Phong Trào Đấu Tranh Chính Trị Ở Thị Xã Quảng Ngãi Trong Kháng Chiến Chống Mỹ (1954 - 1975)

Chuyên khảo phân tích Phong trào đấu tranh chính trị ở thị xã quảng ngãi tỉnh quảng ngãi trong kháng chiến chống mĩ cứu, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên

Trường đại học

Trường Đại Học Quy Nhơn

Chuyên ngành

Lịch Sử

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2021

116
8
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Phong Trào Đấu Tranh Chính Trị Quảng Ngãi 1954 1975

Quảng Ngãi, một tỉnh ven biển Nam Trung Bộ, đóng vai trò chiến lược trong kháng chiến chống Mỹ. Sau Hiệp định Geneva 1954, Mỹ thay chân Pháp, dựng lên chính quyền Sài Gòn, âm mưu chia cắt Việt Nam. Thị xã Quảng Ngãi trở thành điểm nóng đấu tranh. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, nhân dân Quảng Ngãi đã kiên cường đấu tranh chính trị, hình thức chủ yếu chống lại sự thống trị của Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Phong trào diễn ra liên tục, rộng khắp, đặc biệt sôi nổi ở thị xã, thu hút đông đảo quần chúng tham gia. Nghiên cứu về đấu tranh chính trị Quảng Ngãi giúp hiểu rõ hơn về cuộc chiến tranh nhân dân toàn diện. Các công trình trước đây mới chỉ đề cập vắn tắt, chưa mang tính hệ thống. Vì vậy, việc nghiên cứu phong trào đấu tranh chính trị ở thị xã Quảng Ngãi có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc.

1.1. Lý Do Chọn Nghiên Cứu Phong Trào Cách Mạng Quảng Ngãi

Nghiên cứu này nhằm dựng lại bức tranh toàn diện về phong trào cách mạng Quảng Ngãi, làm rõ các hình thức đấu tranh phong phú, đa dạng. Từ đó, rút ra những đặc điểm của phong trào đấu tranh chính trị trong kháng chiến chống Mỹ. Đồng thời, tập hợp, bổ sung nguồn tư liệu phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy lịch sử địa phương, góp phần nâng cao niềm tự hào về truyền thống quê hương và giáo dục lý tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ. Nghiên cứu cũng rút ra những bài học kinh nghiệm trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

1.2. Lịch Sử Nghiên Cứu Về Đấu Tranh Chính Trị Tại Quảng Ngãi

Đề tài về đấu tranh chính trị trong kháng chiến chống Mỹ không mới. Nhiều công trình đã đề cập đến vai trò lãnh đạo của Đảng, hoạt động chống Mỹ của nhân dân miền Nam, vai trò của các phong trào đấu tranh chính trị ở đô thị, trong đó có Quảng Ngãi. Các tác phẩm lịch sử đã khẳng định vai trò của đấu tranh chính trị phối hợp với đấu tranh vũ trang. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, đầy đủ về các phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân thị xã Quảng Ngãi trong những năm chống Mỹ. Nghiên cứu này sẽ làm rõ và đầy đủ hơn về quá trình đấu tranh, hình thức và đặc điểm của phong trào.

II. Bối Cảnh Thị Xã Quảng Ngãi Ảnh Hưởng Đến Đấu Tranh 1954 1975

Thị xã Quảng Ngãi, tiền thân là xã Chánh Lộ, trải qua nhiều thay đổi về địa giới hành chính. Năm 1945, chính quyền cách mạng thành lập thị xã Quảng Ngãi. Trong kháng chiến, thị xã sáp nhập với làng Ngọc Án thành xã Nghĩa Lộ. Đến năm 1965, Tỉnh ủy Quảng Ngãi quyết định tái lập thị xã. Sau giải phóng, thị xã hợp nhất với huyện Tư Nghĩa thành thị xã Quảng Nghĩa. Năm 1989, tỉnh Quảng Ngãi tái lập, thị xã Quảng Ngãi trở lại là tỉnh lỵ. Năm 2005, Chính phủ thành lập thành phố Quảng Ngãi. Vị trí địa lý của thị xã Quảng Ngãi có ý nghĩa quan trọng. Nằm trên trục giao thông Bắc-Nam, gần cảng Sa Kỳ, thị xã có địa hình đồng bằng ven biển, khí hậu á nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của bão lụt.

2.1. Lịch Sử Hình Thành và Phát Triển Thị Xã Quảng Ngãi

Thị xã Quảng Ngãi trải qua nhiều giai đoạn hình thành và phát triển. Từ trấn Quảng Ngãi thời nhà Nguyễn, đến xã Chánh Lộ thời Pháp thuộc, rồi thị xã Quảng Ngãi sau Cách mạng Tháng Tám. Sau nhiều lần sáp nhập và tái lập, đến năm 2005, thị xã chính thức trở thành thành phố Quảng Ngãi. Những thay đổi về địa giới hành chính phản ánh sự phát triển kinh tế - xã hội và vai trò của thị xã trong lịch sử Quảng Ngãi.

2.2. Vị Trí Địa Lý và Điều Kiện Tự Nhiên Ảnh Hưởng Kháng Chiến

Vị trí địa lý của thị xã Quảng Ngãi có ý nghĩa chiến lược quan trọng. Nằm trên trục giao thông huyết mạch Bắc-Nam, thị xã là điểm kết nối quan trọng. Địa hình đồng bằng ven biển, khí hậu á nhiệt đới gió mùa, với hai mùa mưa nắng rõ rệt, ảnh hưởng đến đời sống kinh tế và xã hội của người dân. Mùa mưa bão gây nhiều khó khăn, nhưng cũng tạo điều kiện cho các hoạt động cách mạng.

2.3. Điều Kiện Kinh Tế Xã Hội Thị Xã Quảng Ngãi Trước 1954

Trước năm 1954, kinh tế thị xã Quảng Ngãi chủ yếu là nông nghiệp và buôn bán nhỏ. Đời sống người dân còn nhiều khó khăn. Tuy nhiên, truyền thống yêu nước và tinh thần đấu tranh chống ngoại xâm đã được hun đúc qua nhiều thế hệ. Đây là nền tảng quan trọng cho sự phát triển của phong trào đấu tranh chính trị sau này.

III. Diễn Biến Phong Trào Đấu Tranh Chính Trị 1954 1960 Tại Quảng Ngãi

Giai đoạn 1954-1960 chứng kiến sự trỗi dậy mạnh mẽ của phong trào đấu tranh chính trị tại thị xã Quảng Ngãi. Âm mưu của Mỹ và chính quyền Sài Gòn nhằm kìm kẹp, đàn áp phong trào cách mạng đã vấp phải sự phản kháng quyết liệt của nhân dân. Chủ trương của Đảng, Liên ủy khu V, tỉnh ủy Quảng Ngãi đã định hướng, lãnh đạo phong trào đi đúng hướng. Các cuộc biểu tình, mít tinh, đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ diễn ra liên tục, thu hút đông đảo quần chúng tham gia. Phong trào đã góp phần làm suy yếu chính quyền Sài Gòn, tạo tiền đề cho giai đoạn đấu tranh tiếp theo.

3.1. Âm Mưu Của Mỹ Và Chính Quyền Sài Gòn Tại Thị Xã

Sau Hiệp định Geneva, Mỹ và chính quyền Sài Gòn tìm mọi cách để kìm hãm phong trào cách mạng tại thị xã Quảng Ngãi. Chúng tăng cường đàn áp, khủng bố, bắt bớ những người yêu nước, đồng thời thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội nhằm chia rẽ khối đoàn kết dân tộc. Tuy nhiên, những âm mưu này đã không thể dập tắt được ngọn lửa cách mạng.

3.2. Chủ Trương Của Đảng Bộ Quảng Ngãi Về Đấu Tranh Chính Trị

Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi đã xác định rõ vai trò của đấu tranh chính trị trong giai đoạn mới. Chủ trương của Đảng là kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, xây dựng lực lượng cách mạng vững mạnh, phát động quần chúng đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, từng bước làm suy yếu chính quyền Sài Gòn. Chủ trương này đã được nhân dân Quảng Ngãi hưởng ứng mạnh mẽ.

3.3. Các Hình Thức Đấu Tranh Chính Trị Tiêu Biểu 1954 1960

Phong trào đấu tranh chính trị tại thị xã Quảng Ngãi trong giai đoạn này diễn ra với nhiều hình thức phong phú, đa dạng. Các cuộc biểu tình, mít tinh, đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ diễn ra liên tục. Nhân dân còn sử dụng các hình thức đấu tranh bất hợp pháp như rải truyền đơn, treo cờ, phá hoại cơ sở vật chất của địch. Các hình thức đấu tranh này đã gây tiếng vang lớn, cổ vũ tinh thần cách mạng của quần chúng.

IV. Phong Trào Đấu Tranh Chính Trị Thị Xã Quảng Ngãi 1961 1965

Trong giai đoạn 1961-1965, phong trào đấu tranh chính trị ở thị xã Quảng Ngãi tiếp tục phát triển mạnh mẽ. Mỹ và chính quyền Sài Gòn tăng cường các biện pháp đàn áp, khủng bố, nhưng không thể ngăn cản được ý chí đấu tranh của nhân dân. Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi tiếp tục lãnh đạo phong trào, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, xây dựng lực lượng cách mạng vững mạnh. Phong trào đã góp phần đánh bại chiến lược "chiến tranh đặc biệt" của Mỹ, tạo điều kiện cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân Mậu Thân 1968.

4.1. Chiến Lược Chiến Tranh Đặc Biệt Của Mỹ Tại Quảng Ngãi

Để thực hiện chiến lược "chiến tranh đặc biệt", Mỹ tăng cường viện trợ quân sự và kinh tế cho chính quyền Sài Gòn, đồng thời đưa cố vấn quân sự Mỹ vào chỉ huy các đơn vị quân đội. Chúng tăng cường các hoạt động tình báo, phá hoại, chia rẽ khối đoàn kết dân tộc. Tuy nhiên, những biện pháp này đã không thể ngăn cản được sự phát triển của phong trào cách mạng.

4.2. Vai Trò Lãnh Đạo Của Đảng Bộ Tỉnh Quảng Ngãi

Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi tiếp tục giữ vai trò lãnh đạo quan trọng trong phong trào đấu tranh chính trị. Đảng bộ đã đề ra những chủ trương, biện pháp phù hợp với tình hình thực tế, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, xây dựng lực lượng cách mạng vững mạnh. Sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng bộ đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của cách mạng.

4.3. Ảnh Hưởng Của Phong Trào Phật Giáo Đến Đấu Tranh Chính Trị

Phong trào Phật giáo tại miền Nam, trong đó có Quảng Ngãi, đã có ảnh hưởng lớn đến phong trào đấu tranh chính trị. Các cuộc biểu tình, tuyệt thực của tăng ni, phật tử đã thu hút sự quan tâm của dư luận trong và ngoài nước, gây áp lực lớn lên chính quyền Sài Gòn. Phong trào Phật giáo đã góp phần làm suy yếu chế độ độc tài Ngô Đình Diệm.

V. Giai Đoạn 1965 1975 Đỉnh Cao Đấu Tranh Chính Trị Tại Quảng Ngãi

Từ năm 1965 đến 1975, phong trào đấu tranh chính trị ở thị xã Quảng Ngãi đạt đến đỉnh cao. Mỹ leo thang chiến tranh, đưa quân đội vào trực tiếp tham chiến, nhưng không thể dập tắt được ý chí đấu tranh của nhân dân. Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lãnh đạo nhân dân kiên trì đấu tranh trên cả ba mặt trận: chính trị, quân sự, binh vận. Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 đã giải phóng hoàn toàn Quảng Ngãi, góp phần vào thắng lợi chung của cả nước.

5.1. Tác Động Của Chiến Lược Việt Nam Hóa Chiến Tranh Đến Quảng Ngãi

Chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ nhằm giảm bớt sự tham gia trực tiếp của quân đội Mỹ, tăng cường vai trò của quân đội Sài Gòn. Tuy nhiên, chiến lược này đã thất bại, không thể ngăn cản được sự phát triển của phong trào cách mạng. Quân đội Sài Gòn ngày càng suy yếu, tinh thần chiến đấu giảm sút.

5.2. Sự Phối Hợp Giữa Đấu Tranh Chính Trị Quân Sự Binh Vận

Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi đã lãnh đạo nhân dân kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chính trị, quân sự và binh vận. Đấu tranh chính trị làm suy yếu chính quyền địch, đấu tranh quân sự tiêu hao sinh lực địch, binh vận làm tan rã hàng ngũ địch. Sự phối hợp nhịp nhàng giữa ba mặt trận đã tạo nên sức mạnh tổng hợp, đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi.

5.3. Vai Trò Của Quần Chúng Trong Tổng Tiến Công 1975

Quần chúng nhân dân đóng vai trò quyết định trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975. Nhân dân đã tích cực tham gia các hoạt động quân sự, chính trị, hỗ trợ bộ đội chủ lực, nổi dậy giành chính quyền. Sự tham gia đông đảo của quần chúng đã tạo nên sức mạnh to lớn, đánh bại hoàn toàn quân đội Sài Gòn.

VI. Bài Học Kinh Nghiệm Từ Phong Trào Đấu Tranh Chính Trị Quảng Ngãi

Phong trào đấu tranh chính trị ở thị xã Quảng Ngãi đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu. Đó là bài học về xây dựng lực lượng cách mạng vững mạnh, về phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân, về kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, về sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng. Những bài học này vẫn còn nguyên giá trị trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.

6.1. Xây Dựng Lực Lượng Cách Mạng Vững Mạnh

Bài học đầu tiên và quan trọng nhất là phải xây dựng lực lượng cách mạng vững mạnh. Lực lượng cách mạng phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ chuyên môn cao, có mối liên hệ mật thiết với quần chúng nhân dân. Lực lượng cách mạng phải là nòng cốt của phong trào đấu tranh.

6.2. Phát Huy Sức Mạnh Đoàn Kết Toàn Dân

Sức mạnh của phong trào đấu tranh chính trị nằm ở sự đoàn kết của toàn dân. Cần phải phát huy tinh thần yêu nước, ý chí đấu tranh của mọi tầng lớp nhân dân, tạo nên sức mạnh tổng hợp để đánh bại mọi kẻ thù. Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi.

6.3. Vận Dụng Bài Học Vào Xây Dựng và Bảo Vệ Tổ Quốc

Những bài học kinh nghiệm từ phong trào đấu tranh chính trị ở thị xã Quảng Ngãi cần được vận dụng sáng tạo vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay. Cần phải tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, phát huy dân chủ, chăm lo đời sống nhân dân, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ.

06/06/2025
Phong trào đấu tranh chính trị ở thị xã quảng ngãi tỉnh quảng ngãi trong kháng chiến chống mĩ cứu nước 1954 1975

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, khóa luận đƣợc trình bày thành 3 chƣơng: C ƣơn 1: Khái quát về thị xã Quảng Ngãi và phong trào đấu tranh chính trị ở thị xã Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi trƣớc năm 1954. C ƣơn : Diễn tiến phong trào đấu tranh chính trị ở thị xã Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi trong kháng chiến chống Mĩ, cứu nƣớc (1954 – 1975). C ƣơn 3: Một số nhận xét về phong trào đấu tranh chính trị ở thị xã Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi trong kháng chiến chống Mĩ, cứu nƣớc (1954 – 1975). 7 CHƢƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ THỊ XÃ QUẢNG NGÃI VÀ PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ Ở THỊ XÃ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI TRƢỚC NĂM 1954 1.

Khái quát về thị xã Quảng Ngãi 1. Lịch sử hình thành và tên gọi qua các thời kỳ Vào thời nhà Nguyễn, năm 1807 đã xây dựng trấn Quảng Ngãi trên diện tích khoảng 26 ha tại xã Chánh Mông, thuộc huyện Chƣơng Nghĩa. Đến năm 1896, đƣờng xuyên Việt chạy ngang qua xã, nên đổi tên là xã Chánh Lộ. Ngƣời Pháp đặt tên là Chánh Lộ phố, đƣợc gọi là vùng trung tâm trấn.

Chánh Lộ phố có hai phƣờng: Bắc Lộ phƣờng và Nam Lộ phƣờng. Đến năm 1929 mở rộng lên ngã ba Thu Lộ, thành lập thêm Thu Lộ phƣờng. Cách mạng Tháng Tám 1945, trên cơ sở ba phƣờng của Chánh Lộ phố, chính quyền cách mạng tỉnh quyết định thành lập thị xã Quảng Ngãi. Đến ngày toàn quốc kháng chiến 19 tháng 12 năm 1946, các cơ quan tỉnh và đồng bào nội thị chuyển ra nông thôn, thị xã Quảng Ngãi sáp nhập với làng Ngọc Án, gọi là xã Nghĩa Lộ, trực thuộc huyện Tƣ Nghĩa.

Thời Việt Nam Cộng hòa, chính quyền Sài Gòn tách Bắc Lộ phƣờng thành hai, đặt ra bốn ấp: Bắc Môn, Bắc Lộ, Nam Lộ, Thu Lộ, lập nên xã Cẩm Thành. Để tiện cho việc chỉ đạo cuộc kháng chiến, tháng 6 năm 1965, Tỉnh ủy Quảng Ngãi quyết định tái lập thị xã Quảng Ngãi trực thuộc tỉnh, gồm 4 ấp: Bắc Môn, Bắc Lộ, Nam Lộ, Thu Lộ, lập nên xã Cẩm Thành. Và các thôn của hai xã Nghĩa Lộ, Nghĩa Dõng, cùng một số thôn của các xã Nghĩa Điền, Tịnh Ấn. Ngày 24 tháng 3 năm 1975, thị xã Quảng Ngãi đƣợc giải phóng hoàn toàn.

Đơn vị hành chính đƣợc điều chỉnh bao gồm 4 phƣờng, 3 xã nhƣ sau: ấp Bắc Môn đổi thành phƣờng Lê Hồng Phong, ấp Bắc Lộ đổi thành phƣờng Trần Hƣng Đạo, ấp nam Lộ đổi thành phƣờng Nguyễn Nghiêm, xã Nghĩa Lộ, xã Nghĩa Điền, 8 xã Nghĩa Dõng. Tháng 2 năm 1976, hai tỉnh Bình Định và Quảng Ngãi hợp nhất thành tỉnh Nghĩa Bình. Đồng thời, thị xã Quảng Ngãi hợp nhất với huyện Tƣ Nghĩa thành thị xã Quảng Nghĩa thuộc tỉnh Nghĩa Bình. Tuy nhiên, tỉnh lỵ tỉnh Nghĩa Bình đặt tại thị xã Quy Nhơn (nay là thành phố Quy Nhơn).

Do bị mất vai trò là tỉnh lỵ trong thời gian dài (1975-1989), thị xã Quảng Nghĩa mất đi nhiều cơ hội phát triển nên dần thua kém các đô thị khu vực miền Trung - Tây Nguyên. Ngày 30 tháng 6 năm 1989, tỉnh Quảng Ngãi đƣợc tái lập từ tỉnh Nghĩa Bình cũ, thị xã Quảng Ngãi trở lại là tỉnh lỵ tỉnh Quảng Ngãi Ngày 23 tháng 12 năm 2002, Bộ Xây dựng ban hành Quyết định số 1711/QĐ-BXD công nhận thị xã Quảng Ngãi là đô thị loại III Đặc biệt Ngày 26 tháng 8 năm 2005, Chính phủ ban hành Nghị định 112/2005/NĐ-CP thành lập thành phố Quảng Ngãi trên cơ sở toàn bộ diện tích của thị xã Quảng Ngãi Ngày 12 tháng 12 năm 2013, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 123/NQ- CP điều chỉnh, mở rộng địa giới hành chính thành phố Quảng Ngãi Chuyển toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của thị trấn Sơn Tịnh và 9 xã: Tịnh Ấn Tây, Tịnh Ấn Đông, Tịnh An, Tịnh Long, Tịnh Châu, Tịnh Thiện, Tịnh Khê, Tịnh Hòa, Tịnh Kỳ thuộc huyện Sơn Tịnh và 3 xã: Nghĩa Hà, Nghĩa Phú, Nghĩa An thuộc huyện Tƣ Nghĩa về thành phố Quảng Ngãi quản lý Thành lập phƣờng Trƣơng Quang Trọng trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của thị trấn Sơn Tịnh Nhƣ vậy, Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, thành phố Quảng Ngãi có 16.015,34 ha diện tích tự nhiên, 260.252 nhân khẩu với 23 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 9 phƣờng và 14 xã, giữ ổn định đến nay. Ngày 24 tháng 9 năm 2015, Thủ tƣớng Chính phủ ban hành Quyết định 1654/QĐ-TTg công nhận thành phố Quảng Ngãi là đô thị loại II. Thành phố Quảng Ngãi hiện nay là đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh 9 Quảng Ngãi.

Thành phố Quảng Ngãi nằm ở phía đông tỉnh, phía đông, tây, nam đều giáp huyện Tƣ Nghĩa, phía Bắc giáp huyện Sơn Tịnh, có quốc lộ 1 chạy qua và đƣờng sắt thống nhất chạy qua.2 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên 1.1 Vị trí địa lí. Thị xã Quảng Ngãi trƣớc đây là xã Chánh Lộ thuộc phủ Tƣ Nghĩa nằm ở tọa 15°03 độ vĩ bắc và 180°48 độ kinh đông. Phía Bắc giáp huyện Sơn Tịnh, phía Đông, Tây, Nam giáp huyện Tƣ Nghĩa. Trƣớc tháng 8 năm 1945, diện tích xã Chánh Lộ bao gồm cả thôn An Phú và bãi cát này giao lại cho xã Tịnh An huyện Sơn Tịnh Thị xã Quảng Ngãi cách thủ đô Hà Nội 883km, cách thành phố Hồ Chí Minh 835km.

Thị xã nằm trên trục đƣờng giao thông huyết mạch Bắc- Nam cả đƣờng sắt, đƣờng bộ và đƣờng thủy( cách cảng Sa Kỳ khoảng 18km ).2 Điều kiện tự nhiên Thị xã Quảng Ngãi nằm trong địa hình đồng bằng ven biển, thấp và bằng phẳng, hƣớng dốc chủ yếu từ Tây sang đông, độ cao so với mặt nƣớc biển từ 4 đến 9km. Khu vực phía Tây và thành cổ có độ cao trung bình 8m, ít bị ngập lụt. Cũng nhƣ các tỉnh ven biển Trung Trung Bộ, thị xã Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi nằm trong vùng khí hậu á nhiệt đới và khu vực gió mùa Đông Nam Á. Mỗi năm có hai mùa nắng và mƣa rõ rệt.

Mùa mƣa từ tháng 9 đến tháng 1 năm sau. Lƣợng mƣa trung bình hằng năm là 2. Mƣa tập trung cao nhất váo các tháng 9, 10, 11 chiếm 70% lƣợng mƣa trong cả năm. Mùa mƣa thƣờng có gió bắc - tây bắc và bão lụt, gây ảnh hƣởng xấu đến sản xuất và đời sống nhân dân.

Mùa nắng từ tháng 2 đến tháng 8. Số giờ nắng trung bình hằng năm là 2043 giờ. Mùa nắng thƣờng có gió đông - đông nam đem không khí mát lành cho con ngƣời, nhƣng có nhiều lúc gió tây nam thổi hai ba ngày liền với tốc độ 14 - 15km/giờ, mang theo khí nóng oi bức. Xung quanh thị xã Quảng Ngãi có nhiều núi thấp bao bọc.

Riêng trong 10 lòng thị xã có núi Bút và núi Ông. Núi Bút ở phía nam thị xã, sát đƣờng quóc lộ 1A trƣớc đây cao khoảng 61m, nay còn khoảng hơn 50m. Đứng trên đỉnh núi Bút có thể nhìn bao quát thị xã Quảng Ngãi. Còn núi Ông trƣớc đây cao khoảng 39m, nay còn khoảng 28m.

Thị xã Quảng Ngãi có 3 con sông lớn chảy qua: sông Trà Khúc phía Bắc, sông Bầu Giang phía Nam và sông Kênh phía Tây, Ở thị xã Quảng Ngãi hầu nhƣ không có hồ nƣớc tự nhiên đáng kể, chỉ có những hồ nƣớc đƣợc đào đắp phục vụ việc thủy điện, thủy lợi. Biển ở thị xã Quảng Ngãi, có biển Mỹ Khê nay nằm ở xã Tịnh khê có thềm lục địa tƣơng đối hẹp, bờ biển tƣơng đối dài, có nhiều cửa biển, vùng biển ven bờ nằm bên vùng nƣớc sâu của trũng biển Đông, do đó có điều kiện phát triển mạnh. Khoáng sản trong khu vực thị xã Quảng Ngãi tƣơng đối ít, chủ yếu nằm ở những vùng lân cận thị xã, đƣợc chia làm bốn nhóm chính: Khoáng sản kim loại ( sắt, nhôm, thiếc, vàng,…), khoáng chất công nghiệp: ( than bùn, graphit,…), vật liệu xây dựng: ( đá ốp lát, đá xây dựng,…), nƣớc khoáng: ( nƣớc khoáng, nƣớc nóng,…).3 Điều kiện kinh tế - xã hội 1.1 Đặc điểm kinh tế Trƣớc năm 1955, tuy đã từng mang tên Chánh Lộ phố, rồi thị xã Quảng Ngãi, mảnh đất này chủ yếu vẫn mang tính chất nông thôn với nền kinh tế nông nghiệp. Trên 90% dân cƣ vùng ven và 30% dân cƣ nội thị là nông dân lao dộng.

Diện tích đất nông nghiệp toàn thị xã là 2.007ha, trong đó trồng lúa 746ha, trồng hoa màu, mía 580ha, đất vƣờn 751ha. Cây lƣơng thực chính ở thị xã Quảng Ngãi vẫn là cây lúa nƣớc. Trƣớc kia nông dân thị xã Quảng Ngãi dùng các giống lúa cũ và các phƣơng thức cổ truyền để canh tác. Ngoài trồng cây lúa nƣớc, ngƣời dân còn trồng khoai lang, bắp, mỳ,….

Nhƣ vậy, từ lâu nông nghiệp đã phát triển tƣơng đối toàn diện 11 Cùng với nông nghiệp, trƣớc kia ngƣời dân ở thị xã đã có nhiều nghề thủ công truyền thống nhƣ: ép mía nấu đƣờng, một số nghề thủ công nhƣ gốm, đánh bắt hải sản,… Ngoài ra còn có nghề tiện gỗ, nghề mộc khá tỉnh xảo, sản xuất đồ dùng bằng thủy tinh,…. Về công nghiệp giai đoạn 1954 đến 1975 vẫn còn thô sơ lạc hậu do chiến tranh, trừ một số công sở trong thành, một số nhà xƣởng của nhà giàu,… Ngoài ra có công nghiệp mía đƣờng, công nghiệp chế biến nông sản và muối, thủy hải sản,… Tiểu thủ công nghiệp ở thị xã Quảng Ngãi đƣợc hình thành và tồn tại khá sớm. Nghề thủ công ở thị xã Quảng Ngãi hầu hết đều có nguồn gốc từ những ngƣời nông dân miền Bắc di cƣ vào Nam trong các thế kỷ XV, XVI và một bộ phận nhỏ là ngƣời hoa truyền vào ( làm kẹo, làm nhang ).Một số làng nghề tiêu biểu nhƣ nghề làm gốm, đúc đồng, nghề rèn, chế tác đá, nghề mộc,… Về thƣơng nghiệp, ở thị xã Quảng Ngãi trƣớc năm 1945 chủ yếu là tiêu thƣơng, buôn gánh, bán bƣng, làm dịch vụ ăn uống giải khát. Nhờ có quan hệ buôn bán với ngƣời Hoa ở Thu Xà, với thƣơng lái ở Cổ lũy, thƣơng nghiệp thị xã phát triển dần lên.

Chợ tỉnh là chợ lớn nhất, trở thành đầu mối giao lƣu ở thị xã và các huyện lỵ, cũng nhƣ các tỉnh với nhau. Các nhà buôn lớn, buôn sỉ đều nằm trong tay Hoa Kiều, Ấn Kiều. Thƣơng gia ngƣời Việt tại thị xã chỉ có mấy hiệu buôn vừa và nhỏ. Là trung tâm của vùng châu ổ sông Trà Khúc, thƣơng nghiệp thị xã mở rộng với bên ngoài qua bến Tam Thƣơng, có ba đƣờng buôn bán tấp nập.

Sau hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Đông Dƣơng, đất nƣớc tạm thời bị chia cắt hai miền Nam - Bắc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Phong Trào Đấu Tranh Chính Trị Tại Thị Xã Quảng Ngãi Trong Kháng Chiến Chống Mỹ (1954 - 1975)" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các hoạt động đấu tranh chính trị diễn ra tại Quảng Ngãi trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ. Tài liệu nêu bật vai trò của phong trào quần chúng, sự lãnh đạo của các tổ chức chính trị và những chiến lược đấu tranh hiệu quả nhằm chống lại sự can thiệp của Mỹ. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về cách mà người dân địa phương đã tổ chức và tham gia vào cuộc kháng chiến, từ đó hiểu rõ hơn về bối cảnh lịch sử và những nỗ lực của họ trong việc giành lại độc lập cho đất nước.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu "Đấu tranh chính trị ở tây nguyên trong kháng chiến chống mỹ từ năm 1961 đến năm 1968", nơi cung cấp cái nhìn về các hoạt động tương tự ở khu vực Tây Nguyên. Ngoài ra, tài liệu "Khu ủy trị thiên huế trong cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước từ năm 1966 đến năm 1975" cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của các tổ chức lãnh đạo trong cuộc kháng chiến. Cuối cùng, tài liệu "Đội công tác cấp xã ở huyện núi thành tỉnh quảng nam trong kháng chiến chống mỹ 1961 1975" sẽ mang đến cái nhìn sâu sắc về các hoạt động cấp cơ sở trong cuộc kháng chiến. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về phong trào đấu tranh trong thời kỳ lịch sử đầy biến động này.