Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm về sức khoẻ Theo tuyên ngôn của Tổ chức Y tể Thế giới tại hội nghị Alma- Ata năm 1978 thì: “Sức khoẽ là một tinh trạng thoải mái hoàn toàn về thê chất, tinh thần và xã hội mà không chỉ giới hạn ở việc không mắc bệnh hoặc thương tật”. tại hội nghị Ottawa định nghĩa nãy của Tổ chức Y tế Thế giới dã được mở rộng, trong dó sức khoè còn phải tỉnh đến “quyền con người”, “sự bào vệ cùa xã hội”, “thu nhập tối thiểu”, “nhà ở hợp lý”. Như vậy, trên lĩnh vực phòng bệnh, để có sức khoé cần phải có một lối sống lảnh mạnh và những hoạt động y tế công cộng hiệu quả.
Trên lĩnh vực khảm chữa bệnh, đỏi hỏi phải có một hệ thong cung ứng dịch vụ thuận tiện, phù hợp và chất lượng. Tuyên ngôn Alma- Ata còn nhẩn mạnh rằng “mọi người đều có quyền và đều có nhiệm vụ tham gia với tư cách cá nhân hoặc tư cách tập thể vào việc hoạch định và thực hiện chăm sóc sức khoẻ cho cuộc sổng riêng cùa mình [26]. Các yểu tổ ảnh hưởng đen sức khoẻ Có nhiều yếu tố ảnh hường đến sức khoẻ, tuy nhiên Tổ chức Y te Thế giới đưa ra 4 nhóm yếu tố quan trọng bao gồm: Yếu tổ sinh học (nội sinh) của cảc cá thề, yếu tổ môi trường sống, yếu tố thuộc hành vì vả loi song cùa người dân và nhóm yếu tố thuộc về dịch vụ ỵ tể [1], [26]. Muốn cải thiện và nâng cao sức khỏe cho người dân thì ngoài các yểu tổ cỏ liên quan đến cá nhân thì phía dịch vụ y tế là vô cùng quan trọng.
Dịch vụ y tê sẽ tác dộng trực tiểp tớì sức khỏe cùa người dân thông qua các dịch vụ phòng bệnh và diều trị. Theo Tổ chức Y tế Thề giới trong lĩnh vực cung cấp và phân phổi dịch vụ có 2 vẩn dề chính cần quan tâm: thứ nhất là xác định qui trình ưu tiên, thứ hai là nâng cao sức mua vả đề ra nhùng cơ chế khuyến khích mới cùa nhà nước đoi với tô chức y tể công và tư [26]. trong việc cung cấp dịch vụ cằn quan tâm nhiều đến chất lượng vì nó là yếu tổ quyết định đối với thành công cùa một dịch vụ 6 y tc. Không những thế, đế hấp dẫn bệnh nhân người cung cấp dịch vụ cũng cẩn quan tâm đến sự tuận tiện của dịch vụ, thiết lập mối quan hệ tốt giữa bệnh nhãn và thay thuốc.
Tình hình sức khoẻ và tổ chức hệ thống y tể Việt Nam 1. Tình hình súc khỏe, bệnh tật và tử vong Trong những nằm qua, bằng sự cố gang nỗ lực với sự giúp dở của bạn bè quốc tể, nước ta đã thành công trong nhiều lĩnh vực, trong đó lĩnh vực y tế là một thành công vượt bậc. Các chỉ sổ sức khỏe cơ bàn của Việt Nam đều cao hơn nhiều so với các nước có cùng mức thu nhập bình quân dầu người và xấp xỉ bẳng những nước châu Á khác có mức thu nhập cao gấp 2 - 4 lan Việt Nam (không lính các chỉ số về dinh dưỡng), l ính đến năm 2000 tuổi thọ dã đạt 68 tuổi. Đen năm 2005, tỳ suất chết thò - CDR(%o) là 5,3; tỷ' suất tử vong trè em dưới 1 tuổi - 1MR là 18; hy vọng sống chung là 72 trong dó nam là 70, nữ là 73 (6].
Cùng vởi sự thay đổi kinh tể xả hội, mô hỉnh bệnh tật cũng có những thay dồi nhất định. - Các bệnh nhỉỄm trùng cơ bán đã được kiểm soát, đây là kết quà nỗ lực của nước ta trong việc khống chế thảnh công các bệnh nhiễm trùng bằng hàng loạt các chương trình y tể quốc gia như tiêm chùng mở rộng, nhiễm khuẩn hô hẩp cấp (ARI), lao, phong, sốt rét, bứu cổ.Tuy nhiên, ở một sổ vùng tỷ lệ này vẫn cỏn mác với tỷ lệ cao. Đặc biệt ở miền núi, vùng sâu, vùng xa tỷ lệ mac một số bệnh truyền nhiễm vẫn cao. Đổi với bệnh sốt rét, tỷ lệ mác/100.000 dân cùa Hà Giang là 453,54; Quảng Trị là 476,91, Đăk Nông là 1076,35.
Các chí sổ này cho thầy nguy cơ quay (rở lại của một số dịch bệnh vần còn rất cao. Bệnh nhiễm trùng vẫn là 1 gánh nặng y tế. Bang: Xu hưởng bệnh tật, tú* vong của các bệnh nhiềm trùng Đơn vị: % Năm 2001 2002 2003 2004 2005 Mắc 25,02 27,16 27,44 26,13 25,18 Chết 15,60 18,20 17,42 17,00 16,53 Nguồn: Niên giám thông kê y tê 2005 7 - Các bệnh không truyền nhiễm (ung thư, tim mạch, tiểu đường.) ngày càng gia tăng. Theo thống kê nSm 2005, số người mác các chứng bệnh vè hệ tuần hoàn là 6,77% và khối Lĩ là 2,73%.
Bảng: Xu hướng bệnh tật, tử vong của tai nạn, ngộ độc, chấn thương Đơn vị: % Năm 2001 2002 2003 2004 2005 Mac 10,61 9,18 11,95 13,06 12,65 Chét 18,05 18,52 23,46 25,09 22,33 Ngìíớn: Mén giám thông kê y tê 2005 SÔ liệu cho thấy có sự gia lăng cùa các bệnh không lây, tai nạn, chẩn thương. Đây ỉả những vẩn đề sức khỏe tát yếu khi nước ta đang chuyển nhanh sang công nghiệp hóa, hiện đại hóa vả mức sổng dẩn dược cải thiện. - Các bệnh dịch lạ, bệnh dịch mới xảy ra khó tiên đoán. Đó là sự xuất hiện của bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cẩp (SARS), cúm gia cầm.Gây khó khăn rất lớn và tốn kém tiền của, công sức trong việc phòng tránh những bệnh này.
Do vậy, có thể thây mô hình bệnh tật của nước ta hiện nay lả mô hình “Gánh nặng kép’'. Hệ thống y tế Hệ thống y tể được chi thành 2 tuyển chính: Tuyến TW và tuyến địa phương (Tĩnh, huyện, xã/thòn bản). Theo niên giám thống kê y tế, nãm 2005 cà nước có 13.713 giường bệnh. Trong đó tuyến Trung ương là 31 cơ sở y tế với 13.170 giường bệnh, tuyến địa phương lả 12.486 cơ sờ y tế với 172.137 giường bệnh, y tể các ngành là 820 cơ sở y tế với 9.406 giường bệnh.
NỂu chia cơ sờ y té theo phân loại thì khối bệnh viện (bệnh viện da khoa, bệnh viện chuyên khoa, bệnh viên y học dân tộc) là 879 cơ sờ với 125.641 giường bệnh; phòng khám đa khoa khu vực là 865 cơ sở với 11.149 giường bệnh; phòng khám chuyên khoa là 69 cơ sở với 626 giường bệnh; viện điều dưỡng vả phục hồi chức năng là 70 cơ sờ với 5.167 giường bệnh; Trạm Y tế là 11389 với 45.176 giường bệnh. 8 Dội ngũ cán bộ y te cũng được tăng nhanh: số bác sỹ năm 2001 là 42.106: dược sỹ đại học năm 2001 lã 5. số bác sỹ binh quân cho 1 vạn dân năm. 2001 là 5,38 và nãm 2005 là 6.03 [6] Băng: số bác sỹ và dược sỹ dại hợc trong giai đoạn 2001 -2005 Năm 2001 2002 2003 2004 2005 Bác sỷ 42.669 Bác SV cho 1 vạn diìn 5,38 5,65 5,88 5,88 6,03 Nguồn: Niên gỉám thông kê 2005 Ò mỗi vũng và khu vực thì sổ cán bộ y tể cũng phân bổ khấc nhau.
Tuy nhiên trong thực tể, xu hướng phát triền kinh te và môi trường làm vi ộc thuận lợi, phần lún cắc cán bộ y tế đẵ tìm cách dị chuyển lừ nông thôn ra thành thị, từ thị xã ra thành phổ và Trung ương (TW). Do đó, ở các khu vực vùng sâu, vừng xa thỉ cán bộ y tế vừa thiếu ỉại vừa ycu trong khí đó ờ các thành phố lớn như lĩả Nội, thành phố Hồ Chí Minh lại tập trung một lượng quá lởn. Vai trô y tể cư sử trong chăm sóc sức khoe ban đầu Hội nghị Quốc té về Y tế cư sở (YTCS) họp tại Alma- A ra năm 1978 đã xác định chăm sóc Ịức khóe ban đàu (CSSK.BĐ) lả chìa khoá dể mang lại sức khỏe cho mọi nhà [10], 117Ị. CSSKBĐ dược khái quát thành định nghĩa nhu sau: CSSKBD lả CSSK thiết yếu dựa trên cơ sở thực tiện, có cơ sở khoa học và chấp nhận được về mặt xã hội, có thể phổ cập tới các cá nhân, gia đình và cộng đồng thông qua sự tham gia dầy dii cùa họ với chi phí mà cộng đồng và nước đó cô the chap nhận dược dẻ duy trì hoạt dộng CSSK ở mọi giai đoạn phát triển trên linh thần tự nguyện, tự giác [ 1 ỉ ], Ịì 2].
CSSKBĐ là một hệ thống quan diêm với 7 nguyên tác: Công băng, phát triển, tụ lực, kỹ thuật phù hợp. dự phòng thích hợp, hoạt động liên ngành và cộng đồng tham gia, gồm 8 nội dung: Giảo dục sức khóe; cải thiện điều kiện dinh dường - ăn uổng; cung cap nước sạch - thanh khiết mộ ì trường; bào vệ sức khờe bà mẹ trè 9 cm - kệ hoạch hoá gia đình; tiêm chùng mờ rộng; phòng chồng bệnh dịch lưu hành; khám chữa bệnh và thương tích thông thường; cung cẩp thuốc thiết yen. Việt nam chẩp nhận và thêm 2 nội dung là: “Củng cổ màng lưới y tế cơ sờr và “Quản lý sức khỏe” [12], [13]. Nội dung CSSKBD đều được triển khai thực hiện tại YTCS.
Tuỳ theo từng nước, từng mô hình sức khỏe và bệnh tật để chụn thử tự ưu tiên chơ thích họp. Tại Thái Lan người ta đã gẳn 8 nội dung CSSKBD của Alma-Ata vảo nhu cầu cơ bản toi thiểu cùa mỗi người dàn vả cộng đồng [17]. Năm 1993, tại kỳ họp thứ 4 Ban chấp hành TW Đãng khoá VI1 dã có quyết định về những vấn đè cấp bách cùa sự nghiệp chăm sóc và bảo ve sức khoẺ nhân dân, trong đó nhấn mạnh vai trò quan trọng của cóng lác CSSKBD vả cùng cổ YTCS. Ngày 20 tháng 06 nãml996, Chinh phù đẫ ban hành nghỊ đính số 37/CP về định hướng chiên lược công tác chăm sóc vã bảo vệ sửc khơè nhân dân trong giai đoạn năm ] 996 đến năm 2000 và 2020 dã xác định? CSSKBĐ là một công tác trọng yỂu dể dạt dược các mục tiêu quân lý tỷ lệ măc bệnh, giảm tý lệ từ vong, giảm tỳ' lệ suy dinh dưỡng, tảng cường sửc khỏe và thể lực, lăng tuồi thọ, tạo điều kiện dể mọi người dân ổcu được hướng một cách cóng bang những dỊch vụ chẫm sóc sức khóe [CSSK)[14].
Như vậy, củng cổ và hoàn thiện YTCS có ý nghĩa chiến lược rat quan trọng trong hệ thống y tể nhã nước, góp phẩn quyết định sự thành công đối với cồng tác CSSKBĐ, đây là luyến gẩn dân nhất, tiếp cận được với đói tượng dông dào nhất mà ngành y té được phục vụ.