Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Ngành chăn nuôi giữ vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp Việt Nam, đóng vai trò nguồn cung cấp thực phẩm chủ yếu, tạo việc làm và tăng thu nhập cho cư dân nông thôn. Tuy nhiên, thực tiễn phát triển chăn nuôi trong giai đoạn vừa qua phần lớn mang tính nhỏ lẻ, tự phát, thiếu kinh nghiệm kỹ thuật và thiếu thông tin thị trường, dẫn đến tốc độ tăng trưởng chậm và hiệu quả kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng. Nhằm giải quyết các rào cản về kinh tế quy mô, mô hình hợp tác xã (HTX) chăn nuôi đã hình thành như một phương thức tổ chức sản xuất mới, liên kết các hộ nông dân nhằm giảm chi phí, kiểm soát dịch bệnh và nâng cao tính đồng đều của sản phẩm.
Trong định hướng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, chăn nuôi ngựa bạch và hươu sao là hướng đi mang lại giá trị gia tăng cao, đồng thời tận dụng hiệu quả các phụ phẩm trồng trọt (thân ngô, rơm rạ, cám) và phụ phẩm công nghiệp chế biến. Ngựa bạch vốn phân bố chủ yếu tại ba tỉnh Đông Bắc (Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Giang), trong khi hươu sao tập trung chủ yếu ở miền Trung (Nghệ An, Hà Tĩnh). Cả hai đối tượng vật nuôi này đã được di thực và phát triển chăn nuôi tại tỉnh Thái Nguyên. Mặc dù tiềm năng kinh tế lớn, chuỗi giá trị và mạng lưới tiêu thụ sản phẩm từ ngựa bạch và hươu sao trên địa bàn còn gặp nhiều trở ngại: hệ thống phân phối thiếu hợp lý, cơ sở vật chất bảo quản và phương tiện vận chuyển chưa hoàn thiện, quy mô đàn của các xã viên còn phân tán, và khả năng liên kết với các cơ sở giết mổ hay thương lái tiêu thụ quy mô lớn còn nhiều hạn chế, gây rủi ro cao cho người sản xuất.
Khóa luận xác định mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
- Tìm hiểu về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội của Hợp tác xã chăn nuôi động vật bản địa tại địa phương.
- Góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về kênh tiêu thụ sản phẩm của hợp tác xã nông nghiệp.
- Đánh giá thực trạng kênh tiêu thụ sản phẩm của Hợp tác xã chăn nuôi động vật bản địa xóm Gốc Gạo, xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả hoạt động kênh tiêu thụ sản phẩm của Hợp tác xã chăn nuôi động vật bản địa tại địa bàn nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là kênh tiêu thụ sản phẩm (ngựa bạch, hươu sao và các sản phẩm chế biến liên quan) cùng hoạt động tổ chức sản xuất của Hợp tác xã chăn nuôi động vật bản địa. Phạm vi không gian nghiên cứu được xác định tại xóm Gốc Gạo, xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Phạm vi thời gian thực hiện nghiên cứu và thực tập kéo dài từ ngày 15/01/2018 đến ngày 30/05/2018, sử dụng các chuỗi số liệu hoạt động của hợp tác xã từ khi thành lập (tháng 9/2015) đến hết năm 2017.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Cơ sở lý thuyết của nghiên cứu dựa trên các khái niệm chuyên ngành về kênh phân phối và quản trị chuỗi tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Kênh tiêu thụ được tiếp cận dưới góc độ là đường đi của hàng hóa từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng, phản ánh dòng chuyển quyền sở hữu qua các tác nhân trung gian và hệ thống quan hệ giữa các tổ chức nhằm thỏa mãn mục tiêu thị trường. Đề tài vận dụng mô hình Cấu trúc – Điều hành – Thực hiện thị trường (SCP: Structure – Conduct – Performance) do Bain khởi xướng, phân tích tác động qua lại giữa cấu trúc thị trường (loại hình, tác nhân trung gian, rào cản gia nhập), điều hành thị trường (mua bán, vận chuyển, dự trữ, rủi ro) và kết quả thực hiện (sản phẩm, giá cả, chi phí và mức độ đáp ứng nhu cầu). Phân loại kênh tiêu thụ được khảo sát theo tính chất tiếp xúc (kênh trực tiếp cấp 0, kênh gián tiếp qua trung gian), cự ly (cực ngắn, ngắn, dài), cường độ tiêu thụ và tính chất cạnh tranh.
Về cơ sở thể chế, nghiên cứu viện dẫn định nghĩa hợp tác xã nông nghiệp theo Luật Hợp tác xã năm 2012, khẳng định bản chất tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập nhằm tương trợ sản xuất kinh doanh và tạo việc làm. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được tác giả tổng hợp và làm căn cứ đánh giá gồm:
- Luật Hợp tác xã năm 2012.
- Nghị định số 193/2013/NĐ-CP ngày 21/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hợp tác xã năm 2012 và chính sách hỗ trợ HTX nông, lâm, ngư, diêm nghiệp.
- Thông tư số 03/2014/TT-BKHĐT của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn đăng ký HTX và chế độ báo cáo tình hình hoạt động.
- Nghị quyết số 09/2000/NQ-CP của Chính phủ về chủ trương, chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ nông sản.
- Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/06/2002 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng.
- Nghị định số 23/2007/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa của doanh nghiệp.
- Chỉ thị số 25/2008/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường chỉ đạo tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng.
Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ báo cáo khuyến nông, số liệu thống kê kinh tế - xã hội của Ủy ban nhân dân xã Tức Tranh, các tài liệu lưu trữ của HTX chăn nuôi động vật bản địa, cùng các ấn phẩm khoa học đã công bố. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua:
- Phương pháp tiếp cận có sự tham gia và phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA) nhằm phân tích bối cảnh và nhận thức của người dân địa phương.
- Phỏng vấn trực tiếp chủ trang trại (ông Trần Đình Quang) cùng toàn bộ các thành viên trong HTX về quy trình chăn nuôi, chi phí đầu tư và phương thức bán hàng.
- Phương pháp quan sát trực tiếp và quan sát hành vi giao dịch (thông qua ghi hình các cuộc mua bán giữa xã viên, thương lái và người mua) để kiểm tra chéo luồng vận chuyển, biến động giá và sản lượng tiêu thụ.
- Phương pháp thống kê, xử lý, phân tích tài liệu và tham vấn ý kiến chuyên gia (cán bộ quản lý địa phương, giảng viên chuyên ngành).
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Phần mở đầu tập trung luận giải tính cấp thiết của việc xây dựng kênh tiêu thụ bền vững cho sản phẩm động vật bản địa trong bối cảnh chăn nuôi nhỏ lẻ gặp nhiều rủi ro thị trường. Tác giả xác định hệ thống mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể, nội dung nghiên cứu, đối tượng khảo sát và giới hạn phạm vi nghiên cứu tại xóm Gốc Gạo, xã Tức Tranh, huyện Phú Lương từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2018. Bên cạnh các nhiệm vụ học thuật, phần này nêu rõ các yêu cầu về rèn luyện kỹ năng thực tập nghề nghiệp, phương pháp tiếp cận hiện trường và quy chế làm việc tại cơ sở sản xuất.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Chương tổng quan hệ thống hóa các luận điểm lý thuyết về phân phối nông sản, vai trò của thị trường đối với thương mại nông nghiệp, và đặc điểm vận hành của mô hình hợp tác xã theo quy định của Luật Hợp tác xã năm 2012. Tác giả phân tích các chức năng thiết yếu của kênh tiêu thụ gồm vận chuyển, lưu kho, tiêu chuẩn hóa, tài chính, quản trị rủi ro và thông tin thị trường, đồng thời làm rõ mô hình SCP của Bain trong phân tích ngành hàng nông nghiệp.
Về mặt thực tiễn, chương này phân tích kinh nghiệm phát triển chuỗi liên kết và tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi tại Hà Nội và Nam Định:
- Tại Hà Nội: Nhu cầu thịt gia súc gia cầm sử dụng năm 2013 đạt 272.000 tấn (745,2 tấn/ngày) và năm 2015 ước đạt 314.000 tấn. Mạng lưới gồm 06 cơ sở giết mổ công nghiệp, 14 cơ sở bán công nghiệp, 5 cơ sở thủ công và 2.490 điểm giết mổ nhỏ lẻ (chiếm 55% sản lượng). Thành phố đã hình thành 18 chuỗi liên kết chăn nuôi - tiêu thụ (gồm lợn, gia cầm, bò sữa), tiêu thụ bình quân mỗi ngày 392.000 quả trứng, 22 tấn thịt lợn, 11 tấn thịt gia cầm, 150 kg thịt bò và 100 tấn sữa.
- Tại Nam Định: Báo cáo phản ánh khủng hoảng rớt giá thịt lợn hơi (tháng 4/2012 tụt xuống 32.000 - 40.000 đồng/kg trong khi giá thành 45.000 - 47.000 đồng/kg), khiến đàn lợn toàn tỉnh giảm trên 44.000 con so với cuối năm 2011. Tỷ lệ nông sản tiêu thụ qua hợp đồng của các HTX chỉ đạt từ 3% đến 15%, do hơn 80% số HTX dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn chưa triển khai dịch vụ tiêu thụ sản phẩm. Các mô hình liên kết tiêu biểu được tổng kết gồm HTX chăn nuôi Yên Lợi liên kết với Công ty Li-Bô-Ô (Hưng Yên) cung ứng hơn 5 tạ thịt lợn sạch/ngày.
Từ thực tế trên, tác giả rút ra 7 bài học kinh nghiệm cho HTX tại xã Tức Tranh: xây dựng liên kết bốn nhà; phát huy vai trò bao tiêu của ban quản lý HTX; xây dựng nhãn hiệu và thương hiệu; tránh sản xuất tự phát ồ ạt; áp dụng khoa học kỹ thuật; đảm bảo an toàn thực phẩm trong khâu giết mổ và chế biến; hoàn thiện bao bì tem nhãn và ký kết hợp đồng tiêu thụ chuyên nghiệp.
Phần 3: Kết quả thực tập
Chương này trình bày toàn bộ số liệu khảo sát thực tế về nguồn lực, cơ sở hạ tầng, kết quả sản xuất và hoạt động phân phối của HTX chăn nuôi động vật bản địa xã Tức Tranh:
- Quá trình hình thành và cơ cấu tổ chức: HTX thành lập tháng 9/2015 trên cơ sở trang trại của ông Trần Đình Quang, ban đầu gồm 8 thành viên với vốn góp 100 triệu đồng, chăn nuôi 30 con ngựa, 100 con hươu và 0,5 ha bưởi. Đến năm 2017, HTX kết nạp thêm 2 thành viên (tổng số 10 thành viên), mở rộng quy mô lên 95 con ngựa, 300 con hươu và 3 ha cây ăn quả. Bộ máy quản trị gồm Chủ tịch Hội đồng quản trị (ông Trần Đình Quang, Thạc sĩ), Giám đốc (bà Nguyễn Thị Kim Lan) và Kiểm soát viên (ông Nguyễn Như Quỳnh).
| STT |
Họ và tên thành viên |
Đàn ngựa (con) |
Đàn hươu (con) |
Diện tích cây ăn quả (ha) |
| 1 |
Trần Đình Quang |
60 |
150 |
1,5 |
| 2 |
Nguyễn Thị Kim Lan |
10 |
30 |
0,7 |
| 3 |
Huỳnh Văn Thụ |
5 |
25 |
- |
| 4 |
Nguyễn Văn Dũng |
5 |
23 |
- |
| 5 |
Nguyễn Như Quỳnh |
- |
20 |
- |
| 6 |
Phạm Văn Triệu |
5 |
15 |
0,3 |
| 7 |
Phạm Văn Dinh |
- |
15 |
- |
| 8 |
Đồng Văn Huỳnh |
- |
12 |
0,5 |
| 9 |
Hoàng Văn Thời |
- |
10 |
- |
| 10 |
Nguyễn Minh Tân |
10 |
- |
- |
| Tổng |
10 thành viên |
95 |
300 |
3,0 |
Bên cạnh hai vật nuôi chủ lực, cơ sở còn duy trì 400 con lợn rừng và 40 con dê.
-
Hạ tầng kỹ thuật và quy trình chăn nuôi: Tổng diện tích tự nhiên của HTX là 10 ha, bao gồm 5,5 ha trồng cỏ thâm canh giống cỏ lai VA06, 1 ha đồng cỏ chăn thả ngựa, 0,5 ha xây dựng chuồng trại và 3 ha trồng cây ăn quả (bưởi Diễn, bưởi da xanh). Chuồng ngựa gồm 6 dãy với 80 ngăn (10 ngăn cho ngựa đẻ, 10 ngăn cho ngựa tách sữa, 2 ngăn cho ngựa đực giống, còn lại dành cho ngựa chửa và ngựa choai), tích hợp hầm biogas và nhà ủ phân. Khẩu phần ăn hàng ngày của hươu trưởng thành từ 3 - 6 kg cỏ; ngựa trưởng thành ăn 15 - 20 kg cỏ kết hợp bổ sung ngô hạt. Quy trình thú y áp dụng tiêm phòng vắc xin định kỳ đối với các bệnh: tụ huyết trùng, tiêu chảy, ký sinh trùng đường máu và sán lá gan. Thao tác cắt nhung hươu diễn ra sau 50 - 55 ngày kể từ khi mọc sừng, sử dụng cưa chuyên dụng cách chân đế 1 cm và cầm máu bằng 3 bài thuốc dân gian (mực tàu trộn than củi tán bột; than lá chuối khô trộn dầu lạc; hoặc giã nhỏ cây hoàng xà/ba lóng).
-
Cơ cấu chi phí con giống ban đầu (năm 2015):
| STT |
Loại vật nuôi |
Đơn vị tính |
Số lượng |
Đơn giá (1.000 đ/con) |
Thành tiền (1.000 đ) |
| 1 |
Giống hươu cái |
Con |
90 |
4.000 |
360.000 |
| 2 |
Giống hươu đực |
Con |
10 |
15.000 |
150.000 |
| 3 |
Giống ngựa cái |
Con |
28 |
23.000 |
644.000 |
| 4 |
Giống ngựa đực |
Con |
2 |
35.000 |
70.000 |
| Tổng |
|
|
130 |
|
1.224.000 |
- Thực trạng các kênh tiêu thụ sản phẩm: Sản phẩm của HTX được phân phối qua 4 luồng kênh chính:
- Kênh 1 (Kênh trực tiếp - cấp 0): Người sản xuất $\rightarrow$ Người tiêu dùng. Chiếm tỷ trọng lớn nhất với 47,0% tổng sản lượng tiêu thụ. Kênh này áp dụng chủ yếu cho các sản phẩm có giá trị cao, đòi hỏi hướng dẫn bảo quản kỹ lưỡng như nhung hươu tươi và cao ngựa bạch. Kênh giúp người sản xuất giữ trọn vẹn lợi nhuận và hạn chế tình trạng thương lái ép giá.
- Kênh 2 (Kênh ngắn - cấp 1): Người sản xuất $\rightarrow$ Người bán lẻ $\rightarrow$ Người tiêu dùng. Chiếm tỷ trọng 20,6%.
- Kênh 3 và Kênh 4 (Kênh trung gian cấp 2 và cấp 3): Người sản xuất $\rightarrow$ Người bán buôn (chiếm 32,4%). Từ khâu bán buôn, luồng sản phẩm rẽ thành hai nhánh: 87,3% phân phối tiếp cho người bán lẻ để bán tới người tiêu dùng; 12,7% chuyển qua các cơ sở giết mổ (điển hình là cơ sở Minh Tân) trước khi qua khâu bán lẻ đến người tiêu dùng. Nhược điểm của các kênh này là chi phí trung gian cao làm tăng giá bán cuối cùng và làm chậm tốc độ lưu thông.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu làm rõ các kết quả về mặt sản xuất, giá cả và hiệu quả kinh tế tại HTX chăn nuôi động vật bản địa:
- Quy mô sản xuất và nghiên cứu: Đến năm 2017, tổng đàn vật nuôi đạt 395 con (ngựa bạch chiếm 24%, hươu sao chiếm 76%). Hợp tác xã tham gia phối hợp thực hiện 04 đề tài khoa học cấp nhà nước, 03 đề tài trọng điểm cấp bộ, 01 dự án giống cấp bộ và 01 dự án cấp tỉnh; lưu giữ giống gốc 30 con ngựa bạch quốc gia từ năm 2015; hàng năm cung ứng ra thị trường khoảng 40 con ngựa bạch giống và 200 tấn cỏ giống VA06.
- Giá trị thương phẩm và thu nhập:
- Đối với hươu sao: Mỗi con hươu cho 15 - 20 cặp nhung trong chu kỳ sống (sản lượng 0,3 - 1,5 kg/cặp), giá bán dao động từ 14 - 20 triệu đồng/kg. Hươu giống cái bán với giá 5 triệu đồng/con, hươu giống đực từ 8 - 10 triệu đồng/con; thịt hươu thương phẩm đạt mức từ 200.000 đồng/kg.
- Đối với ngựa bạch: Ngựa giống 6 tháng tuổi có giá 22 - 25 triệu đồng/con; ngựa 24 tháng tuổi từ 35 - 40 triệu đồng/con; ngựa cái sinh sản từ 50 - 70 triệu đồng/con; ngựa đủ tiêu chuẩn nấu cao ($\ge 36$ tháng tuổi) đạt 50 triệu đồng/con; thịt ngựa thương phẩm có giá từ 220.000 đồng/kg; cao ngựa bạch thành phẩm có giá từ 1 - 1,2 triệu đồng/lạng (mỗi con nấu cao đem lại lãi thêm 5 - 10 triệu đồng, công thợ nấu cao đạt 3 - 5 triệu đồng/con).
- Thu nhập của các xã viên đạt từ 50 - 100 triệu đồng/năm. Mỗi con ngựa cái sinh sản cho thu nhập ổn định 20 - 25 triệu đồng/năm; nuôi ngựa thịt mang lại thêm 12 - 15 triệu đồng/năm.
Về giải pháp và kiến nghị, tác giả đề xuất:
- Đối với HTX: Cần chấm dứt tình trạng sản xuất phân tán "mạnh ai người nấy làm" giữa các xã viên; thống nhất quy trình kỹ thuật; thành lập bộ phận chuyên trách nghiên cứu thị trường và xúc tiến thương mại trên mạng xã hội (Facebook, Zalo); đầu tư đồng bộ bao bì, nhãn mác, tem truy xuất nguồn gốc; đầu tư cơ sở giết mổ, sơ chế tập trung đạt chuẩn vệ sinh thú y.
- Đối với Nhà nước và địa phương: Tăng cường nguồn vốn tín dụng ưu đãi (như các gói vay lãi suất thấp từ Hội Nông dân và Hội Phụ nữ); hoàn thiện hệ thống giao thông kết nối; quy hoạch vùng sản xuất tập trung nhằm tránh tình trạng cung vượt cầu tự phát.
- Đối với các tác nhân trong kênh: Thiết lập hợp đồng tiêu thụ chặt chẽ giữa HTX với các lò mổ, nhà hàng và các đơn vị bán lẻ nhằm giảm thiểu các khâu trung gian không cần thiết.
Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc lượng hóa cụ thể cơ cấu luồng phân phối của một mô hình HTX chăn nuôi đặc sản bản địa tại vùng trung du miền núi, cung cấp dữ liệu thực tế về chi phí, giá bán và các kênh tiêu thụ cấp 0, cấp 1, cấp 2 và cấp 3 của sản phẩm ngựa bạch và hươu sao.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận thẳng thắn chỉ ra các hạn chế xuất phát từ điều kiện nghiên cứu:
- Đề tài thuộc định hướng ứng dụng thực nghiệm đối với đối tượng chăn nuôi mới, thời gian khảo sát thực tế giới hạn trong 4,5 tháng (từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2018).
- Sinh viên còn gặp khó khăn về trang thiết bị hỗ trợ nghiên cứu tại hiện trường (thiếu máy ảnh, máy ghi âm chuyên dụng phục vụ quan sát hành vi thị trường), kỹ năng xử lý và tổng hợp dữ liệu ban đầu còn bỡ ngỡ.
- Số liệu khảo sát kênh tiêu thụ mới chỉ tập trung tại phạm vi một hợp tác xã đơn lẻ và mối liên kết với các đối tác truyền thống (lò mổ Minh Tân, thương lái địa phương).
Hướng mở tiếp theo cần mở rộng phạm vi điều tra sang các kênh phân phối hiện đại (chuỗi siêu thị, cửa hàng thực phẩm sạch tại các đô thị lớn) và đánh giá chi tiết biên lợi nhuận của từng tác nhân trung gian trong chuỗi giá trị thịt ngựa và nhung hươu trên toàn tỉnh Thái Nguyên.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo thiết thực cho:
- Sinh viên các ngành Phát triển nông thôn, Kinh tế nông nghiệp, Quản lý kinh tế và Khuyến nông khi xây dựng khóa luận tốt nghiệp về phân tích kênh tiêu thụ hoặc đánh giá hoạt động kinh tế tập thể.
- Cán bộ quản lý nông nghiệp tại các huyện miền núi có định hướng phát triển mô hình kinh tế trang trại, hợp tác xã chăn nuôi động vật bản địa quý hiếm nhằm chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi.
- Các hộ nông dân và ban quản trị các HTX chăn nuôi tham khảo trực tiếp các định mức kỹ thuật (khẩu phần cỏ xanh, phương pháp phòng bệnh thú y, kỹ thuật thu hoạch và các bài thuốc cầm máu nhung hươu) cùng số liệu hạch toán chi phí con giống và giá bán sản phẩm thương phẩm.
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ cấu vật nuôi và quy mô thành viên của HTX chăn nuôi động vật bản địa năm 2017 được ghi nhận cụ thể như thế nào?
Năm 2017, HTX có 10 thành viên với tổng đàn vật nuôi chủ lực gồm 95 con ngựa bạch (chiếm 24%) và 300 con hươu sao (chiếm 76%), cùng 3 ha cây ăn quả. Chủ trang trại Trần Đình Quang là người sở hữu quy mô lớn nhất với 60 con ngựa, 150 con hươu và 1,5 ha cây ăn quả. Ngoài ra, cơ sở còn duy trì 400 con lợn rừng và 40 con dê.
2. Tỷ trọng các luồng kênh tiêu thụ sản phẩm của HTX được phân bổ ra sao?
Sản phẩm của HTX được tiêu thụ qua 3 nhánh chính từ người sản xuất: bán trực tiếp tới người tiêu dùng (kênh cấp 0) chiếm 47,0%; qua người bán lẻ (kênh cấp 1) chiếm 20,6%; và qua người bán buôn chiếm 32,4%. Đối với nhánh bán buôn, 87,3% lượng hàng được chuyển tiếp đến người bán lẻ, còn 12,7% chuyển qua lò mổ giết mổ trước khi phân phối về các điểm bán lẻ.
3. Mức giá bán các sản phẩm chính từ hươu sao và ngựa bạch tại HTX là bao nhiêu?
Nhung hươu có giá bán từ 14 - 20 triệu đồng/kg; hươu giống cái 5 triệu đồng/con; hươu giống đực 8 - 10 triệu đồng/con; thịt hươu từ 200.000 đồng/kg. Ngựa giống 6 tháng tuổi từ 22 - 25 triệu đồng/con; ngựa 24 tháng tuổi từ 35 - 40 triệu đồng/con; ngựa cái sinh sản từ 50 - 70 triệu đồng/con; ngựa nấu cao từ 50 triệu đồng/con; thịt ngựa từ 220.000 đồng/kg; cao ngựa bạch thành phẩm đạt 1 - 1,2 triệu đồng/lạng.
4. Kỹ thuật thu hoạch và bài thuốc cầm máu nhung hươu tại cơ sở được tiến hành như thế nào?
Nhung hươu được cắt sau 50 - 55 ngày kể từ khi mọc, vết cắt thực hiện bằng cưa chuyên dụng cách chân đế sừng 1 cm. Vết thương được cầm máu ngay bằng một trong ba bài thuốc: (1) bột than củi trộn mực tàu pha nước nguội sền sệt; (2) than lá chuối khô trộn dầu lạc sền sệt; hoặc (3) cây hoàng xà (cây ba lóng) giã nhỏ đắp trực tiếp và băng cố định bằng gạc sạch.
5. Khó khăn lớn nhất trong hoạt động tiêu thụ sản phẩm của HTX được chỉ ra là gì?
Khó khăn lớn nhất là sự phụ thuộc vào các khâu trung gian (môi giới, thương lái), làm chậm tốc độ lưu thông và đẩy giá bán lên cao khi tới tay người tiêu dùng. Thêm vào đó, tâm lý sản xuất "mạnh ai người nấy làm" của các xã viên khiến sản phẩm không đồng đều về số lượng và chất lượng, gây khó khăn cho việc ký kết các hợp đồng bao tiêu quy mô lớn.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Nông Trà My đã phản ánh toàn diện bức tranh tổ chức sản xuất và thực trạng kênh tiêu thụ sản phẩm tại Hợp tác xã chăn nuôi động vật bản địa xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Nghiên cứu khẳng định tiềm năng kinh tế lớn của mô hình chăn nuôi ngựa bạch và hươu sao, đồng thời chỉ rõ sự chiếm ưu thế của kênh bán trực tiếp (chiếm 47%) bên cạnh những bất cập do mạng lưới trung gian gây ra. Các dữ liệu khảo sát thực tế và hệ thống giải pháp liên kết chuỗi được đề xuất trong công trình là căn cứ thiết thực phục vụ công tác quy hoạch phát triển nông nghiệp và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể tại các địa phương trung du miền núi.