Giáo trình Kinh tế Du lịch - Trường ĐH Kinh tế Quốc dân (GS. Nguyễn Văn Đính, TS. Trần Thị Minh Hòa)

Giáo trình Kinh tế Du lịch của GS. Nguyễn Văn Đính cung cấp kiến thức chuyên sâu về lý thuyết, quản lý và phát triển kinh tế trong ngành du lịch Việt Nam.

Trường đại học

Đại học Kinh tế Quốc dân

Chuyên ngành

Kinh tế du lịch

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình

2006

416
0
0

Phí lưu trữ

75 Point

Tóm tắt

I. Giới Thiệu Về Giáo Trình Kinh Độ Du Lịch

Giáo trình Kinh tế Du lịch do GS. Nguyễn Văn Đính biên soạn là một công cụ học tập quan trọng cho sinh viên chuyên ngành Du lịch và Khách sạn tại Đại học Kinh tế Quốc dân...

1.1. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Kinh Độ Du Lịch

Kinh tế Du lịch là một lĩnh vực đa dạng và phức tạp, đòi hỏi những kiến thức chuyên sâu và kỹ năng quản lý hiệu quả...

1.2. Phương Pháp Và Giải Pháp Trong Kinh Độ Du Lịch

3.1. Quản lý nguồn nhân lực Quản lý nguồn nhân lực trong Kinh tế Du lịch đòi hỏi những chiến lược và biện pháp để phát triển và giữ chân những nhân viên có chuyên môn cao và kinh nghiệm...

II. Ứng Dụng Thực Tiễn Và Kết Quả Nghiên Cứu

Kinh tế Du lịch đã và đang đóng góp vào phát triển kinh tế và xã hội của nhiều nước trên thế giới...

III. Kết Luận Và Tương Lai Của Kinh Độ Du Lịch

Kinh tế Du lịch là một lĩnh vực đầy tiềm năng và đang phát triển nhanh chóng...

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Giao trinh kinh te du lich gs ts nguyen van dinh ts tran thi minh hoa 116253

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện định nghĩa về du lịch. Định nghĩa về du lịch trong Từ điển bách khoa quốc tế về du lich - Le Dictionnaire international du tourisme do Vién han lâm khoa học quốc tế về du lịch xuất bản: "Du lịch là tập hợp các hoạt động tích cực của con người nhằm thực hiện một dạng hành trình, là một công nghiệp liên kết nhằm thoả mãn các nhu cầu của khách du lịch. Du lịch là cuộc hành trình mà một bên là người khởi hành với mục đích đã được chọn trước và một bên là những công cụ làm thoả mãn các nhu cầu của họ”. Nhìn chung định nghĩa này không được nhiều nước chấp nhận.

Định nghĩa này chỉ xem xét chung hiện tượng du lịch mà ít phân tích nó như một hiện tượng kinh tế. Định nghĩa của Đại học kinh tế Praha (Cộng hòa Séc). "Du lịch là tập hợp các hoạt động kỹ thuật, kinh tế và tổ chức liên quan đến cuộc hành trình của con người và việc lưu trú của họ ngoài nơi ở thường xuyên với nhiều mục đích khác nhau, loại trừ mục đích hành nghề và thăm viếng có tổ chức thường kỳ”. Định nghĩa về du lịch của Trường Tổng hợp kinh tế thành phố Varna, Bulgarie: "Du lịch là một hiện tượng kinh tế - xã hội được lặp đi, lặp lại đều đặn - chính là sản xuất và trao đổi dịch vụ, hàng hoá của các đơn vị kinh tế riêng biệt, độc lập - đó là các tổ chức, các xí nghiệp với cơ sở vật chất kỹ thuật chuyên môn nhằm đảm bảo sự đi lại, lưu trú, ăn uống, nghỉ ngơi với mục đích thoả mãn các Trường Đợi học Kinh tế Quốc đôi GIAO TRINH KINH TE DULICH nhu cầu cá thể về vật chất và tính thần của những người lưu trú ngoài nơi ở thường xuyên của họ để nghỉ ngơi, chữa bệnh, giải trí (thuộc các nhu cầu về văn hoá, chính trị, kinh tế, v.) mà không có mục đích lao động kiếm lời”.

Định nghĩa này đã xem xét rất kỹ hiện tượng du lịch như là một phạm trù kinh tế với đầy đủ tính đặc trưng và vai trò của một bộ máy kinh tế, kỹ thuật điều hành. Tuy nhiên, nó cũng có nhược điểm là lặp đi lặp lại một số ý. Định nghĩa cua Michael Coltman (MY) : Ngược lại với những định nghĩa ở trên, Ông Michael Coltman đã đưa ra một định nghĩa rất ngắn gọn về du lịch: "Du lịch là sự kết hợp và tương tác của 4 nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du khách bao gồm: du khách, nhà cung ứng dịch vụ du lịch, cư dân sở tại và chính quyền nơi đón khách du lịch”. Có thể thể hiện mối quan hệ đó bằng sơ đồ sau : Nhà cung ứng Du khách ‘dich vu du lịch Chính quyền địa Dân cư sở tại.

46———————————*> phương nơi đón khách du lịch lô. Trường Đợi học Kinh tế Quốc dôn Định nghĩa của Hội nghị quốc tế về thống kê du lịch ở Otawa, Canada diễn ra vào tháng 6/1991: "Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình), trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm”. Trong định nghĩa trên đây đã quy định rõ mấy điểm: Ngoài "Môi trường thường xuyên”, có nghĩa là loại trừ các chuyến đi trong phạm vi nơi ở thường xuyên các chuyến đi có tổ chức thường xuyên hàng ngày, các chuyến đi thường xuyên định kỳ có tổ chức phường hội giữa nơi ở và nơi làm việc, và các chuyến đi phường hội khác có tổ chức thường xuyên hàng ngày. "Khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước” - sự quy định này nhằm loại trừ di cư trong một thời gian dài.

"Không phải là tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm” - có nghĩa là loại trừ việc hành nghề lâu dài hoặc tạm thời. Để có quan niệm đầy đủ cả về góc độ kinh tế và kinh doanh của du lịch, khoa Du lịch và Khách sạn (Trường Đại học kinh tế Quốc dân Hà Nội) đã đưa ra định nghĩa trên cơ sở tổng hợp những lý luận và thực tiễn của hoạt động du lịch trên thế giới và ở Việt Nam trong những thập niên gần đây: "Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hoá và dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lại lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và các nhu cầu khác của khách du lịch. Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế chính trị - xã hội thiết thực cho nước làm du lich va cho ban thân doanh nghiệp”. Trong Pháp lệnh Du lịch của Việt Nam, tại Điều 10 thuật ngữ "Du lịch" được hiểu như sau: "Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định".

Như vậy, du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành mội tổng thể hết sức phức tạp. Hoạt động du lịch vừa có đặc điểm của ngành kinh tế, lại có đặc điểm của ngành văn hoá - xã hội. Trên thực tế, hoạt động du lịch ở nhiều nước không những đã đem lại lợi ích kinh tế, mà còn cả lợi ích chính trị, văn hoá, xã hội. ở nhiều nước trên thế giới, ngành du lịch phát triển với tốc độ khá nhanh và trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân, nguồn thu nhập từ ngành du lịch đã chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng sản phẩm xã hội.

Chính vì những lẽ trên, Hội nghị du lịch thế giới họp tại Manlla, Philippin (1980) đã ra tuyên bố Manila về du lịch, trong Điều 2 đã ghi rõ: ". Trước ngưỡng cửa của thế kỷ 21 và trước triển vọng của những vấn đề đang đặt ra đối với nhân loại, đã đến lúc cần thiết và phải phân tích bản chất của du lịch, chủ yếu đi sâu vào bề rộng mà du lịch đã đạt được kể từ khi người lao động được quyển nghỉ phép năm, đã chuyển hướng du lịch từ một phạm vi hẹp của thú vui sang phạm vi lớn của cuộc sống kinh tế và xã hội. Phần đóng góp của du lịch vào nền kinh tế quốc dân và thương mại quốc tế đang làm cho nó trở thành một luận cứ tốt cho sự phát triển của thế giới. Vai trò thiết thực của du lịch trong hoạt động kinh tế quốc dân, trong trao đổi quốc tế và trong sự cân bằng cán cân thanh toán, đang đặt du lịch vào vị trí trong số các ngành hoạt động kinh tế thế gIới quan trọng nhất”.

Khái niệm "khách du lịch" Định nghĩa về khách du lịch xuất hiện lần đầu tiên vào cuối thế kỷ thứ XVIHI tại Pháp. Thời bấy giờ các hành trình của người Đức, người Đan Mạch, người Bồ Đào Nha, người Hà Lan và người Anh trên đất Pháp được chia ra làm 2 loại. Cuộc hành trình nhỏ (vòng đi nhỏ “Le petIt tour”) là cuộc hành trình từ Paris đến miễn Đông Nam nước Pháp. Cuộc hành trình lớn (vòng di lớn “Le grand tour”) là cuộc hành trình theo bờ Địa Trung Hải, xuống phía Tây Nam nước Pháp và vùng Bourgone.

Khách du lịch được định nghĩa là người thực hiện một cuộc hành trình lớn "Faire le grand tour”. Nam 1800 tại Vương quốc Anh, khách du lịch cũng được định nghĩa là người thực hiện cuộc hành trình lớn trên đất liền xuyên nước Anh. Vào đầu thế ky XX nha kinh tế học người áo, lozef Stander định nghĩa: "Khách du lịch là hành khách xa hoa ở lại theo ý thích, ngoài nơi cư trú thường xuyên để thoả mãn những nhu cầu sinh hoạt cao cấp mà không theo đuổi các mục đích kinh tế”. Nhà kinh tế học người Anh, Odgil Vi khẳng định: để trở thành khách du lịch cần có hai điều kiện.

Thứ nhất: Phải xa nhà thời gian dưới một năm; Thứ hai: Ở đó phải tiêu những khoản tiền đã tiết kiệm ở nơi khác. Một người Anh khác, ông Morval cho rằng khách du lịch là người đến đất nước khác theo nhiều nguyên nhân khác nhau, những nguyên nhân đó khác biệt với những nguyên nhân phát sinh để cư trú thường xuyên và để làm thương nghiệp, và ở đó họ phải tiêu tiền đã kiếm ra ở nơi khác. Giáo sư Khadginicolov - một trong những nhà tiền bối về du lịch của Bulgarie đưa ra định nghĩa về khách du lịch: "Khách du lịch là người hành trình tự nguyện, với những mu. đích hoà bình.

Trong cuộc hành trình của mình họ đi qua những chặng đường khác nhau và thay đổi một hoặc nhiều lần nơi lưu trú của mình. Các định nghĩa nêu ở trên đều mang tính phiến diện, chưa đầy đủ, chủ yếu mang tính chất phản ánh sự phát triển của du lịch đương thời và xem xét không đầy đủ, hạn chế nội dung thực của khái niệm - khách du lịch. Để nghiên cứu một cách đầy đủ và có cơ sở đáng tin cậy, cần tìm hiểu và phân tích một số định nghĩa về "Khách du lịch" được đưa ra từ các Hội nghị quốc tế về du lịch hay của các tổ chức quốc tế có quan tâm đến các vấn đề về du lịch. Định nghĩa của các tổ chức quốc tế về khách du lịch Định nghĩa của Liên hiệp các quốc gia - League of Nations Năm 1937 League of Nations, đưa ra định nghĩa về "Khách du lịch nước ngoài - Foreign tourist”: "Bất cứ ai đến thăm một đất nước khác với nơi cư trú thường xuyên của mình trong khoảng thời gian ít nhất là 24h".

2 22 Theo định nghĩa này tất cả những người được coi là khách du lịch là: Những người khởi hành để giải trí, vì những nguyên nhân gia đình, vì sức khoẻ v. Những người khởi hành để gặp gỡ, trao đổi các mối quan hệ về khoa học, ngoại giao, tôn giáo, thê thao, công vụ v. Những người khởi hành vì các mục đích kinh doanh (Business reasons). Những người cập bến từ các chuyến hành trình du ngoại trên biển (Sca cruise) thậm chí cả khi họ dừng lại trong khoảng thời gian ít hơn 24h.

Những người không được coi là khách du lịch là: Những người đến lao động, kinh doanh có hoặc không có hợp đồng lao động. Những người đến với mục đích định cư. Sinh viên hay những người đến học ở các trường. Những người ở biên giới sang làm việc!

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ