CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1. Khái niệm và một số điều liên quan đến người phụ nữ Phụ nữ, nữ giới là từ chỉ giới tính cái của loài người. Phụ nữ thường được dùng để chỉ một người trưởng thành, còn con gái thường được dùng chỉ đến trẻ gái nhỏ hay mới lớn. Bên cạnh đó từ phụ nữ, đôi khi dùng để chỉ đến một con người giới tính nữ, bất kể tuổi tác, như là trong nhóm từ "quyền phụ nữ".
Chúng ta cũng thường hay nói vui: “Phụ nữ là một nửa của nhân loại” mà chính xác không phải là một nửa. Trong ngôn ngữ Việt Nam, có nhiều từ gần nghĩa với "nữ giới", đều chỉ một nhóm đối tượng thuộc nữ giới. Một số từ tiêu biểu hay gặp là đàn bà, phụ nữ, con gái. Phụ nữ là chỉ một người, một nhóm hay tất cả nữ giới đã trưởng thành, hoặc được cho là đã trưởng thành về mặt xã hội.
Phụ nữ là những người khi cha mẹ sinh ra về mặt bản chất sinh học, họ có cấu trúc cơ thể khác với những người được gọi là “nam giới”. Tuy nhiên, có một điều mà chúng ta biết chắc chắn là người phụ nữ khi đến tuổi trưởng thành thì họ được tạo hóa ban cho thiên chức làm vợ, làm mẹ. Cấu trúc cơ thể đã có nhiều thay đổi về “vòng một, vòng hai, vòng ba” để sau này họ lấy chồng, sinh con, cho con bú, nuôi con., làm nhiệm vụ bảo tồn và phát triển nòi giống. Vai trò tái sản xuất là các hoạt động sinh đẻ, chăm sóc, nuôi dưỡng, dạy dỗ,… giúp tái sản xuất dân số và sức lao động bao gồm sinh con, các công việc chăm sóc gia đình, nuôi dạy và chăm sóc trẻ con, nấu ăn, dọn dẹp, giặt giũ, chăm sóc sức khỏe gia đình…, như thế đủ thấy vai trò vô cùng quan trọng của phụ nữ trong cuộc sống gia đình.
Hầu hết phụ nữ đóng vai trò và trách nhiệm chính trong công việc tái sản xuất. Chúng ta cũng biết rằng, phàm đã là con người, cho dù là vua hay tổng thống, là nguyên thủ quốc gia hay một người dân bình thường, thì ai cũng đều được sinh ra trên đời này bởi một người mẹ - đó là người phụ nữ, và người mẹ nào cũng hết lòng vì con của mình. 17 Tạo hóa tạo ra sự khác nhau ở nam và nữ nên có sự khác nhau về tâm lý, tính cách, suy nghĩ dẫn đến sự khác nhau về vị trí, vai trò của người đàn bà và đàn ông trong gia đình và trong xã hội. Tạo hóa cũng tạo ra người đàn bà với sự khéo léo, nhẹ nhàng, nhu mì, ôn hòa, nhẫn nhịn và mềm dẻo để giao cho họ trọng trách lớn lao là người của gia đình.
Phụ nữ được coi như người giữ lửa trong gia đình, và quan trọng hơn cả đó là tạo hóa ban tặng cho người phụ nữ thiên chức làm vợ và làm mẹ. Chính sự dịu dàng của người vợ làm cho người đàn ông cảm thấy dễ chịu khi bước về nhà sau một ngày “lăn lóc” ngoài xã hội. Chắc chắn người đàn ông nào cũng thích một người vợ ăn nói nhẹ nhàng, luôn thông cảm và chăm sóc chồng con hết lòng. Chính những yếu tố đó khiến cho người phụ nữ càng trở nên quyến rũ và hấp dẫn hơn.
Đàn ông như một ngôi nhà vững chắc, còn đàn bà lại chính là những yếu tố hài hòa, là nội dung của ngôi nhà ấy, đồng thời là ngọn lửa giữ cho ngôi nhà ấy luôn ấm áp và tràn đầy ánh sáng, luôn đầy ắp tiếng cười và ánh nhìn hạnh phúc, thiết nghĩ, đó là mong muốn của tất cả mọi người. Để nói về cái duyên, cái đẹp của người phụ nữ Việt Nam, Đào Thị Thu Trang trong Hình ảnh người phụ nữ trong dân ca quan họ (luận văn thạc sĩ) của mình đã nhận xét: “Việt Nam – đất nước của những câu hát ru ngọt ngào một thuở, đất nước của những cánh cò bay trên đồng lúa bao la, đất nước của những người mẹ tảo tần quanh năm tháng, suốt cuộc đời… Người phụ nữ là kết tinh của non nước ngàn năm văn hiến, luôn là đề tài chưa bao giờ vơi cạn của người nghệ sĩ qua nhiều thời đại khác nhau. Dù ở thời kỳ nào thì hình ảnh, vai trò của người phụ nữ luôn tỏa sáng và được tôn trọng”. (Đào Thị Thu Trang, 2010, tr.
32) Người phụ nữ đóng vai trò rất quan trọng trong gia đình truyền thống người Việt. Nói về tính trọng NỮ, giáo sư Trần Ngọc Thêm trong Hệ giá trị Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại và con đường tới tương lai cho rằng: “Ở nghề trồng lúa nước với cấu trúc làng xã ổn định cao thì ngôi nhà là tài sản quan trọng nhất. Với những người nông dân thì gia đình là giá trị quan trọng nhất. Mà quản lý ngôi nhà và gia đình với biết bao công việc lặt vặt thì người phụ nữ giỏi hơn đàn ông rất nhiều.
Người đàn ông có thể vắng mặt bao lâu cũng không sao nhưng người phụ nữ chỉ cần 18 vắng mặt vài ngày thì mọi thứ ở nhà sẽ lập tức trở nên lộn xộn”. Gosselin nhận xét rằng “Người phụ nữ An Nam cần cù chịu khó, đầy nghị lực khi họ đảm đương việc nuôi nấng gia đình. 1904: 527) (dẫn theo Trần Ngọc Thêm, 2016, tr. Đánh giá của một nhà nghiên cứu nước ngoài về người phụ nữ Việt Nam khiến chúng ta thầm cảm ơn ông vì ông đã quan sát, tìm hiểu rất sâu, rất kỹ về văn hóa, về con người Việt Nam nói chung và người phụ nữ Việt Nam nói riêng.
Để thấy được vị trí, vai trò, chức năng của người phụ nữ trong xã hội và gia đình, Lương Trọng Nhàn trong Người phụ nữ qua nhân tướng học và văn học dân gian có viết: "Trong thời kỳ khoa học kỹ thuật chưa phát triển, cuộc sống lao động kiếm miếng ăn, xây dựng cũng như bảo vệ thành quả lao động cần nhiều sức lực, sức mạnh và vì người đàn ông có sức mạnh hơn đàn bà nên vai trò trong gia đình và xã hội họ luôn thống trị, do vậy người đàn bà ít được xem xét tướng cách về lĩnh vực công danh sự nghiệp mà số phận của họ phụ thuộc vào chồng con nhiều hơn. Thời hiện đại, khoa học kỹ thuật phát triển đã giải phóng sức lao động cho con người và là động lực cho việc giải phóng phụ nữ, nhưng chức năng sinh sản và nuôi con của họ cũng chiếm nhiều thời gian và công sức nên con đường sự nghiệp cũng trở ngại nhiều hơn nam giới… Không nói gì đến tướng cách về quan lộc của người phụ nữ mà chỉ chú trọng đường chồng con và nhan sắc của người đàn bà sao cho có thể đảm nhiệm chức năng người vợ hiền, người mẹ hỗ trợ tốt cho con cháu”. (Lương Trọng Nhàn, 2013, tr. Rõ ràng chúng ta thấy, thời xưa hay thời nay thì vai trò, chức năng của người phụ nữ đều rất quan trọng, nhất là trong gia đình thì không thể thiếu bàn tay chăm sóc, vun vén của người phụ nữ với vai trò người vợ, người mẹ.
Người phụ nữ trong đời sống xã hội: Người phụ nữ trong đời sống xã hội trước hết là một cá thể trong thực thể cộng đồng người. Xét về giới và giới tính thì khái niệm phụ nữ có những điểm khác nhau. Phụ nữ xét về mặt giới tính (sex) thuộc về giống cái có những đặc điểm, chức năng khác với nam giới. Điểm khác biệt chính là chức năng sinh sản, sau đó nói đến những khác biệt khác như: thể chất, tính khí, tâm sinh lý… 19 Phụ nữ xét về mặt giới (gender) là từ ngữ để chỉ một tầng lớp người trong xã hội có giới tính phân biệt với đàn ông, có những đặc điểm về thể chất, chức năng, vai trò xã hội được cộng đồng thừa nhận.
Theo tư tưởng tiến bộ hiện nay, phụ nữ có vai trò, chức năng, năng lực xã hội không thua kém người đàn ông, vì vậy, việc xác lập bình đẳng giới là cần thiết để đảm bảo sự công bằng trong xã hội. Giới (Gender) là một thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ môn nhân loại học nghiên cứu về vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ bao gồm việc phân chia lao động, các kiểu phân chia các nguồn và lợi ích. Giới đề cập theo các quy tắc, tiêu chuẩn theo nhóm tập thể chứ không theo thực tế cá nhân. Vai trò giới được xác định theo văn hóa không theo khía cạnh các sự vật học có thể thay đổi theo thời gian, xã hội và địa vực khác nhau.
Khi mới sinh ra chúng ta không có sẵn đặc tính giới. Những đặc tính giới mà chúng ta có được là do chúng ta học từ gia đình, xã hội và nền văn hóa của chúng ta (tính thay đổi). Giới không ám chỉ khái niệm nam giới hoặc phụ nữ với tư cách cá nhân mà nói tới quan hệ xã hội giữa nam giới và phụ nữ (tính tập thể). Quan hệ này thay đổi theo thời gian, theo hoàn cảnh kinh tế và xã hội.
Những yếu tố ảnh hưởng tới sự thay đổi quan hệ giới trong xã hội tùy thuộc vào sự vận động và phát triển của chính các quan hệ xã hội. Cụ thể là các quan hệ có liên quan tới vấn đề dân tộc, giai cấp, chính trị, tôn giáo, lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán. (Mai Huy Bích, 2009, tr. Hình tượng người phụ nữ trong văn học - Khái niệm hình tượng nghệ thuật: Là một bức tranh sinh động về cuộc sống, con người được phản ánh thông qua một trong các loại hình nghệ thuật nhất định như: hoạt họa, điêu khắc, văn chương, âm nhạc… Hình tượng nghệ thuật trong văn học là bức tranh sinh động được phản ánh bằng ngôn từ.
Hình tượng văn học được xây dựng bằng chất liệu ngôn ngữ. Từ ngữ văn chương là chất liệu tạo dựng hình tượng nghệ thuật. Hình tượng nhân vật trong các tác phẩm văn chương có giá trị mới được gọi là hình tượng nghệ thuật. Nhân vật trong tác phẩm văn chương có đời sống riêng phù hợp với bối cảnh, môi trường do tác giả thiết kế theo ý đồ nghệ thuật của mình.
20 Mối quan hệ giữa người phụ nữ trong văn học và người phụ nữ trong đời thường: Theo nguyên tắc phản ánh, hình tượng nhân vật được xây dựng từ những hình mẫu con người đời thường. Vì vậy, cuộc sống, tính cách, số phận của nhân vật có nhiều điểm giống với con người trong đời thực.