phần mở đầu và kết luận, khóa luận đƣợc triển khai thành ba chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Những vấn đề khái quát 12 Trong chƣơng này, chúng tôi sẽ khái quát về khái niệm và vai trò của nhân vật văn học; giới thiệu về khái niệm, nguồn gốc và những thay đổi của cô đầu qua các thời kỳ lịch sử. Bên cạnh đó, chúng tôi sẽ mang đến một cái nhìn tổng quan về nhân vật cô đầu trong văn học Việt Nam và đặc điểm của các sáng tác viết về cô đầu trong giai đoạn từ nửa cuối thế kỷ XIX đến năm 1930. Chƣơng 2: Nhân vật cô đầu trong văn học Việt Nam từ nửa cuối thế kỷ XIX đến năm 1930 nhìn từ phƣơng diện nội dung Trong chƣơng này, chúng tôi đi sâu khai thác nhân vật cô đầu trên phƣơng diện nội dung. Cụ thể là tìm hiểu về đặc điểm của những cô đầu chân chính, những cô đầu bị tha hóa, số phận và khát vọng của cô đầu qua các sáng tác tiêu biểu.
Ngoài ra, chúng tôi còn chỉ ra thái độ, tình cảm đa chiều, phức tạp của các tác giả đối với nhân vật này. Chƣơng 3: Nhân vật cô đầu trong văn học Việt Nam từ nửa cuối thế kỷ XIX đến năm 1930 nhìn từ phƣơng diện nghệ thuật Trong chƣơng này, chúng tôi sẽ nghiên cứu những nét đặc sắc về nghệ thuật trong việc khắc họa nhân vật cô đầu của các tác giả tiêu biểu. Cụ thể là trên các phƣơng diện: thể loại, ngôn ngữ, nghệ thuật xây miêu tả nhân vật, giọng điệu, thời gian - không gian nghệ thuật. 13 NỘI DUNG CHƢƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT 1.
Khái niệm nhân vật văn học Theo Từ điển tiếng Việt do Giáo sƣ Hoàng Phê chủ biên thì “Nhân vật là đối tƣợng (thƣờng là con ngƣời) đƣợc miêu tả, thể hiện trong tác phẩm văn học nghệ thuật” [20, 901]. Theo Lại Nguyên Ân trong 150 thuật ngữ văn học thì nhân vật văn học là “Hình tƣợng nghệ thuật về con ngƣời, một trong những dấu hiệu về sự tồn tại toàn vẹn của con ngƣời trong nghệ thuật ngôn từ. Bên cạnh con ngƣời, nhân vật văn học có khi còn là các con vật, các loại cây, các sinh thể hoang đƣờng đƣợc gán cho những đặc điểm giống với con ngƣời” [1, 303]. Trong Giáo trình lý luận văn học tập 2 do Trần Đình Sử chủ biên đã xem nhân vật văn học là “là khái niệm dùng để chỉ hình tƣợng các cá thể con ngƣời trong tác phẩm văn học – cái đã đƣợc nhà văn nhận thức, tái tạo, thể hiện bằng các phƣơng tiện riêng của nghệ thuật ngôn từ” [23, 114].
Từ những ý kiến trên, có thể hiểu một cách khái quát, nhân vật văn học chính là “hình tƣợng các cá thể con ngƣời” trong tác phẩm văn học. Nhân vật văn học thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con ngƣời và không thể đồng nhất với con ngƣời có thật bởi nó đã đƣợc nhà văn nhận thức và tái tạo trong tác phẩm. Cô đầu là một lớp ngƣời có thật, tồn tại lâu dài trong xã hội và bƣớc vào sáng tác của nhiều nhà văn, nhà thơ với một diện mạo riêng, đƣợc khắc họa với những đặc điểm nổi bật về ngoại hình, hành động, tính cách. Có thể khẳng định cô đầu chính là một nhân vật văn học và in dấu nhiều đặc trƣng của con ngƣời thời đại mà họ xuất hiện.
Thậm chí nhiều nhân vật cô đầu cụ thể trong tác phẩm đã trở nên nổi tiếng, đƣợc đọc giả biết đến rộng rãi nhƣ: Cô Cầm (Long Thành 14 cầm giả ca – Nguyễn Du), Vân Anh (Thề non nƣớc – Tản Đà), đào Hồng, đào Tuyết (Gặp đào Hồng đào Tuyết – Dƣơng Khuê)… Đó chính là một thành tựu lớn bởi các tác giả đã đóng góp cho văn học một loại nhân vật đầy sinh động, đặc sắc. Đôi nét về cô đầu 1. Vấn đề tên gọi và khái niệm cô đầu Tên gọi cô đầu xuất hiện khá muộn vào khoảng cuối thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX. Trƣớc đó họ thƣờng đƣợc gọi bằng những cái tên nhƣ: ả đào, đào nƣơng.
Các khái niệm đào nƣơng, ả đào, ả đầu, cô đầu thực chất là dùng để chỉ chung một ngƣời. Chúng tôi đã tiến hành khảo sát cách giải thích khái niệm cô đầu của một số nhà nghiên cứu sau: Trong Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên đã xem cô đầu, ả đào, ả đầu là cùng một khái niệm và đƣa ra cách giải thích ngắn gọn cô đầu là “ngƣời phụ nữ làm nghề hát ca trù thời trƣớc” [20, 2]. Theo Nguyễn Xuân Diện trong Ca trù phía sau đàn phách thì “Ả đào là ngƣời ca nữ (có thể cũng đồng thời là vũ nữ) của nghệ thuật truyền thống của ngƣời Việt. Đây là từ chỉ chung cho các bộ môn nghệ thuật ca múa nhạc cổ của Việt Nam.
Ả đào là chỉ ngƣời hát, khác với hát ả đào là từ chỉ một bộ môn ca múa nhạc” [3, 139]. Theo Nguyễn Đức Mậu trong Ca trù nhìn từ nhiều phía thì “Ả đào là thành viên quan trọng của tiệc ca trù, vai trò của ả đào là làm ca sĩ cho tiệc hát nhƣng khác với ca sĩ ở chỗ ả đào vừa hát vừa gõ phách. Ả đào là nữ giới, kép là nam giới” [14, 20]. Ngoài ra, Nguyễn Hoàng Anh Tuấn trong Vai trò của ca nƣơng trong nghệ thuật ca trù đã đƣa ra định nghĩa: “Ả đào là tên gọi (cổ xƣa nhất) đã có từ đời Lý Thái Tổ (thế kỷ thứ XI), theo truyền thuyết về Đào thị có nhan sắc, giỏi ca 15 hát đƣợc vua khen tặng, nên dân gian gọi ca nƣơng hát ca trù là ả đào nhằm chỉ ngƣời con gái đẹp, hát hay.
Từ đây, ta có nội hàm của khái niệm ả đào là chức danh của một nữ nghệ nhân hát ca trù, còn đƣợc gọi là cô đầu” [33, 13]. Nhƣ vậy, từ định nghĩa của các nhà nghiên cứu, có thể thấy khái niệm cô đầu dùng để chỉ những ngƣời nghệ nhân nữ trong ca trù, có nhiệm vụ vừa hát, vừa gõ phách. Ngoài ra, họ còn đƣợc gọi bằng những cái tên khác nhƣ: đào nƣơng, ả đào, cô đào, ả đầu… Trong đó, vào giai đoạn cuối thế kỷ XIX đến năm 1930 thì tên gọi đặc trƣng và phổ biến nhất chính là cô đầu. Nguyên nhân của việc có sự chuyển đổi tên gọi từ đào nƣơng, ả đào sang cô đầu là bởi: thứ nhất, nhiều ngƣời cho rằng chữ “ả” trong “ả đào” có nghĩa là “cô”, ngƣời ta thƣờng có cách nói là “cô ả” nên “ả đào” tức là “cô đào” và từ “cô đào” bị nói trệch đi thành “cô đầu”.
Thứ hai, tên gọi này bắt nguồn từ một tục lệ riêng của nghệ thuật ca trù đó là những danh ca ả đào khi dạy cho học trò thành nghề thì mỗi khi đi hát học trò phải trích ra một món tiền để cung dƣỡng cho ngƣời thầy. Số tiền ấy gọi là tiền đầu. Sau này, ngƣời ta dùng tiếng “cô” thay tiếng “ả” để thể hiện sự tôn trọng và rõ ràng hơn, tiếng “đầu” thay cho tiếng “đào” để bày tỏ sự tán tụng, ca ngợi bậc danh ca lão luyện, đã dạy cho nhiều học trò thành tài và đƣợc tặng nhiều món tiền đầu. Vũ Bằng nhận định “Tiếng cô thay tiếng ả cho rõ ràng, tiếng đầu thay tiếng đào để tỏ ý tán tụng bậc danh ca” [33, 97].
Bắt nguồn từ tục lệ đó mà mọi ngƣời bắt đầu dùng phổ biến tên gọi cô đầu thay cho ả đào ở giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Xoay quanh tên gọi cô đầu có rất nhiều tranh cãi, nhiều ngƣời cho rằng tên gọi cô đầu là một tên gọi với nghĩa xấu “Cô đầu, cô đít, cô đuôi” (thành ngữ), nó khác với tên gọi ả đào vốn chỉ những con ngƣời của nghệ thuật thực thụ. Nhƣng thực ra, ngƣời hát ả đào có tên gọi là cô đầu phần lớn vào thời điểm khi mà họ đã tích lũy đƣợc vốn liếng, kinh nghiệm, đủ sức hoạt động độc lập, không 16 còn phụ thuộc vào giáo phƣờng nhƣ ở giai đoạn trƣớc. Họ tự mình đứng ra mở các nhà hát (ca quán) ở thành thị để hoạt động nghề hát và dạy hát ca trù.
Vì thế cái tên cô đầu chính là một cách gọi khác của ả đào chứ không phải mang nghĩa xấu nhƣ nhiều ngƣời vẫn ngộ nhận. Trong công trình nghiên cứu này, một số chỗ chúng tôi sẽ dùng những tên gọi khác nhƣ: ả đào, đào nƣơng… thay vì dùng cô đầu nhằm mục đích phù hợp với đặc trƣng của từng giai đoạn lịch sử và từng tác phẩm cụ thể. Nguồn gốc xuất hiện cô đầu Cô đầu chính là chủ nhân thực thụ của nghệ thuật ca trù. Song về thời điểm xuất hiện nhân vật này vẫn còn nhiều tranh cãi.
Trong điều kiện của hƣớng tìm hiểu qua thƣ tịch còn nhiều hạn chế, bởi hầu nhƣ không có một tƣ liệu nào đầy đủ về thời điểm ra đời chính xác của cô đầu. Vì vậy, khi nghiên cứu về nguồn gốc của cô đầu nhiều ngƣời đã lấy các sự tích, truyền thuyết làm tƣ liệu. Hai tác giả Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề trong Việt Nam ca trù biên khảo có thuật lại một sự tích về tổ của cô đầu nhƣ sau: Vào đời nhà Lê có Đinh Lễ, ngƣời làng Cổ Đạm, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh thƣờng ôm cây đàn nguyệt đến bên suối gảy và ca hát để hòa với tiếng suối chảy trong khe. Một hôm, Sinh đem đàn và rƣợu vào rừng thông để tiêu khiển, gặp đƣợc hai ông cụ già.
Đó chính là Lý Thiết Quải và Lã Đại Tiên (Lã Động Tân). Hai cụ già đƣa cho Sinh khúc gỗ ngô đồng và tờ giấy vẽ kiểu mẫu đàn và dặn đóng đàn nhƣ trong giấy. Tiếng đàn ấy sẽ trừ đƣợc ma quỷ, giải đƣợc phiền muộn. Nhờ tiếng đàn kỳ diệu, Sinh chữa đƣợc bệnh cho rất nhiều ngƣời ở nhiều nơi.
Một lần, Sinh đến châu Thƣờng Xuân, tỉnh Thanh Hóa, chàng đã chữa khỏi bệnh câm cho ngƣời con gái tên Hoa, con của vị quan châu Bạch Đình Sa. Sau đó, hai ngƣời nên vợ chồng và sống hòa hợp cùng nhau ở bên nhà Bạch công. Sinh đặt ra lối múa hát mới, rồi lấy hai thanh tre vót thực đẹp để cho nàng gõ lên trên mảnh gỗ 17 theo với nhịp đàn mà hát, hai vợ chồng cùng nhau về quê Sinh ở Cổ Đạm để lập nghiệp. Ít lâu sau, Sinh gặp lại các vị tiên ông, đƣợc ghi tên vào tiên phả rồi cùng nhau hóa đi.
Vợ Sinh biết chuyện bèn cho hết gia tài rồi đóng cửa và dạy con em trong làng hát múa.