Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn Thơ chữ Hán Cao Bá Quát - những điểm mới về nội dung và nghệ thuật của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Tính được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lã Nhâm Thìn tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (chuyên ngành Văn học Việt Nam, mã số 62.01, bảo vệ năm 2014). Công trình tập trung khảo sát di sản thơ chữ Hán của Cao Bá Quát (1808 - 1855) nhằm xác định những chuyển biến mang tính chất đổi mới của tác giả so với truyền thống văn học trung đại và các tác gia đương thời.

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vị trí lịch sử và văn học của Cao Bá Quát - một tác gia lớn của nửa đầu thế kỷ XIX với danh xưng "Thánh Quát" cùng quan niệm sáng tác đề cao cá tính "Văn tất kỉ xuất" (Văn phải tự mình làm ra). Mặc dù thơ chữ Hán của ông đã thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, phần lớn các công trình trước đây chỉ tiếp cận ở từng bài viết riêng lẻ hoặc trên các tuyển tập trích dịch chưa đầy đủ. Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là sự thiếu vắng một công trình bao quát, xử lý hệ thống toàn bộ khối lượng 1212 bài thơ chữ Hán đã được phiên dịch và công bố trong Cao Bá Quát toàn tập (do Mai Quốc Liên chủ biên, 2004 và 2012), nhằm đối chiếu đa diện với tiến trình văn học dân tộc để xác lập vị trí văn học sử của tác giả.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể:

  1. Đặt thơ chữ Hán Cao Bá Quát trong tiến trình của văn học dân tộc, so sánh thơ ca của ông với thơ chữ Hán của các tác giả tiêu biểu trước và cùng thời để tìm ra những điểm riêng mang tính chất đổi mới.
  2. Xác định và phân tích những đóng góp của Cao Bá Quát đối với văn học Việt Nam thời trung đại, nhận diện vai trò dự báo cho sự phá cách của một thế hệ, góp phần tạo nên đặc điểm giao thời giữa văn học trung đại và hiện đại trong thế kỷ XIX.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: 1212 bài thơ chữ Hán của Cao Bá Quát đã được dịch sang tiếng Việt trong Cao Bá Quát toàn tập; đồng thời khảo sát thơ chữ Hán của một số tác giả trung đại tiêu biểu làm cơ sở đối sánh (Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Du, Phan Thúc Trực, Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Miên Thẩm...).
  • Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào những biểu hiện đổi mới về nội dung tư tưởng và phương thức nghệ thuật của thơ chữ Hán Cao Bá Quát.
  • Phạm vi tư liệu: Nguồn tư liệu văn bản chính là bộ Cao Bá Quát toàn tập (hai tập, Mai Quốc Liên chủ biên, Nxb. Văn học, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, Hà Nội, 2004, 2012), kết hợp tham khảo cuốn Thơ văn Cao Bá Quát (Vũ Khiêu chủ trì, Nxb. Hà Nội, 2010) và các văn bản dịch thơ liên quan.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng thuật toàn diện lịch sử nghiên cứu thơ chữ Hán Cao Bá Quát trên ba phương diện chính:

Thứ nhất, về lịch sử văn bản:

  • Năm 1970, công trình Thơ chữ Hán Cao Bá Quát do nhóm Vũ Khiêu tuyển dịch công bố 161 bài; đến lần tái bản năm 1984 đổi tên thành Thơ văn Cao Bá Quát, rút bỏ 5 bài không chính xác, còn lại 156 bài.
  • Nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Quận trong các công trình khảo cứu văn bản tác phẩm Cao Bá Quát (2004) đã xác định số lượng thơ chữ Hán của Cao Bá Quát là 1335 bài, trong đó có 8 bài không thấy chép ở toàn bộ tư liệu khác và 46 bài thuộc bản D (Cao Bá Quát thi tập, ký hiệu A.210) cần tiếp tục thẩm định. Đồng thời, Nguyễn Ngọc Quận đã đính chính bài tựa Thư Tiêu Lâm thi tập hậu (ký hiệu A.299) vốn là bài hậu tự viết cho tập thơ của Phạm Kế Chi chứ chưa đủ căn cứ xác định là của Cao Bá Quát.
  • Bộ Cao Bá Quát toàn tập do Trung tâm Nghiên cứu Quốc học và Nxb. Văn học ấn hành (2004, 2012) đã công bố 1212 bài thơ chữ Hán (vẫn còn 123 bài chưa xuất bản so với danh mục của Nguyễn Ngọc Quận).

Thứ hai, về quan niệm văn học:

  • Ý thức về tư cách nhà thơ và cá tính sáng tạo được Trần Ngọc Vương chỉ ra khi xếp Cao Bá Quát vào nhóm 11 nhà thơ tài tử coi văn chương là sự nghiệp chính; Nguyễn Ngọc Quận đánh giá ông thuộc số hiếm hoi tác gia trung đại tự xác định tư cách nhà thơ của mình.
  • Quan niệm coi trọng "chân" và "tình" được Nguyễn Lộc, Nguyễn Tài Thư, Phạm Quang Trung phân tích qua bài thơ Vị mính tiểu kệ đồng Phan Sinh dạ toạ và mệnh đề "làm thơ thì phải gốc ở tính tình".
  • Ảnh hưởng của thuyết "tính linh" thời Minh - Thanh (đặc biệt từ Viên Mai) trong quan niệm sáng tác của Cao Bá Quát được Trần Nho Thìn, Nguyễn Ngọc Quận, Phạm Ngọc Hiền, Nguyễn Thanh Tùng phân tích như một sự phủ định lối thơ mô phỏng, phục cổ, tạo bước chuẩn bị chuyển dịch sang thi pháp hiện đại.

Thứ ba, về điểm mới nội dung và nghệ thuật:

  • Về nội dung: Vũ Khiêu, Nguyễn Đổng Chi, Nguyễn Lộc, Nguyễn Huệ Chi làm rõ sự phê phán xã hội phong kiến và tấm lòng xót thương dân nghèo; Vĩnh Sính, Claudine Salmon, Tạ Trọng Hiệp, N. Nikulin, Xuân Diệu, Trần Nho Thìn phân tích nhận thức mới mẻ của Cao Bá Quát về phương Tây qua chuyến đi "Dương trình hiệu lực" năm 1844 (Hồng mao thuyền hoả ca, hình ảnh phụ nữ Tây phương, ý thức về nguy cơ xâm lược); Trần Thị Băng Thanh phân tích cái nhìn hiện thực sắc lạnh qua bài Đạo phùng ngạ phu; Nguyễn Hữu Sơn làm rõ khuynh hướng li tâm Nho giáo.
  • Về nghệ thuật: Thuần Phong, Ngô Văn Phú, Xuân Diệu, Nguyễn Lộc chỉ ra phong cách hào sảng, phá vỡ quy cách Đường thi; Nguyễn Tài Thư phân tích lối liên tưởng tương đồng; Nguyễn Huệ Chi và Nguyễn Ngọc Quận nhấn mạnh chất tự sự, cấu trúc đối thoại; Nguyễn Hữu Sơn chỉ ra thói quen đặt câu hỏi tu từ ở câu lẻ và dòng thơ du ký; Nguyễn Thị Kim Châu phân tích không gian "đường đời" và cảm thức phi lý.

Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết là việc khảo sát có hệ thống trên toàn bộ 1212 bài thơ chữ Hán đã công bố, đặt trong quan hệ đối thoại liên văn bản và loại hình học tác giả để xác định chính xác mức độ đổi mới về nội dung tư tưởng lẫn cấu trúc hình thức nghệ thuật.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng cơ sở nghiên cứu dựa trên hai khung lý thuyết khoa học:

  1. Lý thuyết liên văn bản: Tiếp thu từ quan niệm về chủ nghĩa đối thoại của M. Bakhtin cùng các phát triển của J. Kristeva, H. Bloom, G. Genette... Luận án xem tác phẩm văn học là một hiện tượng quan hệ, tương tác và đối thoại trong mạng lưới diễn ngôn xã hội. Thơ chữ Hán Cao Bá Quát được đặt trong mối quan hệ tiếp thu và bứt phá, đối thoại với truyền thống văn thi cổ điển (Việt Nam và Trung Quốc) cũng như với các tác gia đương thời.
  2. Lý thuyết nghiên cứu văn học sử về tác giả: Nghiên cứu tác giả Cao Bá Quát trong mối tương quan với hoàn cảnh lịch sử - xã hội, môi trường văn hóa gia đình và hành trạng cá nhân; nghiên cứu tác giả trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc (so sánh lịch đại với Nguyễn Trãi, Nguyễn Du; so sánh đồng đại với Nguyễn Văn Siêu, Phan Thúc Trực, Nguyễn Miên Thẩm); và nghiên cứu tác giả trong loại hình tác giả nhà nho (nhà nho tài tử, nhà nho li tâm, nhà nho có tư tưởng canh tân).

Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm:

  • Phương pháp so sánh đối chiếu (phương pháp cốt lõi): So sánh nội dung và nghệ thuật thơ Cao Bá Quát với các tác giả tiêu biểu thời trước và cùng thời nửa đầu thế kỷ XIX.
  • Phương pháp hệ thống: Khảo sát, thống kê, phân loại các hiện tượng thi pháp trên toàn bộ 1212 bài thơ chữ Hán.
  • Phương pháp lịch sử - cụ thể: Đặt sáng tác trong bối cảnh triều Nguyễn và đời sống xã hội cụ thể.
  • Phương pháp tiếp cận liên ngành: Vận dụng tri thức văn bản học, sử học, văn hóa học, xã hội học, tâm lý học.
  • Phương pháp loại hình học tác giả: Nhận diện mẫu hình nhà nho phản kháng, thức thời.
  • Phương pháp đọc sâu và phân tích - tổng hợp văn bản.
Nguồn tư liệu & Đối tượng khảo sát Số lượng / Phạm vi Mục đích sử dụng trong luận án
Cao Bá Quát toàn tập (Mai Quốc Liên chủ biên, 2004, 2012) 1212 bài thơ chữ Hán Văn bản nguồn chính để khảo sát, thống kê và trích dẫn
Thơ văn Cao Bá Quát (Vũ Khiêu chủ trì, 2010) 156 bài Đối chiếu văn bản và tham khảo bản dịch
Thơ chữ Hán tác giả trước thời Nguyễn (Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Du) Các tác phẩm tiêu biểu So sánh lịch đại để xác định sự kế thừa và bứt phá truyền thống
Thơ chữ Hán tác giả thời Nguyễn (Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Miên Thẩm, Phan Thúc Trực, Nguyễn Văn Lý) Các tập thơ đương thời So sánh đồng đại để làm rõ nét riêng biệt của phong cách Cao Bá Quát

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu về văn bản học, quan niệm văn học cùng những điểm mới về nội dung và nghệ thuật của thơ chữ Hán Cao Bá Quát qua các thời kỳ. Tác giả phân tích các luận điểm của những nhà nghiên cứu đi trước, chỉ ra những điểm đã được thống nhất và những vấn đề văn bản học còn tồn nghi (như sự phân định 1335 bài của Nguyễn Ngọc Quận so với 1212 bài trong Cao Bá Quát toàn tập, sự đính chính bài Thư Tiêu Lâm thi tập hậu). Từ đó, chương này thiết lập khung lý thuyết tiếp cận gồm lý thuyết liên văn bản và lý thuyết văn học sử về tác giả, làm cơ sở phương pháp luận cho toàn bộ luận án.

Chương 2: Những tiền đề tạo nên điểm mới trong thơ chữ Hán Cao Bá Quát

Chương 2 làm sáng tỏ các điều kiện lịch sử, văn hóa, văn học và tiểu sử tạo nên sự chuyển biến trong thơ Cao Bá Quát:

  • Tiền đề lịch sử - xã hội: Sự thiết lập chế độ quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền thời Nguyễn với việc nệ cổ Nho giáo mô hình Minh - Thanh (nhận xét của Yoshiharu Tsuboi); sự suy thoái của giáo dục cử nghiệp (lời nhận định của vua Minh Mạng về tệ chuộng hư sáo và ghi chép của Nguyễn Trường Tộ về quan chế thời Tự Đức); chính sách "trọng nông ức thương" kìm hãm kinh tế hàng hóa; và làn sóng hơn 400 cuộc khởi nghĩa nông dân trong nửa đầu thế kỷ XIX.
  • Tầng lớp thị dân và tư tưởng phi Nho giáo: Sự phát triển kinh tế thương nghiệp tại Kẻ Chợ, Hội An, Quy Nhơn, Sài Gòn hình thành tầng lớp thị dân và không gian văn hóa "thị - chợ" với các hoạt động giải trí của ca nhi, kỹ nữ, tạo điều kiện cho lối sống đề cao cá tính, hưởng lạc và mẫu hình con người tài tử.
  • Ảnh hưởng của văn hóa phương Tây: Triều Nguyễn duy trì 21 chuyến tàu viễn dương giai đoạn 1835-1840; mở Quán tứ dịch dạy tiếng Pháp, Xiêm, Lào (1835); ứng dụng kỹ thuật kiến trúc Vauban, dịch sách khoa học kỹ thuật (Bác vật tân biên, Hàng hải kim châm); sự hiện diện của chữ quốc ngữ và các biến cố ngoại giao, xung đột quân sự (hải chiến Đà Nẵng tháng 4/1847 làm hơn 10.000 thủy binh triều đình tử trận).
  • Tiền đề văn hóa, văn học: Sức sống của văn hóa dân gian mang cảm quan thế tục (tượng chùa Tây Phương, chùa Bút Tháp, tranh dân gian); trào lưu nhân văn chủ nghĩa thế kỷ XVIII - XIX; phong tràu chấn hưng văn hóa Thăng Long của nhóm Vũ Tông Phan, Nguyễn Văn Siêu, Phạm Quý Thích (thành lập Hội Hướng thiện 1841, sửa đền Ngọc Sơn, in bộ Cổ văn hợp tuyển gần 3.000 trang); sự bùng nổ của các nhóm thi xã (Sơn Hội, Bình Dương, Mặc Vân); trào lưu Thực học và thuyết "tính linh" của Viên Mai (chân tình, cá tính, tài năng); cùng sự ưu thắng của văn học nghệ thuật phi chức năng (hát nói, ca, hành, tuồng, ký sự).
  • Cuộc đời và con người Cao Bá Quát: Xuất thân dòng họ khoa bảng Phú Thị, được dưỡng dục bởi tổ họ Cao Huy Diệu; nuôi dưỡng chí khí "Chu Thần" nhưng mang tính cách phóng túng, thanh cuồng; từng mở trường dạy học ở Quán Thánh; trải qua vụ án trường thi Thừa Thiên (1841) chữa 24 quyển thi bằng muội đèn dẫn đến án giam chờ lệnh; và chuyến đi "Dương trình hiệu lực" tại Hạ Châu năm 1844 giúp mở rộng tầm nhìn thế giới.

Chương 3: Những điểm mới về nội dung

Chương 3 đi sâu phân tích hệ thống điểm mới về nội dung tư tưởng trong 1212 bài thơ chữ Hán của Cao Bá Quát qua năm phương diện:

  • Từ quan niệm văn học đến cái nhìn hiện thực xã hội: Cao Bá Quát thể hiện sự hoài nghi sâu sắc đối với lý tưởng khoa cử và con đường cử nghiệp từ chương sáo rỗng; đồng thời hướng sự quan tâm đến những bất trắc, may rủi và tính phi lý của số phận con người trong hoàn cảnh sống khắc nghiệt (tiêu biểu như bài thơ Đạo phùng ngạ phu).
  • Ảnh hưởng của yếu tố nước ngoài trong nhận thức về thế giới: Tác giả thể hiện cái nhìn mới mẻ trước sự khác lạ về diện mạo, hành vi con người phương Tây; nhận thức rõ sự giàu sang, tiến bộ vượt bậc của nền văn minh công nghiệp phương Tây (hình ảnh tàu chạy bằng hơi nước trong bài Hồng mao thuyền hoả ca); và sớm đưa ra dự cảm về hiểm họa xâm lược từ các cường quốc tư bản.
  • Điểm mới về chữ "tình": Đề cao thế giới cảm xúc chân thực, mở rộng biểu hiện tình cảm gia đình (tình thương sâu nặng với mẹ già, vợ hiền, con thơ), tình bằng hữu tri âm và các quan hệ đời thường bình dị, vượt ra khỏi các khuôn mẫu đạo đức khắc kỷ.
  • Điểm mới trong chủ đề người phụ nữ: Mở rộng đối tượng phản ánh sang hình ảnh người phụ nữ phương Tây và phụ nữ lao động bình dân; miêu tả chân thực ngoại hình, cử chỉ tự nhiên và thế giới tâm lý nhân vật từ điểm nhìn thế tục.
  • Điểm mới trong cảm thức thiên nhiên: Thiên nhiên trong thơ ông không chỉ là cảnh sắc thanh tao theo ước lệ mà hiện lên sinh động, đa sắc thái, giàu trạng thái vận động; đồng thời xuất hiện những cảnh tượng dữ dội, khắc nghiệt, mang tính chất hủy diệt.

Chương 4: Những điểm mới về nghệ thuật

Chương 4 khảo sát các phương thức biểu hiện nghệ thuật mang tính cách tân:

  • Không gian và thời gian đời tư: Luận án chỉ ra sự xuất hiện đậm nét của không gian đời tư nơi quê nhà thân thuộc song hành cùng không gian đời tư chứa chan nỗi sầu hận, bế tắc; thời gian nghệ thuật chuyển dịch từ thời gian vũ trụ trừu tượng sang thời gian sinh hoạt hàng ngày và thời gian trực cảm cụ thể.
  • Phát triển hình thức thể loại kí sự thơ và biểu hiện cái tôi: Tác giả sử dụng dày đặc đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất để trực tiếp bộc lộ bản ngã; khai thác nghệ thuật tự dẫn, tự chú giải tường tận cho hoàn cảnh sáng tác; tăng cường chất lý sự, nghị luận và tư duy phân tích của lý tính trong cấu trúc bài thơ.
  • Gia tăng tính trần thuật và miêu tả chi tiết: Thể hiện qua cách đặt nhan đề thơ tường minh, dài dòng như một lời dẫn sự kiện; chú trọng miêu tả các chi tiết đời sống chân thực thay vì dùng điển cố ước lệ; mở rộng các hình thức so sánh, liên tưởng tương đồng sống động.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận và khoa học:

  • Luận án là công trình đầu tiên khảo sát, phân loại và thống kê toàn diện trên quy mô toàn bộ 1212 bài thơ chữ Hán của Cao Bá Quát từ bộ toàn tập, khắc phục tình trạng nghiên cứu cục bộ trước đó.
  • Công trình bổ sung các cơ sở lý giải khoa học về sự hình thành phong cách nghệ thuật Cao Bá Quát thông qua việc tích hợp lý thuyết liên văn bản và lý thuyết văn học sử về loại hình tác giả nhà nho.
  • Làm rõ tính chất giao thời của thơ chữ Hán Cao Bá Quát: một gạch nối quan trọng cho thấy sự rạn vỡ của thi pháp trung đại cổ điển, chuẩn bị tiền đề cho xu hướng cá nhân hóa và hiện đại hóa văn học dân tộc nửa sau thế kỷ XIX.

Về mặt thực tiễn và kiến nghị:

  • Cung cấp nguồn tư liệu thẩm định văn bản học và phân tích thi pháp phục vụ trực tiếp cho công tác giảng dạy, nghiên cứu tác giả Cao Bá Quát nói riêng và văn học trung đại Việt Nam nói chung tại các trường đại học, cao đẳng và trường phổ thông.
  • Kiến nghị giới nghiên cứu văn bản học tiếp tục sưu tầm, khảo sát 123 bài thơ chữ Hán còn lại (đặc biệt là 46 bài trong bản D - ký hiệu A.210) để tiến tới hoàn thiện toàn diện văn bản trước tác của Cao Bá Quát.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế:

  • Nguồn tư liệu khảo sát của luận án chủ yếu dựa trên 1212 bài thơ đã được dịch trong bộ Cao Bá Quát toàn tập (2004, 2012); chưa thể bao quát 123 bài thơ chữ Hán còn lại trong danh mục 1335 bài do nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Quận công bố do các văn bản này chưa được thẩm định và xuất bản đầy đủ.
  • Luận án tập trung chuyên sâu vào mảng thơ chữ Hán nên chưa mở rộng so sánh toàn diện với các sáng tác chữ Nôm (hát nói, phú) của chính tác giả.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Tiếp tục theo dõi các phát hiện văn bản học mới để bổ sung, hiệu đính toàn bộ khối lượng thơ chữ Hán của Cao Bá Quát.
  • Mở rộng hướng tiếp cận liên văn bản giữa thơ chữ Hán và các thể loại văn học chữ Nôm của Cao Bá Quát nhằm hoàn thiện bức tranh toàn diện về tư duy nghệ thuật của tác giả.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo thiết thực đối với:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Văn học Việt Nam, Hán Nôm, Lý luận văn học và Lịch sử văn hóa tư tưởng.
  • Giáo viên Ngữ văn bậc trung học phổ thông khi giảng dạy các tác phẩm của Cao Bá Quát trong chương trình nhà trường.

Các phần có giá trị tham khảo sâu gồm:

  • Khung lý thuyết liên văn bản và loại hình học tác giả áp dụng cho thi ca trung đại tại Chương 1.
  • Nguồn tư liệu lịch sử - văn hóa phong phú về nhóm sĩ phu Hà thành đầu thế kỷ XIX và chuyến đi Hạ Châu năm 1844 tại Chương 2.
  • Hệ thống dẫn chứng phân tích thi pháp, không gian - thời gian nghệ thuật và cái tôi trữ tình tại Chương 3 và Chương 4, cùng các bảng thống kê phân loại chi tiết trong phần Phụ lục.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ sở văn bản thơ chữ Hán Cao Bá Quát mà luận án sử dụng có quy mô như thế nào? Luận án sử dụng 1212 bài thơ chữ Hán đã được dịch sang tiếng Việt và in trong bộ Cao Bá Quát toàn tập (hai tập, do Mai Quốc Liên chủ biên, Nxb. Văn học và Trung tâm Nghiên cứu Quốc học xuất bản năm 2004 và 2012). Con số này kế thừa công trình của nhóm Vũ Khiêu (1970, 1984) và các khảo cứu văn bản học của Nguyễn Ngọc Quận.

2. Thuyết "tính linh" thời Minh - Thanh ảnh hưởng ra sao đến quan niệm văn học của Cao Bá Quát? Cao Bá Quát tiếp thu thuyết "tính linh" (tiêu biểu từ Viên Mai) với ba yếu tố cốt lõi: chân tình (cảm xúc chân thực), cá tính (bộc lộ cái tôi riêng biệt) và tài năng. Quan niệm này giúp ông phản đối lối thơ mô phỏng, bắt chước khuôn sáo cổ nhân, phản bác trào lưu phục cổ đương thời và khẳng định nguyên tắc "làm thơ phải gốc ở tính tình".

3. Chuyến đi "Dương trình hiệu lực" năm 1844 đã mang lại những nhận thức mới nào trong thơ Cao Bá Quát? Chuyến đi công vụ tại vùng Hạ Châu (Singapore, Malaysia, Indonesia) giúp Cao Bá Quát tận mắt chứng kiến sự vượt trội của kỹ thuật và văn minh phương Tây (như tàu hơi nước trong bài Hồng mao thuyền hoả ca), tiếp xúc với hình ảnh người phụ nữ Tây phương, nhận thức được sự hạn hẹp của học thuật Nho giáo truyền thống và sớm dự cảm về nguy cơ xâm lược của thực dân phương Tây đối với đất nước.

4. Cái tôi của tác giả trong nghệ thuật thơ chữ Hán Cao Bá Quát được biểu hiện qua những hình thức nào? Cái tôi của Cao Bá Quát được thể hiện qua việc sử dụng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất; nghệ thuật tự dẫn và viết lời chú giải chi tiết cho hoàn cảnh sáng tác; lối tư duy lý sự, phân tích nghị luận sắc sảo; việc đặt nhan đề cụ thể hóa sự kiện; và thói quen đặt các câu hỏi tu từ suy tưởng ở vị trí câu thơ lẻ.

5. Nhóm sĩ phu Hà thành đầu thế kỷ XIX đã có những hoạt động chấn hưng văn hóa nào tác động đến Cao Bá Quát? Nhóm sĩ phu Bắc Hà (tiêu biểu là Vũ Tông Phan, Nguyễn Văn Siêu, Phạm Quý Thích, Nguyễn Văn Lý...) đã lập Văn hội Thọ Xương, mở các trường tư thục (Hồ Đình, Phương Đình, Chí Đình), thành lập Hội Hướng thiện (1841) tại đền Ngọc Sơn, tôn tạo Tháp Bút, Đài Nghiên, cầu Thê Húc và biên soạn, in ấn các bộ sách giáo khoa, văn tập lớn như Cổ văn hợp tuyển (gần 3.000 trang), tạo nên môi trường học thuật cổ vũ tinh thần đổi mới cho Cao Bá Quát.

Kết luận

Luận án của Nguyễn Thị Tính đã hoàn thành việc khảo cứu hệ thống 1212 bài thơ chữ Hán của Cao Bá Quát dựa trên khung lý thuyết liên văn bản và loại hình học tác giả. Công trình xác định rõ những đổi mới căn bản của thi nhân về nhận thức hiện thực xã hội, cái nhìn hướng ngoại đối với văn minh phương Tây, cảm quan nhân đạo về chữ "tình" cùng sự chuyển biến thi pháp sang không gian, thời gian đời tư và phương thức trần thuật cụ thể. Kết quả nghiên cứu khẳng định vị thế của Cao Bá Quát như một hiện tượng thơ ca mang tính dự báo, đánh dấu bước chuyển dịch quan trọng từ thi pháp trung đại sang hiện đại trong tiến trình văn học dân tộc nửa đầu thế kỷ XIX.