai đoạn 1965 - 1968 (Đánh bại chiến lược "Chiến tranh cục bộ" và Tổng tiến công Mậu Thân 1968):
    • Mỹ đổ quân ồ ạt (Sư đoàn 1 "Anh cả đỏ", Sư đoàn 25 "Tia chớp nhiệt đới", Lữ đoàn dù 173), nâng cấp sân bay Lộc Ninh và Bù Đốp, lập trung đoàn thiết giáp.
    • Tháng 6/1966, Huyện ủy Lộc Ninh họp đại hội tại căn cứ La Buông, bầu Ban Chấp hành gồm 15 đồng chí do đồng chí Tư Thành Công làm Bí thư; củng cố Sư đoàn 7 bộ đội chủ lực Miền và đơn vị K6 bảo vệ căn cứ.
    • Ngày 11/6/1966, lực lượng vũ trang địa phương phối hợp chủ lực bẻ gãy cuộc hành quân của 3 tiểu đoàn Mỹ và 2 tiểu đoàn ngụy vào Làng 3 và Lộc Thiện, diệt 350 lính Mỹ sau 10 giờ giao tranh, thu 26 súng.
    • Chiến dịch Lộc Ninh - Bù Đốp (bắt đầu đêm 27/10/1967): Quân giải phóng đánh chiếm chi khu Lộc Tân, làm chủ thị trấn Lộc Ninh suốt 3 ngày; tiêu diệt hàng ngàn tên địch, phá hủy 153 xe quân sự, 63 khẩu đại bác, 4 kho đạn và xăng dầu, thu 172 súng các loại.
    • Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968: Đêm 30 rạng ngày 31/1/1968, lực lượng ta đánh vào chi khu quân sự, trại biệt kích, chi cảnh sát. Ngày 5/2/1968, 15.000 quần chúng từ các đồn điền và phum sóc cùng 5.000 nhân dân các xã Lộc Thạnh, Lộc Hòa, Lộc An rầm rộ kéo về thị trấn đấu tranh chính trị, bao vây nhà Quận trưởng.
    • Đánh địch phản kích trong mùa mưa 1968: Trận Làng 2 (ngày 17/7/1968, Đại đội C31 và Sư đoàn 7 bắn cháy 3 xe bọc thép, hạ 1 máy bay); đợt hoạt động tháng 9/1968 với 7 trận đánh lớn, loại khỏi vòng chiến 2 tiểu đoàn địch, 4 đại đội Mỹ, bắn hạ 8 máy bay, phá hủy 18 xe quân sự.
  • Giai đoạn 1969 - 1972 (Chống kế hoạch "Bình định đặc biệt" trong "Việt Nam hóa chiến tranh"):
    • Địch dùng B-52 rải thảm, tăng cường chốt điểm (Hoàng Diệu, Sông Măng, Lộc Tấn), dồn dân vào ấp chiến lược dẫn đến nạn đói nghiêm trọng giữa năm 1969.
    • Đại đội 31 bám trụ địa bàn, bẻ gãy cuộc càn ngày 17/3/1969 của Sư đoàn Không vận số 1 Mỹ và Sư đoàn 5 ngụy tại Lộc Quang, phục kích tại chùa Giác Ngạn (Lộc Hưng) và bảo vệ căn cứ Tam Lang (Lộc Khánh).
    • Đêm 11/8/1969, Tiểu đoàn 28 đặc công Miền tập kích cụm quân của Tiểu đoàn 1 thuộc Trung đoàn 11 thiết giáp Mỹ tại Lộc Ninh, tiêu diệt 250 lính Mỹ và 25 lính ngụy, phá hủy 26 xe tăng, 1 xe bọc thép, 4 nhà lính và 5 súng liên thanh. Phong trào duy trì thế trận bám trụ, tạo bàn đạp cho Chiến dịch Nguyễn Huệ giải phóng hoàn toàn Lộc Ninh vào tháng 4/1972.

Chương III: Lộc Ninh từ 1973 đến 1975

Theo bố cục được tác giả thuyết minh trong phần mở đầu khóa luận, Chương III tập trung phân tích vị thế của Lộc Ninh sau khi được giải phóng (tháng 4/1972):

  • Lộc Ninh trở thành "thủ phủ" của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, nơi đặt các cơ quan đầu não chỉ đạo gồm Trung ương Cục miền Nam và Bộ Chỉ huy các Lực lượng Vũ trang Giải phóng Miền (Bộ Chỉ huy Miền).
  • Xây dựng vùng giải phóng vững mạnh toàn diện về hành chính, kinh tế và quốc phòng; tiếp nhận hàng vạn kiều bào từ Campuchia hồi hương tránh sự khủng bố của chính quyền Lon Nol.
  • Đóng vai trò hậu phương trực tiếp tại chỗ, đầu mối tiếp nhận sức người, sức của từ hậu phương lớn miền Bắc chi viện qua đường mòn Hồ Chí Minh để tạo bàn đạp tấn công giải phóng Phước Long (tháng 1/1975) và chuẩn bị trực tiếp cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp hệ thống số liệu thực nghiệm lịch sử qua các trận đánh và phong trào đấu tranh tiêu biểu tại Lộc Ninh:

Mốc thời gian Sự kiện / Trận đánh Lực lượng tham gia Kết quả quân sự / chính trị chủ yếu
13/03/1955 Bãi công đồn điền cao su Cexo 12.000 công nhân Cexo, 5.000 đồng bào dân tộc Buộc chủ đồn điền tăng 20% lương; bình đẳng lương công nhân Thượng - Kinh
04/11/1960 Khai thông hành lang chiến lược Bắc - Nam Đoàn B90 và Đội công tác Khu ủy Miền Đông Nối thông tuyến vận tải Trường Sơn tại Km 4 Đường 14 vào Nam Bộ
19/10/1963 Trận càn quét Lộc Tân Bộ đội địa phương Bình Long, du kích Lộc Tân Loại khỏi vòng chiến 300 tên địch, 108 bị thương, bắn rơi 4 máy bay
11/05 - 20/07/1965 Chiến dịch Phước Long - Đồng Xoài Bộ Chỉ huy Miền, Sư đoàn 9, lực lượng địa phương Loại gần 4.500 tên địch (73 cố vấn Mỹ), hạ 34 máy bay, diệt 4 tiểu đoàn bộ binh
11/06/1966 Trận càn quét Làng 3 - Lộc Thiện Bộ đội địa phương, du kích, bộ đội chủ lực Loại khỏi vòng chiến 350 lính Mỹ, thu 26 súng các loại
27/10 - 11/1967 Chiến dịch Lộc Ninh - Bù Đốp Sư đoàn 9, Đại đội C70 tỉnh, du kích Brelin Làm chủ thị trấn 3 ngày; phá hủy 153 xe quân sự, 63 khẩu pháo, 4 kho đạn/xăng
31/01 - 05/02/1968 Tổng tiến công & nổi dậy Tết Mậu Thân LLVT huyện, 20.000 quần chúng và công nhân Tấn công chi khu, trại biệt kích; bức rút Quận trưởng, làm chủ các ấp chiến lược
11/08/1969 Tập kích Trung đoàn 11 thiết giáp Mỹ Tiểu đoàn 28 đặc công Miền Tiêu diệt 250 lính Mỹ, 25 lính ngụy; phá hủy 26 xe tăng, 1 xe bọc thép

Về đóng góp học thuật, khóa luận đã:

  • Hệ thống hóa tiến trình hình thành, phát triển của căn cứ địa cách mạng Lộc Ninh trong suốt 21 năm kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975) một cách liên tục và logic.
  • Làm sáng tỏ quy luật kết hợp giữa phong trào đấu tranh chính trị của công nhân đồn điền cao su với phong trào nổi dậy của đồng bào các dân tộc thiểu số bản địa (S'tiêng, Khmer) dưới sự chỉ đạo của các tổ chức Đảng bí mật.
  • Khẳng định vị trí quân sự đặc biệt của Lộc Ninh: từ một trạm dừng chân, vùng đệm hành lang, phát triển thành căn cứ đầu não trực tiếp của Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Miền, đóng góp vào bước ngoặt chiến lược giải phóng miền Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Tác giả là người thuộc thế hệ sinh ra sau chiến tranh nên việc tiếp cận hiện thực lịch sử chủ yếu dựa trên nguồn tư liệu thành văn và lời kể nhân chứng. Một số nhân vật lịch sử chưa xác định được đầy đủ họ tên thật (như trường hợp đồng chí Tư Phẻ); số liệu và tư liệu gốc ở giai đoạn 1969 - 1972 tại các xã vùng sâu còn có khoảng trống do điều kiện chiến tranh ác liệt làm thất lạc hồ sơ lưu trữ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục khai thác các tài liệu lưu trữ từ phía đối phương (hồ sơ lưu trữ của quân đội Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa về các chiến dịch tại Vùng 3 Chiến thuật); sưu tầm thêm hồi ký của các cán bộ Trung ương Cục miền Nam và bổ sung nguồn tư liệu thực địa về hoạt động ngoại giao quân sự tại thủ phủ Lộc Ninh giai đoạn 1973 - 1975.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu học thuật hữu ích cho:

  • Giảng viên, sinh viên ngành Sư phạm Lịch sử, Cử nhân Lịch sử, Lịch sử Đảng và Lịch sử Quân sự trong việc nghiên cứu mô hình căn cứ địa cách mạng ở miền Đông Nam Bộ.
  • Ban Tuyên giáo, các cơ quan nghiên cứu lịch sử Đảng bộ địa phương tại tỉnh Bình Phước và huyện Lộc Ninh trong công tác biên soạn địa chí, lịch sử truyền thống và hồ sơ xếp hạng di tích.
  • Nội dung đáng tham khảo nhất là nguồn sử liệu chi tiết về phong trào đấu tranh giai đoạn đầu chống Mỹ - Diệm (1954 - 1960), diễn biến các cuộc bãi công của công nhân cao su đồn điền Cexo và các số liệu quân sự trong Chiến dịch Phước Long - Đồng Xoài 1965, Chiến dịch Lộc Ninh - Bù Đốp 1967.

Câu hỏi thường gặp

  1. Chi bộ Đảng bí mật đầu tiên tại Lộc Ninh sau Hiệp định Genève 1954 được thành lập vào thời gian nào và gồm những ai?
    Chi bộ bí mật Lộc Ninh được thành lập vào ngày 26/2/1955 gồm 3 đảng viên, do đồng chí Nguyễn Văn Tuyết làm Bí thư, trực thuộc sự quản lý của Huyện ủy Quản Lợi.

  2. Sự kiện nối thông tuyến hành lang chiến lược Bắc - Nam (Đường Hồ Chí Minh) vào miền Đông Nam Bộ diễn ra vào thời gian và địa điểm nào?
    Đoàn B90 (do đồng chí Trần Quang Sang làm Trưởng đoàn) và đoàn soi đường của Khu ủy Miền Đông đã gặp nhau vào ngày 4/11/1960 tại chân trụ cây số 4, Đường 14 (tính từ ngã ba Đắk Song vào Gia Nghĩa), chính thức nối thông hành lang chi viện từ miền Bắc vào miền Đông Nam Bộ xuyên qua Lộc Ninh.

  3. Quy mô và kết quả của cuộc bãi công ngày 13/3/1955 của công nhân cao su Lộc Ninh diễn ra như thế nào?
    Cuộc đấu tranh do "Hội lao công tương tế" làm nòng cốt đã huy động 12.000 công nhân đồn điền Cexo cùng gần 5.000 đồng bào dân tộc từ các phum sóc kéo về thị trấn Lộc Ninh, buộc chủ đồn điền phải chấp thuận tăng 20% lương và trả lương cho công nhân người Thượng bằng công nhân người Kinh.

  4. Trong Chiến dịch Phước Long - Đồng Xoài (1965), Bộ Chỉ huy chiến dịch gồm những tướng lĩnh nào?
    Bộ Chỉ huy chiến dịch gồm có: đồng chí Lê Trọng Tấn (Phó Tư lệnh Miền) làm Chỉ huy trưởng; đồng chí Trần Độ (Phó Chính ủy Miền) làm Chính ủy; đồng chí Nguyễn Minh Châu (Tư lệnh Khu 6) làm Chỉ huy phó; đồng chí Lê Văn Tưởng làm Phó Chính ủy và đồng chí Lê Xuân Lựu làm Chủ nhiệm Chính trị.

  5. Trận đánh của Tiểu đoàn 28 đặc công ngày 11/8/1969 vào cụm quân thiết giáp Mỹ đạt kết quả gì?
    Tiểu đoàn 28 đặc công Miền đã tấn công cụm đóng quân của Tiểu đoàn 1 thuộc Trung đoàn 11 thiết giáp Mỹ, loại khỏi vòng chiến 250 lính Mỹ và 25 lính ngụy, phá hủy 26 xe tăng, 1 xe bọc thép, đánh sập 4 nhà lính và phá hủy 5 súng liên thanh, trung liên.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hà Thị Vân Anh là công trình nghiên cứu lịch sử địa phương nghiêm túc, tái hiện có hệ thống quá trình hình thành, củng cố và phát triển của căn cứ cách mạng Lộc Ninh trong suốt giai đoạn 1954 - 1975. Thông qua nguồn tư liệu thành văn và số liệu lưu trữ phong phú, tác giả đã làm nổi bật vai trò của Lộc Ninh từ một vùng đứng chân du kích phát triển thành căn cứ địa đầu não của Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Miền, đóng góp trực tiếp vào thắng lợi của cuộc Tổng tiến công mùa Xuân 1975. Công trình cung cấp nguồn tư liệu xác thực, có giá trị khoa học và giá trị giáo dục truyền thống cách mạng cho công tác nghiên cứu, giảng dạy lịch sử địa phương tỉnh Bình Phước.