mở đầu: “Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới/ Nước bao vây cách biển nửa ngày sông”… Một điều thơ mộng không chỉ trong ca dao, văn thơ xưa mà ngay chính trong âm nhạc Việt đương đại cũng thấm đẫm hình ảnh sông. Hát về núi sông tức cũng là ca bài ca về đất nước Việt. Này là con sông Tương trong bài ca Ai về sông Tương (Thông Đạt), con sông Lô trong bài hát cùng tên của Văn Cao, con sông Vàm Cỏ trong Vàm Cỏ Đông (Trương Quang Lục), sông Hậu trong Chiếc áo bà ba (Trần Thiện Thanh)…Sông là biểu trưng gắn với tình cảm quê hương trong Sông Quê (Nguyễn Trọng Tạo): “Sông quê nước chảy đôi bờ/ Để anh chín dại mười khờ thương em. Ơi con sông quê, bao năm đã lở đã lở bồi”… Người Việt xa xưa còn coi sông như một hình nhân sống nên có cách đặt tên phổ biến: sông Cái, sông Con, sông Cả… và cũng cho thấy mối thân tình ruột rà với tự nhiên.
Lưu vào tiếng Việt, người Êđê cũng bắt đầu tên địa danh của mình là sông (Krông) nên một số địa danh Tây Nguyên, vùng không hề biết đến biển cả thì yếu tố sông nước đặc biệt nổi biệt: (huyện) Krông Bông, Krông Buk , Krông Pak, Krông Ana, Krông Năng… Như vậy, đến đây có thể khẳng định: vai trò to lớn của sông trong tri nhận, trong bức tranh thế giới thứ 2 của tư duy người Việt chúng ta là điều có thật và có nhiều cơ sở xác đáng.3 Bức tranh ngôn ngữ với ý niệm sông nước Sông nước là sông, về mặt là cảnh vật thiên nhiên, hoặc điều kiện sinh sống của con người (nói khái quát). Ví dụ: Thạo nghề sông nước, cảnh sông nước nên thơ. [38:867] “Nước sông” hay “sông nước” đều có nghĩa, nhưng ý nghĩa thì không như nhau. “Nước sông” chỉ là một dạng của nước nói chung theo nghĩa gốc trong khi thuật ngữ “sông nước” khái quát hơn đã định nghĩa trên, hiểu một cách dân dã là vùng đất quanh sông suối, kênh rạch.
Cũng theo nghĩa này, cảnh “gạo chợ nước sông” được xem là cảnh buôn bán tấp nập của dân miền sông nước, trong một số ngữ cảnh khác, có thể còn có nghĩa là bấp bênh (Nậu rớ ăn gạo chợ, uống nước sông), “thạo nghề sông nước” tức người dân đã quen với điều kiện sinh sống đánh bắt vùng (miền) sông nước. Ở “Sông nước nên thơ” thì “sông nước” được khái quát để chỉ cảnh thiên nhiên xinh đẹp gắn với sông nước. Về mặt văn hóa, “sông nước” là từ ngữ biểu trưng Văn hóa nước khoanh lại ở vùng đất liền, liên quan đến kênh rạch, sông suối; bên cạnh đó là biển cả – chỉ vùng ngoài đại dương. Sẽ có những khoảng giao thoa giữa sông nước và biển cả trong việc dùng ngôn từ; và sự phân biệt này, trên lĩnh vực ngôn ngữ có thể nói chỉ là tương đối.
Để bao quát, chúng tôi cũng xem “ý niệm sông nước” là biểu tượng tinh thần về vùng đất liền liên quan chủ yếu đến kênh rạch sông suối bên cạnh đó là biển cả xuyên suốt luận văn. Với nước, sông là một vật thể đi liền, dường như sông mật thiết với cư dân Việt và “sông nước” từ lâu vẫn là hình ảnh quen thuộc, dung dị về quê hương, bản quán bên cạnh cây đa, rặng dừa, đình làng trong lòng mỗi người dân Việt hơn là biển cả. Và điều này cũng có nguyên nhân lịch sử của nó. Nền văn minh cổ xưa nhất từng tỏa sáng ở lãnh thổ Việt Nam, theo cách hiểu phổ biến đó là nền văn minh sông Hồng – là nền văn minh bản địa đầu tiên của văn hóa Việt Nam, đánh dấu một mốc quan trọng cho sự ra đời của dân tộc Việt gắn với sông nước nói chung và của một ngôn ngữ giàu hình ảnh sông nước nói riêng.
Tuy nhiên, tập trung chủ yếu vào “sông nước” ở nét nghĩa vùng sinh sống quanh sông ở một quốc gia mà trải dài hơn ngàn cây số biển suốt chiều dài đất nước, phải chăng đó là một sự thiếu sót? Có thể nói, thoạt nhìn, tưởng chừng đấy là một sự “thiên vị”, thế nhưng cũng có nguyên nhân sâu xa và thuyết phục về điều này từ dấu ấn lịch sử. Từ thời đại đá mới đến sơ kỳ đại đồng thau (khoảng 6000 năm trước Công nguyên) người Việt đã có nền văn hóa ven biển rực rỡ (Văn hóa Soi Nhụ – Quảng Ninh; nhóm di tích Cái Bèo ở Cát Bà – Hải Phòng; văn hóa Đa Bút – Thanh Hóa…) [55]. Đặc biệt nhất là thời kỳ Đông Sơn, người ta đã nhận thấy vai trò to lớn của biển trong nền văn minh này. Tuy nhiên, sau đó, con cháu của Đông Sơn – người Việt, lại không còn mặn mà với biển vì bị thôn tính, và hơn thế nữa, người Hán đã “bao bọc” lấy biển, làm mất đi nguồn sức mạnh, mất đi sự giao lưu và mất đi cấu trúc văn hóa mang tính biển cả, điều này còn gắn liền với các truyền thuyết “Âu Cơ – Lạc Long Quân”, “An Dương Vương Cổ Loa”, “Sơn tinh – Thủy Tinh”…Theo bản năng tự vệ, người Việt co cụm lại thành những làng xã quanh lũy tre, thôn xóm, con đò của sông nước.
Và làng – với sông nước, trở thành thành trì bảo vệ văn hóa Việt trước nguy cơ bị đồng hóa của ngoại xâm, từ đó, “sông nước” cũng là nơi có thể áp dụng những bài học về đánh bắt, về sinh sống của cư dân Việt. Cũng từ đây, sự xa vời biển lập nên một hình thái kinh tế mới – nền kinh tế nông nghiệp tự cung tự cấp. Dù sau này người Việt đã có những hành trình lớn để về với biển, nhất là sự trỗi dậy mạnh mẽ của các triều đại Lý – Trần thời trung cổ chóng ngoại xâm, nhưng, thực tế sau hàng trăm năm cách biển, thói quen và tập tục đã đổi thay; người Việt đã không còn nghĩ nhiều đến những thương thuyền lớn giong buồm ra biển lớn, và, làm cho văn hóa Việt cũng không thực mặn mà với những hùng vĩ và dữ dội của biển cả. Một khi văn hóa khoanh lại trong một vùng cố định, thì ngôn ngữ cũng sẽ trở nên chi tiết ở những lĩnh vực mà con người cọ sát.
Dù sông nước không phải luôn hiền hòa với con người, nhưng người Việt chấp nhận như một lẽ tự nhiên, truyền thuyết “Sơn Tinh – Thủy Tinh” phần nào nói lên được điều đó, hay Đam San (nhân vật trong sử thi Đam San của người Êđê) là biểu tượng cho khao khát chiếm lĩnh tự nhiên bằng cách “bắt nữ thần mặt trời về làm vợ” nhưng khao khát làm chủ của Đam San thật chất đã bất thành trong khu rừng Sáp Đen cho thấy, thực tế, trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, người Việt Nam nói chung phụ thuộc, nương tựa hơn là độc lập, làm chủ. Người Việt Nam thể hiện rõ ý thức tôn sùng bái tự nhiên, gọi thiên nhiên là “thần” (nữ thần mặt trời, thần sông, thần núi…) và thể hiện thành lối sống hòa hợp, thích nghi, hòa mình và gắn bó với môi trường tự nhiên. Từ ngữ “sông nước”, vì vậy mà trở nên dồi dào, phong phú trong vốn từ vựng dân tộc. Con người – mà trong trường hợp chúng ta đang xét là người Việt (người Kinh) – với tư cách là chủ thể tiếp xúc và tri nhận về thực tại với ba phạm vi cơ bản: thế giới tự nhiên quanh mình, xã hội mà con người tổ chức và chính con người trong hai mối liên hệ ấy có hai khuynh hướng hành xử: chấp nhận hoặc cải tạo.
Hai khuynh hướng này không phân tách rạch ròi mà bổ trợ, đan xen nhau. Ở lĩnh vực ngôn ngữ, xuất phát từ ba phạm vi đó, vốn từ vựng được hình thành với ba lớp từ cơ bản: Lớp từ biểu thị sự vật, hiện tượng, khái niệm thuộc về thế giới tự nhiên; về xã hội loài người và về nhận thức bản thể. Từ ngữ “sông nước”, lĩnh vực sông nước về nguyên gốc, có thể thuộc lớp từ thứ nhất – biểu thị sự vật, hiện tượng – khái niệm thuộc về thế giới tự nhiên; nhưng, qua quá trình lịch sử lâu dài, nó đi vào vốn từ vựng, đi vào tâm khảm người Việt bằng con đường “ẩn dụ” – chính xác là “Ẩn dụ tri nhận” thành chính những khái niệm thuộc xã hội loài người và cả về nhận thức bản thể con người. Chẳng hạn, chúng ta vẫn nghe ẩn dụ “lòng dậy sóng” chỉ những biến động đột ngột trong lòng con người vốn có nguồn gốc từ hiện tượng tự nhiên.
Từ ngữ ấy nguồn gốc rõ ràng mang dấu ấn sông nước và đi vào tâm thức người Việt – nếu không “phục chế” dựa trên dấu vết ngôn ngữ thì có lẽ khó có thể hiểu nguồn tích “sông nước” của nó. Cũng như hiển nhiên có thể thấy, người Việt xưa nay nói đến chia ly, cách trở vẫn dùng những hình ảnh dòng sông, con đò, bến nước. Trong “Tống biệt hành”, Thâm Tâm đã nằm lòng cái tâm thức sông nước ấy của người Việt nên mới có chuyện “Đưa người ta không đưa qua sông/ Sao có tiếng sóng ở trong lòng…” Nói tới “sông nước” trong tâm thức của người Việt là đề cập đến khá nhiều khía cạnh: điều kiện địa lý, môi trường sống, tiến trình lịch sử, đặc điểm dân tộc và phong tục, tập quán…Ý niệm về sông nước, với cách xem ý niệm là “cái chứa đựng” sự hiểu biết của con người về thế giới được hình thành trong ý thức trong quá trình tri nhận và hiện thân trong ngôn ngữ được truy nguyên lại, trong ý niệm có khái niệm là trung tâm (là cái phổ quát, có thể gọi là mang tính khoa học) và thứ hai là đặc thù văn hóa. Phân tích theo cấu trúc của ý niệm [9:140], ý niệm “sông nước” đều có thể nhận thấy ở các khía cạnh cấu trúc sau: Khái niệm sông nước theo từ điển.
Sông nước trong văn hóa dân tộc Việt Nam. Sông nước trong văn hóa người Việt. Sông nước trong nhóm xã hội. Sông nước trong văn hóa vùng.
Sông nước trong mỗi cá thể người Việt. “Sông nước” liên quan đến nhận thức, tư duy, văn hóa cũng như nét tâm hồn của người Việt từ xưa đến nay, vì vậy, năm thành tố làm nên ý niệm sông nước rõ ràng chúng ta đều cảm nhận rất đầy đủ. Sông nước đã được khái niệm trong từ điển và là một nét đặc trưng văn hóa của cả mọi dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam nói chung và dân tộc Việt nói riêng. Sông nước có ý nghĩa riêng với từng nhóm xã hội, từng cá thể người Việt Nam và có những đặc trưng riêng tùy theo vùng miền.