Sàng Lọc Hợp Chất Xanthone Ức Chế Enzyme Alphaglucosidase Để Điều Trị Đái Tháo Đường Type 2

Khám phá sàng lọc in silico các hợp chất xanthone ức chế enzyme alphaglucosidase, hướng đến điều trị đái tháo đường type 2 hiệu quả.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Dược học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2022

63
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC HÌNH VẼ

DANH MỤC BẢNG

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Tổng quan về bệnh đái tháo đường typ 2

1.2. Bệnh đái tháo đường typ 2

1.3. Điều trị bệnh đái tháo đường typ 2

1.4. Tổng quan về enzym alpha-glucosidase

1.4.1. Giới thiệu về enzym alpha-glucosidase

1.4.2. Cấu trúc của enzym α-glucosidase

1.4.3. Cơ chế hoạt động của enzym α-glucosidase trong cơ thể

1.4.4. Chất ức chế enzym α-glucosidase

1.5. Tổng quan về nhóm hợp chất xanthone

1.6. Tổng quan về nghiên cứu in silico

1.6.1. Docking phân tử

1.6.2. Quy tắc Lipinski về các hợp chất giống thuốc

1.6.3. Dự đoán ADMET các thông số dược động học và độc tính

2. CHƯƠNG 2: NGUYÊN LIỆU, THIẾT BỊ, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Nguyên liệu, thiết bị

2.2. Nội dung nghiên cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Sàng lọc bằng docking phân tử

2.3.2. Nghiên cứu các đặc điểm giống thuốc

2.3.3. Nghiên cứu các đặc tính dược động học và độc tính (ADMET)

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ

3.1. Mô phỏng protein docking

3.2. Đánh giá quy trình docking

3.3. Tìm kiếm các chất tiềm năng từ kết quả docking

3.4. Sàng lọc các hợp chất giống thuốc

3.5. Dự đoán các thông số ADMET

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Về kết quả

4.2. Về phương pháp

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về bệnh đái tháo đường typ 2

Bệnh đái tháo đường typ 2 (ĐTĐ-T2) là một rối loạn chuyển hóa phổ biến, chiếm 90-95% tổng số ca mắc bệnh đái tháo đường. ĐTĐ-T2 thường liên quan đến tình trạng kháng insulin và thiếu hụt insulin tương đối. Nguyên nhân chính dẫn đến bệnh này bao gồm yếu tố di truyền và môi trường, trong đó lối sống không lành mạnh và béo phì là những yếu tố nguy cơ hàng đầu. Theo thống kê, tỷ lệ mắc ĐTĐ-T2 đang gia tăng nhanh chóng trên toàn cầu, với dự đoán sẽ đạt 700 triệu người vào năm 2045. Việc điều trị ĐTĐ-T2 hiện nay chủ yếu dựa vào các loại thuốc như metformin, sulfonylurea và các chất ức chế enzym alpha-glucosidase. Tuy nhiên, các thuốc này thường gây ra tác dụng phụ không mong muốn, làm tăng nhu cầu tìm kiếm các liệu pháp điều trị mới, an toàn hơn.

1.1. Điều trị bệnh đái tháo đường typ 2

Điều trị ĐTĐ-T2 bao gồm nhiều phương pháp khác nhau, từ thuốc uống đến thuốc tiêm. Các loại thuốc như metformin và sulfonylurea được sử dụng phổ biến, nhưng cũng có những loại thuốc mới như ức chế SGLT2 và đồng vận thụ thể GLP-1. Việc lựa chọn thuốc điều trị cần dựa trên nhiều yếu tố như hiệu quả giảm glucose huyết, nguy cơ hạ glucose máu, và tác động lên cân nặng. Đặc biệt, các chất ức chế enzym alpha-glucosidase đã được chứng minh có khả năng làm chậm quá trình hấp thụ glucose, từ đó giúp kiểm soát đường huyết hiệu quả hơn.

II. Tổng quan về enzym alpha glucosidase

Enzym alpha-glucosidase (AG) đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển hóa carbohydrate. Enzym này có khả năng thủy phân các oligosaccharide thành glucose, từ đó ảnh hưởng đến mức đường huyết sau ăn. AG được tìm thấy trong nhiều loại sinh vật, bao gồm động vật, thực vật và vi khuẩn. Việc ức chế hoạt động của enzym AG có thể làm giảm tốc độ hấp thụ glucose, từ đó hỗ trợ điều trị ĐTĐ-T2. Các chất ức chế enzym AG hiện có như acarbose và miglitol đã được sử dụng, nhưng thường gây ra các tác dụng phụ như đầy hơi và tiêu chảy.

2.1. Cấu trúc và cơ chế hoạt động của enzym alpha glucosidase

Cấu trúc của enzym alpha-glucosidase rất đa dạng, với nhiều loại enzym khác nhau thuộc các nhóm GH khác nhau. Cơ chế hoạt động của enzym này liên quan đến việc thủy phân các liên kết glycoside, giúp chuyển hóa carbohydrate thành glucose. Khi thức ăn được tiêu hóa, enzym AG sẽ tiếp tục phân giải các oligosaccharide thành glucose, cho phép glucose thẩm thấu vào máu. Việc ức chế enzym AG có thể làm chậm quá trình này, từ đó giúp kiểm soát mức đường huyết hiệu quả hơn.

III. Hợp chất xanthone và tác dụng ức chế enzym alpha glucosidase

Hợp chất xanthone, một nhóm hợp chất tự nhiên, đang được nghiên cứu với tiềm năng ức chế enzym alpha-glucosidase. Nghiên cứu cho thấy xanthone có khả năng làm giảm hoạt động của enzym này, từ đó hỗ trợ điều trị ĐTĐ-T2. Các hợp chất xanthone như mangostanol và isonormangostin đã cho thấy hiệu quả trong việc ức chế enzym AG, mở ra hướng đi mới trong việc phát triển thuốc điều trị ĐTĐ-T2 với ít tác dụng phụ hơn. Việc sàng lọc in silico các hợp chất xanthone có thể giúp tìm ra những ứng viên tiềm năng cho điều trị bệnh.

3.1. Nghiên cứu in silico các hợp chất xanthone

Nghiên cứu in silico cho phép mô phỏng và dự đoán khả năng tương tác của các hợp chất xanthone với enzym alpha-glucosidase. Phương pháp này giúp xác định các hợp chất có khả năng ức chế enzym hiệu quả, từ đó hỗ trợ trong việc phát triển các liệu pháp điều trị mới. Các thông số dược động học và độc tính của các hợp chất cũng được đánh giá để đảm bảo tính an toàn và hiệu quả trong điều trị.

01/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về bệnh đái tháo đường typ 2 1. Bệnh đái tháo đường typ 2 ĐTĐ typ 2 trước đây được gọi là “ĐTĐ không phụ thuộc insulin” hoặc “ĐTĐ xảy ra ở người lớn”, chiếm 90-95% bệnh ĐTĐ [57]. Thể này gồm những người có kháng insulin và thiếu hụt insulin tương đối (hơn là tuyệt đối).

Lúc mới bị bệnh, và có thể suốt đời không cần điều trị bằng insulin để duy trì sự sống [1]. Cơ chế bệnh sinh Yếu tố di truyền kết hợp với môi trường tác động lên cơ thể gây ra tình trạng kháng insulin và giảm bài tiết insulin, dần gây ra ĐTĐ typ 2. Kháng insulin là sự hoạt động kém hiệu quả trong quá trình truyền tín hiệu của insulin từ receptor tới đích phân tử cuối cùng, dẫn tới giảm tác dụng của insulin. Gen mã hóa các enzym và protein tham gia vào quá trình truyền tín hiệu của insulin như: insulin receptor substrate, phosphatidyl inositol-3-kinase hay tham gia vào quá trình bài tiết insulin như capain 10, yếu tố phiên mã 7-like 2 (the transcription factor 7-like 2) có liên quan tới bệnh ĐTĐ typ 2 [54].

Bên cạnh đó, các yếu tố môi trường có thể làm tăng tiến triển của bệnh như lối sống không lành mạnh gồm việc giảm các hoạt động thể lực; thay đổi chế độ ăn uống theo hướng tăng tinh, giảm chất xơ gây dư thừa năng lượng. Ngoài ra, chất lượng thực phẩm, các stress trong cuộc sống cũng tác động đến tình trạng bệnh. Tuổi thọ càng tăng, nguy cơ mắc bệnh càng cao, đây là yếu tố không thể can thiệp được. Hầu hết bệnh nhân béo phì hoặc thừa cân và béo phì vùng bụng với vòng eo to trong khi đó béo phì vùng bụng có liên quan với tăng acid béo trong máu, mô mỡ cũng tiết ra một số hormon làm giảm tác dụng của insulin ở các cơ quan đích như gan, tế bào mỡ, tế bào cơ (kháng insulin tại các cơ quan đích).

Do hiện tượng kháng insulin, ở giai đoạn đầu xảy ra sự “bù” của các tế bào β đảo tụy khiến nó tăng tiết insulin nhiều hơn và dần dẫn đến sự suy kiệt tế bào β đảo tụy khiến tăng đường huyết và cuối cùng là bệnh nhân bắt đầu có những triệu chứng lâm sàng của ĐTĐ-T2 [1]. Điều trị bệnh đái tháo đường typ 2 3 Các loại thuốc điều trị ĐTĐ [1,3]: - Thuốc uống: Metformin, Sulfonylurea, ức chế enzym alpha glucosidase, ức chế kênh SGLT2, ức chế enzym DPP- 4, TZD (Pioglitazon). - Thuốc tiêm: Insulin, đồng vận thụ thể GLP-1. Căn cứ vào hiệu quả điều trị trên lâm sàng, có sự phối hợp của các nhóm thuốc trong điều trị để đạt được mục tiêu theo Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị đái tháo đường do Bộ Y tế (2020).

Trong quá trình điều trị và theo dõi bệnh nhân, các nghiên cứu cũng đưa ra khuyến cáo về một số yếu tố cần xem xét khi chọn lựa thuốc điều trị cho bệnh nhân ĐTĐ gồm [1,6]: i) Hiệu quả giảm glucose huyết; ii) Nguy cơ hạ glucose máu: sulfonylurea, insulin; iii) Tăng cân: Pioglitazon, insulin, sulfonylurea; iv) Giảm cân: GLP-1 RA, ức chế SGLT2, ức chế DPP-4 (giảm cân ít); v) Không ảnh hưởng nhiều lên cân nặng: ức chế enzym DPP-4, metformin, ức chế enzym α-glucosidase; vi) Ảnh hưởng lên bệnh lý tim mạch do xơ vữa: - Hiệu quả có lợi (bằng chứng rõ ràng: GLP-1 RA và ức chế SGLT-2 trừ lixisenatide trung tính); - Có thể có lợi pioglitazone và metformin; vii) Ảnh hưởng lên các vấn đề về tim mạch, đặc biệt suy tim có phân suất tống máu giảm LVEF 65 tuổi): Không cần chỉnh liều GLP-1 RA, SGLT-2i; viii) Ảnh hưởng lên thận - Tác động tốt, giúp phục hồi chức năng thận, giảm tiến triển bệnh thận mạn: AECi, SGLT-2i. Nếu không dung nạp hoặc chống chỉ định với SGLT-2i hoặc mức lọc cầu thận không phù hợp, bổ sung GLP-1 RA; - Tác động không có lợi hoặc thận trọng, giảm liều khi suy thận: SU, metformin; ix) Các đối tượng bệnh nhân đặc biệt: - Người cao tuổi (> 65 tuổi): Không cần chỉnh liều GLP-1 RA, SGLT-2i; 4 - Suy thận: Không cần chỉnh liều GLP-1 RA, linaglipin đối với suy thận nhẹ, trung bình hay nặng. SGLT-2i được ưu tiên trên BN có eGFR 30-60 mL/phút/1,73 m2 da hoặc albumin niệu > 30 mg/g creatinin để giảm tiến triển bệnh thận mạn; - Suy gan: Không cần chỉnh liều GLP-1 RA, SGLT-2i đối với suy gan nhẹ hoặc trung bình. Ở bệnh nhân suy gan nặng, dapagliflozin có thể khởi trị với liều 5 mg, nếu dung nạp có thể tăng lên 10 mg.

Empagliflozin không khuyến cáo trên bệnh nhân suy gan nặng; x) Giá thuốc, tính sẵn có, sự dung nạp và khả năng chi trả của bệnh nhân; xi) Phác đồ sử dụng dễ nhớ, dễ thực hiện và khả năng tuân thủ điều trị của người bệnh. Tổng quan về enzym alpha-glucosidase 1. Giới thiệu về enzym alpha-glucosidase Alpha-glucosidase là một exoenzym hoạt động tương tự như glucoamylase trên di- saccharide và oligo-saccharide và aryl glucosidase. Enzym AG là enzym tham gia trong bước cuối cùng của quá trình chuyển hóa carbohydrate, tạo ra glucose.

Enzym này có nguồn gốc từ động vật, thực vật, vi khuẩn hoặc nấm. AG thủy phân maltooligosaccharides, phenyl α-maltoside, nigerose, tinh bột hòa tan, amylose, amylopectin và β-limit dextrins. Axit α-glucosidase (GAA; EC 3.20/3) là một exoglycosidase của lysosome xúc tác quá trình thủy phân các liên kết α-1,4- và α-1,6-glucosidic của glycogen, tạo ra glucose. Enzym này được mã hóa bởi gen GAA khu trú thành 17q25, và được tổng hợp dưới dạng protein gồm 952 axit amin bao gồm một peptit tín hiệu đầu cuối amin để vận chuyển vào lòng của lưới nội chất (ER).

Khi xâm nhập vào ER, enzym là N-glycosyl hóa, tạo ra một dạng tiền chất có khối lượng phân tử biểu kiến là 110 kDa. Sau đó, enzym được vận chuyển đến bộ máy Golgi, trong đó xảy ra quá trình biến đổi thêm các chuỗi đường. Quá trình phân giải protein trong bộ máy trans-Golgi và trong lysosome, trong đó enzym thực hiện chức năng của nó, dẫn đến dạng trung gian 95-kDa và cuối cùng là dạng trưởng thành 76 và 70 kDa. Các peptit nhỏ bị phân cắt vẫn liên kết với lõi protein thông 5 qua các liên kết disulfua.

Một số loại tế bào, chẳng hạn như nguyên bào sợi, tiết ra một lượng nhỏ tiền chất AG của axit 110 kDa mới được hình thành [39].20) là một nhóm các enzym xúc tác thủy phân liên kết α-1,4- glycosid bao gồm một số loại như maltase, glucoinvertase, glucosidosucrase, malt ase-glucoamylase, alpha-glucopyranosidase, glucosidoinvertase, α-D- glucosidase, α-glucosid hydrolase, α-1,4-glucosidase, α-D-glucosid glucohydrolase. Đáng chú ý, các enzym này thủy phân oligosaccharid nhanh hơn so với polysaccharid. Enzym AG là một enzym họ exohydrolysis, có hoạt tính thủy phân liên kết α-1,4-glycoside ở đầu tận cùng không khử của carbohydrate giải phóng các phân tử α-D-glucose. Cơ chất phổ biến của enzym AG là oligosaccharide, disaccharide, các aryl- và akyl-α-glucopyranoside… [30].

AG là một trong những enzym thuộc lớp glycoside hydrolase (GH), một lớp gồm các enzym thường tách các liên kết glycoside giữa hai phân tử carbohydrate – một trong những liên kết mạnh nhất được tìm thấy trong các polymer tự nhiên. Tốc độ phân cắt các liên kết glycoside được tăng lên gấp 1017 lần so với phản ứng thông thường không có enzym xúc tác [55]. Enzym AG phân bố trong các họ GH khác nhau như GH4, GH13, GH31, GH63, GH97 [7,8], trong đó GH13 và GH31 là hai nhóm chủ yếu của enzym AG. Những enzym AG thuộc nhóm GH13 được phát hiện nhiều ở vi khuẩn, còn những sinh vật bậc cao hơn thường có enzym AG thuộc nhóm GH31.

Enzym AG có nguồn gốc rất phong phú, từ nhiều loài sinh vật (vi khuẩn, nấm mốc, động vật và thực vật) nên tính đặc hiệu cơ chất của họ enzym cũng đa dạng hơn. Các enzym AG được phân chia thành ba loại chính dựa trên tính đa dạng đặc hiệu cơ chất này. Loại 1 là các enzym AG ưu tiên thủy phân các liên kết heteroside (glycoside) chẳng hạn sucrose và các aryl α-glucoside (ví dụ như p- nitrophenyl α-D-glucopyranoside - pNPG), hơn là các liên kết holoside, chẳng hạn như các α-glucobiose, malto-oligosaccharide, and α-glucan). Enzym loại II và III thì ngược lại, hoạt động mạnh hơn trên các holoside và có hoạt tính thấp đối với các heteroside.

Enzym loại III giống loại II, nhưng khác nhau trong quá trình thủy 6 phần polysaccharide: enzym loại II có hoạt tính khá thấp trên α-glucan, trong khi loại III lại có hoạt tính cao [30]. Trong công nghiệp ứng dụng, sinh vật sản xuất chính enzym AG là vi khuẩn và nấm (Lactobacillus, Bacillus và Aspergillus) [10,42]. Vi khuẩn ưa nhiệt tạo ra các chất có hoạt tính AG hoạt động ngay cả ở các môi trường pH trung tính và kiềm, và ở nhiệt độ từ 20 – 40 °C [33]. Cấu trúc của Enzyme α-glucosidase Enzym AG nhóm GH13 và GH31 có những đặc điểm về cấu trúc, hình thái không gian và hoạt tính sinh học khác nhau, do chúng có sự khác biệt về nguồn gốc và tính đặc hiệu cơ chất.

Đối với các enzym α-glucosidase GH13, chúng có cấu trúc tương đối giống với oligo-1,6- glucosidase (EC 3.10; O16G) và dextran glucosidase (glucan 1,6-α-glucosidase; EC 3. Cho đến nay, cấu trúc không gian của enzym α-glucosidase GH13 đã được xác định qua nhiều nghiên cứu, và cấu trúc tổng thể của chúng tương tự nhau, chủ yếu được hình thành từ 3 domain A, B và C [30] (Hình 1. Cấu trúc không gian 3D của enzym α-glucosidase GH13 [35] 7 A. Cấu trúc tổng quan của phức hợp Halomonas sp.

α-glucosidase và maltose; B. Cấu trúc tổng quan của phức hợp Streptococcus mutans DG và isomaltotriose Đối với các enzym AG nhóm GH31, hầu hết chúng phổ biến ở các sinh vật phụ thuộc vào năng lượng lấy từ tinh bột. Ví dụ, sucrase–isomaltase (SI) và maltase – glucoamylase (MGAM), được tiết ra tại ruột non của động vật có vú, có liên quan đến sự phân hủy tinh bột trong khẩu phần ăn. SI và MGAM chịu trách nhiệm thủy phân các oligo-saccharide thu được thành glucose.

Mỗi polypeptit MGAM và SI bao gồm 2 thành phần enzym khác nhau, tạo ra tổng số 4 AG trong cấu trúc 2 enzym này. 4 enzym có cấu trúc liên quan chặt chẽ với nhau do phát triển từ một nguồn gốc chung, đều được xếp vào họ glycoside hydrolase GH31 và có quan hệ mật thiết với nhau theo cấu trúc nếp gấp. Về danh pháp, vùng maltase của MGAM được gọi là NtMGAM (Hình 1.2) và vùng glucoamylase được gọi là CtMGAM. Cấu trúc không gian 3D của enzym α-glucosidase GH31 [30].

Mô hình cấu trúc của NtMGAM; B. Vùng hoạt động của NtMGAM Đối với SI, vùng isomaltase là NtSI và vùng sucrase là CtSI [12]. NtMGAM và CtMGAM giống nhau đều chịu trách nhiệm chính trong việc thủy phân các liên kết α-(14) nhưng khác nhau ở chỗ chúng thể hiện các ưu tiên khác nhau đối với các cơ chất có mức độ polyme hóa (DP) khác nhau: CtMGAM thích thủy phân 8 các cơ chất có giá trị DP cao hơn NtMGAM [25].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Khám Phá Hợp Chất Xanthone Ức Chế Enzyme Alphaglucosidase Trong Điều Trị Đái Tháo Đường Type 2" mang đến cái nhìn sâu sắc về vai trò của hợp chất xanthone trong việc điều trị bệnh đái tháo đường type 2. Tác giả phân tích cơ chế hoạt động của xanthone trong việc ức chế enzyme alphaglucosidase, từ đó giúp kiểm soát lượng đường huyết hiệu quả hơn. Bài viết không chỉ cung cấp thông tin khoa học mà còn mở ra hướng đi mới cho các phương pháp điều trị bệnh tiểu đường, mang lại lợi ích cho người đọc trong việc hiểu rõ hơn về các lựa chọn điều trị hiện có.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các nghiên cứu liên quan đến bệnh tiểu đường và các yếu tố nguy cơ, hãy tham khảo bài viết Luận án tiến sĩ nghiên cứu mối liên quan giữa resistin visfatin với một số nguy cơ tim mạch chuyển hóa ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2. Ngoài ra, bạn cũng có thể khám phá thêm về Đánh giá sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp ở trung tâm y tế huyện giồng riềng tỉnh kiên giang năm 2021, để hiểu rõ hơn về sự tuân thủ trong điều trị các bệnh lý mãn tính. Những thông tin này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề sức khỏe liên quan.