CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu 1. Về mặt lý luận Ngày nay, xu hướng hội nhập sâu rộng của nền kinh tế quốc tế cùng những tác động của thay đổi môi trường toàn cầu đã và đang đặt ra những cơ hội và thách thức mới cho ngành du lịch của mỗi quốc gia, đòi hỏi các bên tham gia phải tăng cường hợp tác và chuyển mình để bắt kịp với những biến đổi nhanh chóng đó. Ngoài động cơ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội (KT - XH), tăng cường quan hệ hiểu biết lẫn nhau vì một thế giới hòa bình và thịnh vượng, du lịch trong bối cảnh mới còn được xem là một phương tiện để bảo vệ môi trường (BVMT) và góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc.
Xu hướng phát triển du lịch có trách nhiệm đã dần phác họa và định hình nên bức tranh tổng thể của ngành du lịch thời hiện đại gắn với mục tiêu phát triển bền vững (PTBV). Thay vì tập trung vào tiềm năng, sự sẵn có của tài nguyên du lịch, trọng tâm phát triển du lịch đang dần chuyển dịch sang hướng tiêu dùng có trách nhiệm - “xem, hưởng thụ nhưng không gây hại” và nỗ lực đảm bảo cân bằng lợi ích cho các bên tham gia (Weaver, 2001). Du lịch có trách nhiệm được quan tâm từ những năm 1980 (Mathieson and Wall, 1982; Krippendorf, 1987; Lea, 1988. Sau đó, có nhiều nghiên cứu (Butler, 1990; Poon, 1993; Valentine, 1993; Buckley 1994; Pagdin, 1995; Wearing and Neil, 1999; Wearing, 2001.) về các loại hình/xu hướng du lịch mới “truyền tải thông điệp có trách nhiệm” đã ra đời như: du lịch xanh (green tourism), du lịch sinh thái (DLST - ecotourism), du lịch cộng đồng (community tourism), du lịch thay thế (alternative tourism).
Trong đó, DLST được quan tâm hơn cả bởi đây được xem là loại hình du lịch đảm bảo mục tiêu PTBV trên các mặt KT - XH, môi trường (Obenaus, 2005; Gray and Campbell, 2007) và có nhiều ưu điểm hơn so với các loại hình du lịch đại chúng (mass tourism) trước đây (Marzouki et al. Điểm khác biệt cơ bản của DLST so với các loại hình du lịch thông thường là không chỉ thỏa mãn nhu cầu (khám phá, học hỏi, mở rộng tầm hiểu biết) cho khách du lịch mà còn mang lại lợi ích cho người dân địa phương (NDĐP), có giáo dục BVMT và ủng hộ bảo tồn (Wood, 2002). Từ khi ra đời đến nay, DLST đã được quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Theo Fennell (2001, tr.
407), kết quả sau khi tổng hợp 85 khái niệm về DLST cho thấy: Có 20 từ khóa chủ yếu được sử dụng liên quan đến DLST, trong đó các yếu tố được nhắc đến nhiều nhất là: gắn với các khu vực tự nhiên (chiếm 62,4%), bảo tồn (61,2%), giá trị văn hóa (50,6%), tạo ra lợi ích cho NDĐP (48,2%), giáo dục (41,2%), tính bền vững (25,9%) và các tác động/ảnh hưởng (25%). 2 DLST đang là sự lựa chọn mang tính xu hướng phát triển tất yếu ở cả hiện tại và tương lai như một trong những “cứu cánh” giúp hỗ trợ giải quyết các vấn đề thay đổi môi trường toàn cầu và nâng cao trách nhiệm xã hội đối với cộng đồng dân cư bản địa. Là một hướng nghiên cứu thú vị và có sức hấp dẫn đối với nhiều nhà nghiên cứu trong lĩnh vực du lịch nhưng theo nghiên cứu của Fennell (2001) và qua kết quả công bố của những công trình gần đây (Weaver and Lawton, 2007; Cobbinah, 2015; Chandel and Mishra, 2016….) cho thấy không dễ gì tìm thấy các khoảng trống trong nghiên cứu về DLST bởi hầu như các khía cạnh liên quan đến DLST đa phần đã được quan tâm nghiên cứu hoặc đã được đề cập đến trong một chừng mực nào đó. Trong các hướng nghiên cứu về DLST, nghiên cứu về các lợi ích cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến lợi ích của người dân địa phương (NDĐP) khi tham gia phát triển DLST là một hướng nghiên cứu tuy không mới nhưng còn ít được quan tâm nên một số khía cạnh có thể chưa được thăm dò nghiên cứu hoặc đã được phát hiện nhưng chưa có nhiều nghiên cứu khám phá, kiểm định tổng hợp các mối quan hệ (MQH) này (Matilde and Gunnarsdotter, 2012; Mondino and Beery, 2016; Nsukwini and Bob, 2016).
Nhấn mạnh vai trò của NDĐP trong phát triển DLST, Scheyvens (1999) đã chỉ ra DLST chỉ thành công khi chia sẻ công bằng các lợi ích của NDĐP thông qua việc trao quyền cho họ được hưởng các giá trị về kinh tế, văn hóa - xã hội (VH - XH) và chính trị. Fennell (2001) đã tổng hợp yếu tố lợi ích của NDĐP chiếm 48,2% các nghiên cứu liên quan đến DLST. Tuy nhiên, đa phần các công trình chưa đề cập rõ đó là những lợi ích gì (chiếm 58,1%); còn lại, lợi ích về kinh tế (chiếm 22,4%), lợi ích chung (15,3%), phúc lợi xã hội (9,4%) và phát triển cộng đồng (1,2%). Theo Cobbinah (2015), lợi ích của phát triển DLST có sự bổ sung, điều chỉnh theo hướng trước đây (những năm 1990) gắn chủ yếu với lợi ích giáo dục và BVMT.
Sau đó, bổ sung thêm lợi ích KT - XH, sự công bằng, trách nhiệm bảo tồn văn hóa và PTBV. Gupta and Rout (2016) cho rằng: phát triển DLST cũng đồng nghĩa với việc mang lại các các lợi ích cho NDĐP, bao gồm trao quyền cho cộng đồng, gia tăng thu nhập, cải thiện cơ sở hạ tầng, tạo công ăn việc làm và BVMT. Như vậy, dù đề cập dưới các quan điểm khác nhau, lợi ích của của NDĐP trong phát triển DLST có thể bao gồm bốn nhóm: lợi ích chính trị, kinh tế, VH - XH và BVMT. Tuy nhiên, phần lớn các công trình mới chỉ tập trung nghiên cứu một vài lợi ích từ việc tham gia phát triển DLST của NDĐP mà chưa quan tâm nhiều đến những yếu tố ảnh hưởng đến lợi ích của NDĐP trong phát triển DLST để làm căn cứ đề xuất gia tăng lợi ích cho NDĐP trong từng bối cảnh cụ thể.
Nhận định này được củng cố qua kết quả nghiên cứu của Fennell (2001), yếu tố lợi ích của NDĐP được quan tâm nghiên cứu khá nhiều (48,2%), nhưng phần lớn các nghiên cứu này chưa chỉ ra cụ thể các yếu tố nào có ảnh hưởng đến lợi ích của NDĐP. Nghiên 3 cứu nhắc đến yếu tố tác động/ảnh hưởng (impacts/effects) nhưng mới chỉ đề cập đến những tác động của DLST đến môi trường (không tiêu dùng, tác động thấp…). Bên cạnh đó, các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển DLST thường thay đổi theo thời gian, bối cảnh (KT - XH), thể chế, chính sách (quốc gia, địa phương), nguồn lực (tự nhiên, văn hóa, tài chính, con người) và mức độ hợp tác, liên kết của các bên tham gia… Vì thế, khó có mô hình nghiên cứu tổng quát nào đảm bảo tính đại diện cho mối quan hệ giữa phát triển DLST/lợi ích của NDĐP trong phát triển DLST và các yếu tố ảnh hưởng đến chúng khi nguồn lực, đặc điểm KT - XH, thể chế chính trị tại mỗi bối cảnh, thời điểm nghiên cứu là khác nhau. Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến lợi ích của NDĐP trong phát triển DLST thực sự cần thiết bởi nếu đánh giá, phân tích/kiểm định được ảnh hưởng (tích cực hoặc hạn chế) của những yếu tố này trong từng bối cảnh cụ thể có thể cung cấp thêm cơ sở lý luận làm căn cứ góp phần giúp NDĐP và các bên liên quan có thêm gợi ý định hướng khai thác hiệu quả hơn hoạt động DLST trong thực tiễn.
Khi nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển KT - XH nói chung và du lịch nói riêng, tiếp cận dưới góc độ các loại vốn của một quốc gia hay một địa phương nào đó, theo DFID (1999) và Goodwin (2003) và có 05 loại cơ bản, bao gồm: vốn tự nhiên, vốn con người, vốn tài chính, vốn sản xuất và vốn xã hội (VXH). Trong đó, vốn tự nhiên được xem là tài nguyên thiên nhiên có giá trị cung cấp nguyên, nhiên liệu cho sản xuất, dịch vụ. Vốn con người bao gồm sức khỏe, kiến thức, kỹ năng và động lực của mỗi cá nhân được hình thành chủ yếu thông qua rèn luyện, giáo dục, đào tạo. Vốn tài chính tạo điều kiện cho việc giao dịch và sở hữu các loại vốn khác thông qua giá trị quy đổi của nó.
Vốn sản xuất chính là các hàng hóa vật chất hoặc tài sản cố định tham gia vào quá trình sản xuất của con người. VXH theo Coleman (1988) là khái niệm chỉ “mạng lưới quan hệ và cách thức tương tác giữa con người với nhau trong mạng lưới nhằm mang lại lợi ích cho cả cá nhân và tập thể”. Sự thịnh vượng về nền kinh tế và sự tiến bộ trong đời sống VH - XH của một quốc gia/địa phương thông thường được biểu hiện ở “vốn hữu hình” và các các khía cạnh vật chất như sức mạnh về kinh tế (thu nhập, đóng góp cho GDP, giá trị tiền tệ…) hay được đo lường bằng các chỉ tiêu về chất lượng cuộc sống, trình độ dân trí… Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, lợi ích cho phát triển KT - XH nói chung hay du lịch nói riêng không phải lúc nào cũng do những giá trị vật chất, những “thước đo ngang giá” - “vốn hữu hình” mang lại mà còn có thể do các yếu tố “vô hình” như các giá trị được tạo dựng từ lòng tin, sự tôn trọng các chuẩn mực, quy tắc, sự liên kết hợp tác trên tinh thần chia sẻ, tương trợ lẫn nhau. Đây là những mặt biểu hiện của VXH (Putnam, 1995; Dasgupta and Serageldin, 1999; Dodd, 2016).
VXH được hình 4 thành từ mối quan hệ giữa các cá nhân/nhóm người trong xã hội, được xem như một “nguồn lực” quan trọng trong phát triển KT - XH và mang lại lợi ích cho các bên tham gia. Lòng tin là hạt nhân của VXH, là chữ tín trong quan hệ giữa các cá nhân, là “chất keo” gắn kết và duy trì mạng lưới các quan hệ xã hội (Hoàng Bá Thịnh, 2009). Để duy trì VXH, cũng giống như các trao đổi khác, tác nhân (cá nhân/tổ chức) muốn có điều mình muốn thì phải “trao đổi” cái mà người khác muốn ở mình; phí tổn để trao đổi trong VXH không phải lúc nào cũng là “ngang giá”, bởi hạt nhân của VXH là lòng tin mà những chi phí cho lòng tin chính là sự tin cậy lẫn nhau, là lòng quảng đại giữa con người với con người dựa trên sự tin tưởng đã có để giải quyết các vấn đề chung.