LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của vấn đề Ngày nay khi xã hội phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của con người được nâng cao, các nhu cầu về việc bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ con người ngày càng được chú trọng. Bên cạnh việc ứng dụng các thành tựu của khoa học kỹ thuật vào lĩnh vực y học con người còn nghiên cứu và điều chế được nhiều loại dược phẩm nhằm đáp ứng các nhu cầu về sức khoẻ hiện nay. Trong đó, tinh dầu là một trong những phương pháp mà con người lựa chọn để bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ bản thân.
Ngành tinh dầu trên thế giới hiện nay có thể nói đã và đang rất được chú trọng và phát triển. Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đơi với hệ thực vật phong phú và rất đa dạng, có nhiều loại thực vật làm nguyên liệu cung cấp nhiều hợp chất tự nhiên giá trị. Cùng với sự phát triển của ngành công nghiệp mỹ phẩm, dược phẩm dùng các chất tổng hợp thì tinh dầu trích từ cây cỏ là nguồn hương liệu quý giá cho ngành công nghiệp này. Bên cạnh đó, tinh dầu còn có nhiều hoạt tính sinh học giúp chữa được nhiều bệnh bằng nhiều cách trực tiếp hay gián tiếp.
Trong hệ thực vật Việt Nam, nhóm các cây có tinh dầu phong phú và rất đa dạng. Đã có thống kê xác định được khoảng 657 loài thuộc 357 chi và 114 họ (chiếm khaongr 6,3% tổng số loài; 15,8% tổng số chi và 37,8% số họ). Họ Hồ tiêu (Piperaceae) có 4 chi, 50 loài (Chi Lepianthes – Lân hoa có 1 loài: Lepianthes umbellatum; chi Peperomia – càng cùa có 06 loài; chi Piper – Hồ tiêu có 42 loài; chi Zippelia có 01 loài); thường là dây leo với lá đơn (mọc cách hay mọc đối, ít có mọc vòng) phần lớn có gân vòng cung. Xu hướng hiện nay của các nhà khoa học trên thế giới đang tập trung nghiên cứu không chỉ về mặt hình thái mà đặc biệt là các hợp chất hóa học và hoạt tính sinh học có ở trong họ này để ứng dụng trong y học.
Trong đó, cây lá lốt (Piper lolot) là một loài cây quen thuộc có nhiều tác dụng cho sức khỏe con người. Trong nhiều bộ phận của lá lốt có chứa 1% – 2% hàm lượng tinh dầu. Hiện nay, trên thế giới và Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về thành phần hóa học và học tính sinh học của lá lốt, tuy nhiên không có nghiên cứu về hoạt tính khánh acetylcholinesterase và ức chế nitric oxide nào được công bố ở Việt Nam. Ngày nay thông tin khoa học về lá lốt vẫn chưa được rộng rãi.
Trên tinh thần mong muốn đóng góp, đồng thời tìm hiểu về những thông tin khoa học và hoạt tính sinh học của tinh dầu lá lốt, em quyết định chọn đề tài “Xác định thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của tinh dầu lá lốt (Piper lolot)” cho nghiên cứu của mình. Nội dung nghiên cứu Nội dung 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu và hướng tiếp cận đề tài Nội dung 2: Chiết tách tinh dầu lá lốt Chiết tách tinh dầu lá lốt từ lá lốt bằng phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước. Nội dung 3: Xác định thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của tinh dầu lá lốt. - Thành phần hóa học các hợp chất có trong tinh dầu lá lốt.
- Thành phần hóa học chính có trong tinh dầu lá lốt. - Khả năng ức chế sản sinh NO của tế bào macrophage RAW 264. - Hoạt tính sinh học kháng Acetylcholinesterase (AChE). Tổng quan về lá lốt 1.
Giới thiệu về họ hồ tiêu (Piperaceae) [4] Năm 1972, trong quyển 1 bộ “Cây cỏ Việt Nam” của giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã mô tả kèm hình vẽ với 5 chi gồm: Piperomia, Zippelia, Cricaeocarpus, Piper, Lepianthes với 54 loài, trong đó Piper chiếm số loài nhiều nhất với 40 loài và 2 loại phân bố rộng khắp cả nước gồm: Piper betle L (Trầu không), Piper lolot (Lá lốt) và một số loài được trồng phổ biến ở các vùng phía nam Piper nigrum L (Hồ tiêu), Tây Nguyên là vùng có nhiều loài thuộc chi Piper L phân bố nhiều nhất với 5 loài. Một số vùng khác cũng thấy có sự xuất hiện rất nhiều nhất VQG Cúc Phương (Ninh Bình), Ba Vì (Hà Nội) đây cũng chính là 2 trung tâm đa dạng của nước ta các loài thường mọc ở rừng ẩm ở độ cao 150-1500m thường gặp ở độ cao từ 600-1000m cá biệt có loài gặp. Dưới đây là một số cây, thực vật thuộc họ Hồ tiêu (Piperaceae). Một số thực vật thuộc họ hồ tiêu (Piperacese) 1.
Giới thiệu về lá lốt 1. Tên gọi Tên thường gọi: Lá lốt, Tất bát, lá nốt, lá lốp. Tên khoa học: Piper lolot C.DC, họ hồ tiêu (Piperacese). Lá lốt được dùng trong nấu ăn hoặc để trị vết thương, đắp vào chỗ đau.
Hình ảnh lá lốt 1. Đặc điểm hình thái [3] Lá lốt là loài cây thân mềm, mọc cao tới 1m thân hơi có lông. Mọc thẳng khi còn non, khi lớn có thân dài không thể mọc thẳng mà bò dài trên đât. Thân trên phồng lên ở các mấu, mặt ngoài có nhiều đường rãnh dọc.
Lá lốt thuộc loại dạng lá đơn, hình tim, mặt lá láng bóng, có tán rộng xòe to, trên phiến lá có từ 5 – 7 gân xanh nổi lên và dễ nhận biết là mùi thơm đặc trưng. Lá đơn mọc cách, phiến lá gồm 2 dạng, phía dưới rộng hình bầu dục, 2 -5 cm dài, mặt trên mịn láng, mặt dưới màu xanh lục nhạt có lông mịn, phiến lá không đối xứng 10 – 12 cm chiều dài, và rộng 8 -11 cm, các gân lá hình chân vịt đều hướng về cuốn lá. Thân màu xanh lục đậm, ở các đốt của lóng phù to, có rảnh nhỏ và lông mịn. Quả của lá lốt là quả mọng và bên trong có chứa hạt, cô lập như trái tiêu Piper nigrum L.
Phần hoa thì chủ yếu mọc thành từng cụm ở nách lá, và thường lâu tàn. Cụm hoa, gié ha cái mọc đối diện với lá, hình trụ, màu trắng dài 10 – 12mn, 3mm đường kính. Hoa thường rất nhỏ, là loại hoa trần, đơn tính. Phân bố, sinh thái [1] [4] Lá lốt là một cây tập trung chủ yếu ở vùng nhiệt đới, đặc biệt là vùng Đông Nam Á, là loài cây đặc biệt phổ biến của các nước Việt Nam, Lào, Campuchia.
Ở nước ta, cây lá lốt mọc tự nhiên trên khắp mọi nơi đặc biệt là trồng nhiều ở miền Bắc nước ta, nơi các tỉnh vùng núi thấp. Lá lốt thường trồng bằng thân cắt thành từng mẫu 20 – 25cm, giâm vào nơi ẩm ướt, dưới bóng cây mát, thường mọc thành những đám lớn ven rừng, dọc theo các bờ khe suối ở cữa rừng, chân núi đá, các bờ ao quanh làng. Sau khi mọc thành cây bò lan trên mặt đất, bò đến đâu móc rể đến đó, ăn sâu vào đất. Tính vị và tác dụng dược lý Lá lốt có vị nồng, hơi cay, có tính ấm, có tác dụng chống hàn (như bị lạnh bụng), giảm đau, chống phong hàn ở mức thấp, tay chân lanh, nôn mửa, đầy hơi, khó tiêu, đau đầu vì cảm lạnh.
Nước săc toàn cây trị đầy bụng, nôn mửa vì bị hàn, nước sắc rễ chữa tê thấp vì bị khí hàn, lá sắc ngậm chữa đau răng. Lá lốt còn được dùng để nấu nước ngâm tay chân cho người bị bệnh tê thấp, hay đổ mồ hồi tay, mồ hôi chân. Thường dùng để chưã các chứng đau nhức xương khớp khi trời lạnh [1] [7]. Trong hệ thống y học cổ truyền Trung Quốc, lá lốt được sử dụng để điều trị sốt và khó tiêu, rễ được sử dụng để giảm đau răng và điều trị bệnh da liễu, ho và viêm phổi.
Ở Malaysia, lá nghiền được sử dụng để điều trị sỏi thuận hay như Indonesia, người ta sử dụng rễ để trị ho, hen suyễn và đau răng, còn lá được sử dụng để giảm đau tức ngực. Ngoài ra dựa theo nghiên cứu của Trường đại học Dược Hà Nội: kết quả thực nghiệm trên động vật cho thấy nước ép lá lốt, cao lá lốt tươi và cao lá lốt khô đều có tác dụng kháng viêm rõ rệt trên động vật thực nghiệm. Một số đơn thuốc có lá lốt dùng trong dân gian Chữa đau nhức xương khớp: Bài thuốc 1: Dùng 5 – 10g lá lốt phơi khô, hay 15 – 50g lá lốt tươi, nấu với nước, chia uống từ 2 – 3 lần/ ngày. Bài thuốc 2: Lá lốt và rễ các cây bưởi sung, vòi voi, cỏ xước, tất cả đều dùng tươi, cắt nhỏ, sử dụng liều lượng bằng nhau, nấu với 500ml nước chia các lần uống trong ngày.
Bài thuốc 3: Dùng rể lá lốt, dây chìa vôi, rể cỏ xước, hoàng lực, rễ quýt rừng, hạt xích hoa xà, đơn gối hạc, mỗi vị thuốc 12g. Bài thuốc 4: Sử dụng lá lốt 16g, tầm gửi cây dâu 12g, tục đoan 12g. Sắc với 250ml nước, cho đến khi còn 150ml, chia 2 lần uống vào ban ngày và buổi tối trước khi ngủ. Bài thuốc 5: Lá lốt, cỏ xước, cẩu tích, hy thiêm, mỗi vị 20g; rễ quýt rừng 16g, cà gai leo 12g, thiên niên kiện 12g.
Nấu uống như nước mỗi ngày một thang thuốc. Chữa đau lưng, sung khớp gối, bủn chân tê buốt Bài thuốc 1: Rễ lá lốt, vỏ bưởi, rễ cây vòi voi, rễ cỏ xước, mỗi vị 50g tươi. Tất cả thái mỏng, sao vàng. Sắc với nước 600ml nước cho đến khi còn 300ml.
Chia 3 lần uống trong ngày. 13 Bài thuốc 2: Lá lốt, ngải cứu, đều bằng nhau. Giã nát, cho thêm giấm, chưng nóng hỗn hợp, sau đó đắp hoặc chườm lên chổ đau. Chữa bệnh phụ khoa (các viêm nhiễm vùng âm đạo, ngứa, khí hư): Sử dụng 50g lá lốt, nghệ 40g, phèn chua 20g, đổ ngập nước trên bề mặt thuốc, đun nóng, nhỏ lữa cho sôi lăn tăn 15 phút, gặn lấy nước dùng để rửa.
Phần còn lại đun cho cạn bớt nước có thể dùng để xông hơ nhiều lần. Chữa viêm xoang, chảy nước mũi đặc: Lá lốt đem vò nát, đặt vào lỗ mũi. Chữa viêm cấp tính do các bệnh về răng miệng, gây sưng nề ở má cằm, vùng hàm, viêm khớp dây chằng ở răng, túi viêm răng khôn: Lá lốt nấu lấy cao, dùng 2g cao lá lốt, đường kính 2g, cho nước vào đủ 10ml. Hòa tan rồi ngậm miệng.
Chữa mồ hôi tay chân: Dùng 30g lá lốt tươi cho vào 1 lít nước sôi, cho thêm ít muối để nguội dùng dần để ngâm tay, chân thường xuyên trước khi ngủ. Chữa nhọt độc vỡ lâu không liền miệng: Lá lốt, lá lanh, lá thanh yên, lá rấy, lá tía tô với lượng bằng nhau, sau đó giã nhỏ.