phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục đề tài gồm 3 chư¢ng sau: Chư¢ng 1: C¢ sá lý luận về di tích và tổng quan về khu di tích đền Xà , xã Tam Giang , huyện Yên Phong , tỉnh Bắc Ninh Chư¢ng 2: Kh¿o sát giá trị khu di tích Lý Thưßng Kiệt tại xã Tam Giang, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Chư¢ng 3 : Đề xuÁt gi¿i pháp b¿o tồn và phát huy giá trị khu di tích Lý Thưßng Kiệt tại xã Tam Giang, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. [10] Ch°¢ng 1 C¡ Sâ LÝ LUÀN VÀ DI TÍCH VÀ TâNG QUAN VÀ KHU DI TÍCH LÝ TH¯àNG KIÆT, Xà TAM GIANG , HUYÆN YÊN PHONG , TÈNH B¾C NINH 1. Khái quát vÁ di tích lËch sÿ 1.
Định nghĩa về di tích lịch sử Di tích lịch sử-vn hóa là những không gian vật chÁt cÿ thể, khách quan, trong đó có chăa đựng các điển hình lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân con ngưßi trong lịch sử sáng tạo ra. Như vậy, á một măc độ hẹp h¢n có thể thÁy rằng di tích lịch sử-vn hóa là những dÁu tích, dÁu vết hoạt động cāa con ngưßi trong quá trình lịch sử còn sót lại. ĐÁt nước Việt Nam tr¿i qua h¢n hai nghìn nm giữ nước và dựng nước. Trang sử hào hùng Áy được ghi lại bằng nhiều loại hình sử liệu khác nhau: di tích-di vật, hình ¿nh, chữ viết, ngôn ngữ truyền miệng.
Trong sá những nguồn sử liệu Áy thì di tích lịch sử-vn hóa đóng vai trò như một nguồn sử liệu vật chÁt quan trọng. Nó cho chúng ta một sá thông tin trực tiếp từ những hoạt động cāa con ngưßi trong quá khă mà nhiều nguồn sử liệu khác không hoặc không có điều kiện đề cập tới (dĩ nhiên, các nguồn sử liệu khác cũng có những ưu thế riêng). Thông tin từ những nguồn sử liệu này đã giúp cho các nhà nghiên cău lịch sử có những bằng chăng để khẳng định thêm sự có mặt cāa nhóm cộng đồng cư dân đã sáng và tồn tại trên m¿nh đÁt này. Di tích lịch sử-vn hóa là những không gian vật chÁt cÿ thể, khách quan, trong đó có chăa đựng các điển hình lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân con ngưßi trong lịch sử sáng tạo ra.
[11] Như vậy, á một măc độ hẹp h¢n có thể thÁy rằng di tích lịch sử-vn hóa là những dÁu tích, dÁu vết hoạt động cāa con ngưßi trong quá trình lịch sử còn sót lại. Di tích lịch sử-vn hóa được phân chia thành các loại như: di tích kh¿o cổ, di tích lịch sử, di tích vn hóa-nghệ thuật. Trong bài viết này, chúng tôi phân tích nguồn sử liệu trực tiếp từ các loại hình di tích nói trên. Những thông tin trực tiếp từ những di tích Áy sẽ góp phần nghiên cău lịch sử Việt Nam.
Đặc điểm của các di tích lịch sử Dựa theo đặc điểm, tính chÁt chúng ta có 2 dạng di tích lịch sử : A, Các di tích kh¿o cổ. Chúng ta đều biết con ngưßi xuÁt hiện trên trái đÁt từ kā thă tư (còn gọi là kā Nhân sinh), cÿ thể h¢n nữa, con ngưßi đã xuÁt hiện cách chúng ta kho¿ng hai triệu nm. Còn chữ viết do con ngưßi sáng tạo ra thì xuÁt hiện muộn h¢n nhiều, mới cách chúng ta kho¿ng 6 nghìn nm (tăc 4 nghìn nm trước Công nguyên). Nhưng chúng ta vẫn biết được ngưßi xưa xuÁt hiện trên m¿nh đÁt hình chữ S này từ khi nào.
Dựa vào những chiếc rng hóa thạch cāa ngưßi-vượn trong hang Thẩm Khuyên, Thẩm Hai á Lạng S¢n, chúng ta biết được con ngưßi đã sinh sáng trên đÁt Việt Nam ít nhÁt cách ngày nay nửa triệu nm. Dựa vào những công cÿ đá cāa ngưßi nguyên thāy á núi Đọ, Quan Yên, Núi Nuông á Thanh Hóa; hang Giòn, Dầu Giây thuộc vùng Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai, chúng ta biết được con ngưßi đã sinh sáng trên m¿nh đÁt này suát từ Nam ra tới Bắc cách chúng ta kho¿ng 300 nghìn nm (niên đại cāa S¢ kỳ đá cũ). Trước đây, khi nghiên cău lịch sử Việt Nam, có thßi nhiều nhà nghiên cău lịch sử cho rằng Việt Nam dựng nước vào kho¿ng hai nghìn nm trước Công nguyên tăc là bán nghìn nm cách ngày nay (vào thßi Vn hóa Phùng nguyên trong Kh¿o cổ học). à Vn hóa Phùng Nguyên, dÁu tích vn hóa vật chÁt cāa [12] ngưßi xưa để lại chỉ là đồ đá được mài nhẵn toàn thân, đồ gám, chưa có đồ dùng bằng đồng, chỉ có xỉ đồng, gỉ đồng.
Với sá lượng và loại hình công cÿ bằng đá như vậy, nhiều nhà nghiên cău ngày nay cho rằng về hạ tầng c¢ sá, á nền vn hóa Phùng Nguyên, chưa thể có s¿n phẩm dư thừa trong xã hội. Và như vậy chưa thể có sự phân hóa giai cÁp, chưa xuÁt hiện kẻ giàu ngưßi nghèo và do đó dẫn tới chưa thể hình thành nhà nước. Các nhà nghiên cău còn cho rằng nhà nước s¢ khai á Việt Nam chỉ có thể xuÁt hiện á nền vn hóa Đông S¢n (niên đại má đầu vào kho¿ng 800-700 nm trước Công nguyên). Bái vì á nền vn hóa này, công cÿ lao động và đồ dùng bằng đồng chiếm ưu thế, đã xuÁt hiện đồ sắt, cÿ thể là công cÿ lao động và vũ khí bằng sắt.
Kết luận trên là hoàn toàn có c¢ sá vì vào thßi điểm tư¢ng tự, trên thế giới cũng xuÁt hiện nhiều nhà nước s¢ khai. Để có được kết luận quan trọng này, các nhà nghiên că lịch sử một lần nữa lại dựa vào những sử liệu vật chÁt tại các loại hình di tích kh¿o cổ học. Chúng ta biết rằng, khi chưa xuÁt hiện chữ viết, việc nghiên cău lịch sử các dân tộc trên thế giới phần lớn là dựa vào những sử liệu vật chÁt do hoạt động cāa con ngưßi để lại trong quá khă. Ngày nay, cũng không ít nhà sử học cho rằng vào thßi Hùng Vư¢ng chưa thể có đồ sắt, có chng chỉ là đồ đồng.
Câu chuyện Thánh Gióng với các chi tiết <ngựa sắt", <áo giáp sắt=, <roi sắt= có chng chỉ là những ước m¢ cāa ngưßi Việt cổ về một thă kim loại có nhiều tính nng tác dÿng ưu việt, lại có hiệu qu¿ h¢n kim loại bằng đồng. Nhưng trên thực tế, việc khai quật các di tích dưới chân thành Cổ Loa (vào trước thßi đại An Dư¢ng Vư¢ng) các nhà khoa học đã thu được nhiều đồ vật bằng sắt. Đây là những chăng că vật chÁt quan trọng giúp chúng ta khẳng định vào thßi kỳ xa xưa, ít nhÁt là sớm h¢n thßi đại An Dư¢ng Vư¢ng, đồ sắt đã xuÁt hiện á nước ta. [13] Một điều thú vị nữa là á câu chuyện truyền thuyết Thánh Gióng có một chi tiết khiến các nhà nghiên cău lịch sử lâu nay vẫn nghi ngß là: vào thßi Hùng Vư¢ng, <giặc Ân= sang cướp nước ta.
Giặc Ân á đây là giặc nào? Có ph¿i thßi Ân-Thư¢ng á phía Bắc Trung Quác cùng thßi không. Khi khai quật các di chỉ thuộc Vn hóa Phùng Nguyên (từ 2000 đến 1500 nm trước Công nguyên) các nhà sử học đã thu thập được những hiện vật rÁt lạ, lúc đầu chưa biết chúng là gì và nguồn gác chúng từ đâu. Gần đây các nhà sử học Trung Quác đã tiến hành khai quật các di chỉ thuộc thßi Ân-Thư¢ng, họ cũng thu được những hiện vật được gọi tên là <nha chư¢ng=. Khi đưa các =nha chư¢ng= do chúng ta khai quật á di chỉ Phùng Nguyên và so sánh với các nha chư¢ng tìm thÁy á Trung Quác thì giáng hệt nhau.
Dùng phư¢ng pháp các bon phóng xạ để kiểm tra niên đại các hiện vật được khai quật á hai địa điểm khác nhau, cách xa nhau hàng ngàn cây sá thì thÁy chúng có cùng niên đại với nhau. Đây là một chăng că khoa học để khẳng định rằng vào thßi Hùng Vư¢ng ngưßi Ân-Thư¢ng á phía bắc Trung Quác có quan hệ giao lưu vn hóa với chúng ta. Còn ngưßi Ân có trá thành giặc Ân theo truyền thuyết hay không thì chưa thể khẳng định được. Cũng có thể là ngưßi đßi sau thêm thắt vào để cho câu chuyện dân gian có săc hÁp dẫn đến kỳ lạ.
Những dẫn chăng á trên mà chúng tôi đưa ra chỉ nhằm chăng minh một điều rằng, trong các nguồn sử liệu dùng để nghiên cău lịch sử dân tộc thì sử liệu vật thật( hay còn gọi là sử liệu trực tiếp) nhiều khi góp phần rÁt quan trọng không thể thiếu được, chúng cung cÁp cho những nhà nghiên cău lịch sử những chăng că không thể chái cãi mà á các nguồn sử liệu khác còn có sự nghi ngại và chưa rõ nguồn gác. [14] B, Các di tích vn hóa-nghệ thuật Di tích lịch sử-vn hóa là một bộ phận quan trọng cāa di s¿n vn hóa dân tộc. Di tích là những gì còn lại so với thßi gian. Như vậy nói một cách khác chúng đều là di tích lịch sử.
Và, các di tích vn hóa, như vậy cũng đồng thßi là di tích lịch sử. Nói di tích lịch sử-vn hóa á đây là muán nói di tích lịch sử hay di tích vn hóa. Nhưng thưßng thì hai loại di tích này đồng thßi vừa có tính chÁt lịch sử vừa có tính chÁt vn hóa. Di tích vn hóa - nghệ thuật là một loại hình cāa di tích lịch sử-vn hoá mà á đó chăa đựng nhiều thông tin.
Do đó, các di tích vn hóa-nghệ thuật cũng là những nguồn sử liệu trực tiếp quan trọng mà các nhà nghiên cău á nhiều lĩnh vực có thể sử dÿng. Nguồn sử liệu tại các di tích vn hóa-nghệ thuật tạm thßi có thể chia ra làm hai, đó là sử liệu trực tiếp từ b¿n thân di tích và sử liệu từ các di vật có trong di tích. Đái với loại thă nhÁt (trực tiếp từ các di tích), chúng ta có thể nhận biết được bình đồ kiến trúc cāa các di tích tr¿i qua các thßi đại thông qua các dÁu vết còn sót lại. Ví dÿ, ta có thể biết được kiến trúc các ngôi đình cāa thế kỉ XVI chỉ có bình đồ chữ nhÁt.
Nghĩa là á thế kỉ XVI các ngôi đình á Việt Nam (hay đúng h¢n là á miền Bắc Việt Nam) chỉ có một tòa đại đình. Sang thế kỉ XVII, kiến trúc đình làng đã thay đổi. à thßi kì này ngưßi ta đã dựng hậu cung liền sau tòa đại đình làm cho mặt bằng kiến trúc lúc này có hình chuôi vồ hay chữ <đinh=. Hậu cung là n¢i thß Thần, điều này chăng tß từ nay, Thần luôn luôn có mặt á đình, không giáng như trước kia thần được thß á đền hay á nghè, miếu và chỉ được rước ra đình trong những ngày hội.
Sang đến thế kỉ XVIII, dựa vào các đ¢n nguyên kiến trúc còn lại, chúng ta thÁy rằng mặt bằng các đ¢n nguyên kiến trúc đình làng trá nên đa dạng h¢n, [15] phăc tạp h¢n.