Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TRONG DIEU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 1. Tam quan trọng cia phát triển du lịch trong điều kiện hội nhập kinh tế 1. Du lịch và những đặc trưng của hoạt động du lich trong nên kinh tế Du lịch là một hiện tượng gắn lién với đời sống kinh tế - xã hội qua các thời đại. Ngay từ thời cổ đại, với điều kiện kinh tế và kỹ thuật còn ở trình độ rất thấp nhưng cũng đã có những hoạt động du lịch.
Bởi lẽ, con người dù ở bất cứ hoàn cảnh và điều kiện sinh sống như thế nào cũng không bao giờ chịu cố định ở một trạng thái, điều đó bắt nguồn từ nhu câu tự nhiên của con người nhằm tránh sự đơn điệu, nhàm chán, mệt mỏi. Đây là một thuộc tính tâm lý, biểu hiện sự đòi hỏi tất yếu về vật chất, tinh than của con người, phan ánh mối liên hệ mật thiết và phụ thuộc giữa con người với thế giới xung quanh. Do những thay đổi và phát triển của môi trường tự nhiên, đặc biệt là những tiến bộ của khoa học, kỹ thuật và công nghệ, của điểu kiện kinh tế, chính trị, xã hội. qua các thời đại, nhu cầu tự nhiên của con người, trong đó nhu cầu của du lịch cũng không ngừng thay đổi và phát triển.
Lúc đầu, đó chỉ là hiện tượng của từng cá thể rời khỏi nơi ở, nơi làm việc trong một thời gian ngắn để nghỉ ngơi, giải trí hoặc thăm viếng bạn bè trong địa phương hay trong vùng. Những bắt nguồn từ nguyên nhân thay đổi của các điều kiện trên, hiện tượng đó ngày càng có sức cuốn hút mạnh mé và trở thành nhu cầu phổ biến của nhiều đối tượng dân cư. Vậy Du lịch là gì ? Có nhiều quan điểm khác nhau: - “Du lịch là những hoạt động có liên quan đến việc di chuyển của một người hay đoàn người từ nơi thường trú đến địa điểm khác trong nội địa hoặc ra nước ngoài (bao gồm các dich vụ ăn, ở, di lại, vui chơi, giải trí. - Định nghĩa của hai giáo sư Hangiker & Kraff đã được Hội nghị lần thứ V của các nhà khoa học trong lĩnh vực Du lịch của thế giới thừa nhận “Du lịch là tập hợp các mối quan hệ, các hiện tượng và các hoạt động kinh doanh bắt nguôn từ cuộc hành trình và lưu trú của cá thể ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ với mục đích hòa bình.
Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc để hưởng lương”. Luật Du lịch Việt Nam được công bố ngày 27 tháng 6 năm 2005 giải thích: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu câu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định [20, tr. Trên lĩnh vực lý luận, các nhà nghiên cứu khoa học về du lịch của thế giới dưới các góc độ khác nhau cũng đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về du lịch. Tuy vậy, những sự khác nhau đó vẫn không thể phủ nhận bản chất của du lich, đó là: một nhu cau tự nhiên của con người đông thời là một nhu cầu mang tính xã hội.
Du khách là gì? “Du khách là bất cứ ai ngủ một đêm tại nơi không phải là nơi cư trú thường xuyên và mục đích của chuyến đi không phải là để kiếm tiền”. Khái niệm này rất khác nhau ở từng quốc gia nên khi sử dụng số liệu thống kê phải đặc biệt chú ý yếu tố cấu thành của nó. Tổ chức du lịch thế giới đưa ra sơ đổ phân loại du khách như sau: * Người đi đây đó (Travellers - Voyageurs): - Không tính vào thống kê du lịch: Người làm việc ở vùng biên giới; Nhân viên của lực lượng quân sự; Dân tị nạn; Khách quá cảnh đại sứ quán; Những người nhập cư tạm thời hoặc thường xuyên; Nhân viên lãnh sự quán; Dân du cư. - Tính vào thống kê du lịch: Người đi thăm viếng (Visiteurs) Với mục đích nghỉ ngơi, vui chơi giải trí, sức khỏe, công việc, hội nghị, thé thao, thăm viếng gia đình, thăm viếng bạn bè,.
Chia ra du khách (Visiteurs), trên 24 giờ. Có thủ tục xuất nhập cảnh đây đủ: Người nước ngoài; Kiều dân ở nước ngoài; Thủy thủ đoàn, phi hành đoàn đến. Người lữ hành (Excursionnists), dưới 24 giờ. Có thủ tục xuất nhập cảnh đầy đủ: Người đi chơi trong ngày; Người đi trên các tàu; Thủy thủ đoàn, phi hành đoàn.
Luật Du lịch Việt Nam được công bố ngày 27 tháng 6 năm 2005 giải thích: - Khách du lich là người di du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề đểnhận thu nhập ở nơi đến. - Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, cộng đông dân cư và cơ quan, tổ chhức, cá nhân có liên quan đến du lịch. Nhu cầu du lịch: Trong thực tiễn cuộc sống, để tổn tại và phát triển con người có vô số nhu cầu, mỗi nhu cầu đều hàm chứa một nội dung với những đặc trưng cụ thể. Đối với du lịch, đó là “Nhu cầu được đi đến một địa phương khác ngoài nơi cư trú của mình để nghỉ ngơi, giải trí, tìm hiểu, thưởng thức theo sở thích cá nhân, nhằm làm cho cuộc sống được thoải mái và thú vị hơn, giảm bớt những căng thẳng của công việc hằng ngày”.
Đây chính là nhu cầu đặc trưng của mọi cuộc hành trình du lịch. Trong trường hợp các nhu cầu này không được thực hiện thì có thể xem như chuyến du lịch không thành công. Chất lượng của cuộc hành trình du lịch cao hay thấp phụ thuộc vào mức độ thoả mãn các nhu câu đặc trưng đó. Những nhu câu đặc trưng không tổn tại ở trạng thái độc lập mà được thể hiện trong các nhu câu cụ thể.
Nói cách khác, khách du lịch thoả mãn nhu cầu đặc trưng đó thông qua việc tiêu dùng các dịch vụ hàng hóa cụ thể. Căn cứ vào vị trí và tính chất của chúng, các nhu cầu được phân thành các nhóm sau: Các nhu cầu chính và thứ yếu: gồm các nhu câu đi lại, lưu trú và ăn uống. Chi phí cho những nhu câu này thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chỉ phí mỗi chuyến du lịch. Đồng thời đây cũng là nhu cầu thiết yếu của cuộc sống.
Các nhu cầu bổ sung: là những nhu cầu ngoài nhu câu thiết yếu. Trong đó có một số nhu cầu đã được dự định trước khi đi, nhưng phần lớn nhu cau này phát sinh trong quá trình du lịch. Tỷ trọng chi phí cho nhu câu bổ sung có xu hướng ngày càng tăng cao, thậm chí có trường hợp còn lớn hơn tỷ trọng chi phí cho nhu câu chính và thiết yếu. Đặc điểm nhu cầu du lịch: Nhu cầu du lịch là một nhu cầu tương đối trọn vẹn của cuộc sống con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình.
Trong đó bao gồm các nhu cầu thiết yếu, thứ yếu và các nhu cầu khác. Có nhu cầu ở dạng vật chất cụ thể, nhưng cũng có những nhu câu về văn hóa tinh thần. Nhu cầu du lịch không những phong phú về nội dung mà còn đa dạng về hình thức và phương pháp thực hiện nó. Bởi lẽ, khách du lịch thuộc nhiều dân tộc, khu vực, thành phần xã hội, độ tuổi và giới tính khác nhau.
Do môi trường kinh tế, xã hội, phong tục tập quán và tâm lý của họ khác nhau nên nhu cầu, thị hiếu và kha năng thanh toán của mỗi con người cũng không giống nhau. Mức độ thoả mãn nhu cầu du lịch phụ thuộc vào kha năng thanh toán (nhu câu có khả năng thanh toán) của từng du khách. Nhu cầu tự nhiên của từng con người nói chung là không có giới hạn nhưng trong điều kiện của nền kinh tế thị trường thì mức độ thực hiện các nhu cầu đó lại phụ thuộc vào nguồn thu nhập và cách phân bố chỉ tiêu của mỗi người. Du lịch chỉ là một trong số các nhu cầu đó mà thôi.
Các hoạt động phục vụ du lịch tác động trực tiếp đến nhu câu du lich của du khách một cách tích cực hoặc tiêu cực. Sự hứng thú hay chán nan trong việc thực hiện các nhu cầu, kéo dài hay rút ngắn thời gian du lịch của du khách có nguyên nhân khách quan từ phía các hoạt động phục vụ du lịch. Đó là mức độ gợi mở nhu cầu, các hoạt động thông tin quảng cáo, chất lượng phục vụ, giá cả các dịch vụ, hàng hoá. do các cơ sở du lịch thực hiện.
Điều kiện thực hiện các nhu cầu du lịch: Du lịch là một nhu cầu tự nhiên của con người. Nhưng không phải bất cứ ai, với bất cứ lúc nào và ở đâu cũng có thể thực hiện được các nhu câu đó. Trái lại, để thực hiện các nhu cầu du lịch, cần phải có một số diéu kiện sau đây: có thời gian rỗi - là điểu kiện cân thiết có của một cuộc hành trình du lịch, có kha năng thanh toán các khoản chỉ tiêu trong quá trình du lịch, có người tổ chức và cung ứng các dịch vụ du lịch. Sản phẩm du lịch và sự khác biệt của nó - San phẩm du lịch là sự tổng hợp những gì nhằm đáp ứng nhu cau và mong muốn của du khách.
- Sự khác biệt của sản phẩm du lịch: Sản phẩm du lịch được bán cho du khách (người tiêu dùng) trước khi họ thấy sản phẩm đó. Sản phẩm du lịch cơ bản là không cụ thể nên nó rất độc đáo. “Thực sự nó là một kinh nghiệm hơn là một món hàng vật chất cụ thể mà khách hàng tiềm tàng có thể kiểm tra trước khi mua. Khách mua một sản phẩm du lịch phải tiêu pha thời giờ và tiền bạc trước khi sử dụng sản phẩm này.
Các sản phẩm du lịch thường ở xa nơi khách hàng thường trú, do đó phải cần đến một hệ thống phân phối thông qua việc sử dung các đơn vị trung gian (như cơ quan du lịch và đại lý du lịch). Sản phẩm du lịch tạo ra sự tổng hợp các nguồn kinh doanh khác nhau có mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau (như: máy bay, khách sạn, tụ điểm vui chơi giải trí, nhà hàng. 10 Khách mua một sản phẩm du lịch thông thường ít trung thành hoặc không trung thành với một thương hiệu công ty, do đó tạo ra sự bất ổn về nhu cầu. Luật du lịch Việt Nam được công bố ngày 27 tháng 6 năm 2005 giải thích: - Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cân thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch.