CHƯƠNG I: ĐẠI CƯƠNG HỌC THUYẾT ĐIỀU DƯỠNG Bài 1: TỔNG QUAN HỌC THUYẾT ĐIỀU DƯỠNG MỤC TIÊU 1. Trình bày được định nghĩa học thuyết và học thuyết điều dưỡng. Giải thích được tầm quan trọng của học thuyết điều dưỡng. Giải thích được các cách phân loại của học thuyết điều dưỡng.
Phân tích được mối quan hệ giữa học thuyết điều dưỡng với các lĩnh vực điều dưỡng. Định nghĩa học thuyết và học thuyết điều dưỡng Hầu hết các học giả đều đồng ý rằng những học thuyết và quan điểm độc đáo được sử dụng bởi một ngành để phân biệt nó với các ngành khác. Theo Alligood (2006) và Rutty (1998), các học thuyết được sử dụng để làm rõ các giả định và giá trị cơ bản chung của các thành viên và xác định bản chất, kết quả và mục đích của thực tiễn. Các định nghĩa về thuật ngữ học thuyết có rất nhiều trong tài liệu điều dưỡng.
Theo Streubert-Speziale và Carpenter (2006), ở cấp độ cơ bản, học thuyết là sự giải thích có hệ thống về một sự kiện trong đó xác định các cấu trúc, khái niệm và đề xuất các mối quan hệ, đưa ra các dự đoán. Chinn và Kramer (2008) nói rằng học thuyết cũng đã được định nghĩa là sự cấu trúc chặt chẽ và sáng tạo của các ý tưởng, đề xuất cách nhìn có hệ thống, có mục đích và có tính dự đoán về các hiện tượng. Theo Young, Taylor, & Renpenning (2001) học thuyết được gọi là một tập hợp các giả định, nguyên tắc hoặc mệnh đề diễn giải để giải thích hoặc hướng dẫn hành động. Dickoff và James (1968) nói rằng học thuyết được con người phát triển, chứ không phải được tìm thấy hoặc được khám phá từ thực tế.
Hơn nữa, có các học thuyết khác nhau tùy theo số lượng phần tử, đặc điểm và độ phức tạp của các phần tử và loại mối quan hệ giữa các phần tử. Khi được hỏi về học thuyết, nhiều điều dưỡng và sinh viên điều dưỡng, và thậm chí cả giảng viên điều dưỡng thường sẽ trả lời với một thái độ tiêu cực. Khi được hỏi về phản ứng tiêu cực của họ, hầu hết sẽ thừa nhận rằng ý tưởng nghiên cứu học thuyết là khó hiểu, rằng họ không thấy giá trị thực tế. 2 Tương tự như vậy, một số học giả điều dưỡng tin rằng học thuyết điều dưỡng thực tế không tồn tại, trong khi những người khác nhận ra rằng nhiều học viên chưa từng nghe về học thuyết điều dưỡng.
Một số điều dưỡng phàn nàn rằng các nhà nghiên cứu điều dưỡng sử dụng các học thuyết và khung hướng dẫn từ các ngành khác, trong khi những người khác cho rằng họ không cần đến học thuyết vẫn làm tốt công việc của mình. Các câu hỏi và tranh luận về học thuyết trong điều dưỡng có rất nhiều trong tài liệu. Myra Levine là một trong những nhà học thuyết điều dưỡng tiên phong, bà đã tuyên bố rằng trong điều dưỡng truyền thống, những nỗ lực ban đầu được hướng vào việc tạo ra một quy trình - một cuốn sách công thức dành cho các nhà học thuyết tương lai - mà sau đó có thể được sử dụng để quyết định học thuyết là cái gì. Levine (1995) tiếp tục giải thích rằng mọi học thuyết mới đều đặt ra những khái niệm trung tâm mới, mệnh đề quan hệ, và mục tiêu cho điều dưỡng.
Điều này dẫn đến việc các điều dưỡng thấy khó hiểu về nội dung và ý định của các học thuyết. Ban đầu, học thuyết khaslaf khó hiểu. Nếu nó rõ ràng ngay từ ban đầu, thì nó đã không được coi là một học thuyết hay. Động lực phát triển học thuyết điều dưỡng đã được đánh dấu bằng các hội nghị học thuyết điều dưỡng, sự phổ biến của các khung học thuyết và khái niệm về điều dưỡng, và đào tạo về phát triển học thuyết trong giáo dục điều dưỡng sau đại học.
Điều này dẫn đến sự phát triển của nhiều hệ thống phân tích và đánh giá học thuyết, sự say mê với triết lý khoa học và sự nhầm lẫn về các chiến lược phát triển học thuyết và phân chia lựa chọn phương pháp nghiên cứu. Có tranh luận và nhầm lẫn về các loại học thuyết được sử dụng trong điều dưỡng. Chúng chỉ nên là học thuyết điều dưỡng hay điều dưỡng có thể sử dụng học thuyết chung từ các ngành khác. Có tranh luận về thuật ngữ như khung khái niệm, mô hình khái niệm và học thuyết.
Có sự không thông thống nhất về các cấp độ học thuyết điều dưỡng, cũng như cách thức, lý do, địa điểm và thời điểm đánh giá, đo lường, phân tích các học thuyết/mô hình/khung khái niệm. Câu hỏi được đặt ra nhiều lần là các điều dưỡng nên áp dụng một học thuyết duy nhất hay nhiều học thuyết trong nghiên cứu và thực hành. Do đó, không có gì ngạc nhiên khi các sinh viên điều dưỡng sau đại học thể hiện sự kinh ngạc, hoang mang và thậm chí lo lắng khi được trình bày về mong muốn học học thuyết. Để trở nên hữu ích, học thuyết phải có ý nghĩa và phù hợp, nhưng trên hết, nó phải dễ hiểu.
Tầm quan trọng của học thuyết trong điều dưỡng Trước khi ra đời học thuyết điều dưỡng, ngành điều dưỡng được gộp vào ngành y học. Thực hành điều dưỡng hoàn toàn tuân theo chỉ định của bác sỹ và trọng tâm vào các nhiệm vụ truyền thống, mà ít quan tâm đến cơ sở lý luận. Theo Omrey, Kasper và Page (1995) công việc ban đầu của các nhà học thuyết là nhằm mục đích làm rõ các lĩnh vực tương tác và trí tuệ phức tạp giúp phân biệt chuyên ngành điều dưỡng với việc thực hiện các nhiệm vụ đơn thuần. Các mô hình khái niệm và học thuyết có thể tạo ra các cơ chế để các điều dưỡng truyền đạt niềm tin nghề nghiệp, cung cấp một cấu trúc đạo đức để hướng dẫn các hành động và thúc đẩy phương tiện tư duy có hệ thống về điều dưỡng và thực hành điều dưỡng.
Việc sử dụng học thuyết mang lại cấu trúc và tổ chức cho kiến thức điều dưỡng và cung cấp một phương tiện thu thập dữ liệu có hệ thống để mô tả, giải thích và dự đoán thực hành điều dưỡng. Các học thuyết làm cho việc thực hành điều dưỡng trở nên có mục đích rõ ràng hơn bằng cách nêu rõ không chỉ trọng tâm của thực hành, mà cả các mục tiêu và kết quả cụ thể. Các học thuyết xác định và làm rõ điều dưỡng và mục đích của thực hành điều dưỡng để phân biệt nó với các nghề chăm sóc khác bằng cách thiết lập các ranh giới nghề nghiệp. Cuối cùng, việc sử dụng học thuyết điều dưỡng dẫn đến chăm sóc phối hợp và mạch lạc hơn với các ngành chăm sóc sức khỏe khác.
Fawcett (1992) mô tả cách điều dưỡng phát triển học thuyết và mô hình khái niệm đã ảnh hưởng đến thực hành điều dưỡng. Học thuyết xác định tiêu chuẩn nhất định cho thực hành điều dưỡng; Xác định cơ sở của thực hành điều dưỡng và đặc điểm người nhận chăm sóc điều dưỡng; Xác định quy trình và công nghệ điều dưỡng đã sử dụng, bao gồm các tiêu chí để đánh giá khách hàng, đặt tên cho các vấn đề của khách hàng, phương pháp lập kế hoạch, loại hình can thiệp và tiêu chí đánh giá kết quả can thiệp; Trực tiếp cung cấp các dịch vụ điều dưỡng; Làm cơ sở cho các hệ thống thông tin lâm sàng bao gồm cơ sở dữ liệu nhập viện, các can thiệp điều dưỡng, kế hoạch chăm sóc, ghi chú tiến trình và tóm tắt xuất viện; Hướng dẫn sự phát triển của hệ thống phân loại khách hàng; Chương trình đảm bảo chất lượng. Trong điều dưỡng, các mô hình hoặc khung khái niệm nêu chi tiết một mạng lưới các khái niệm và mô tả mối quan hệ của chúng, từ đó giải thích các hiện tượng điều dưỡng. 4 Các học thuyết là câu chuyện đi kèm với mô hình khái niệm.
Các học thuyết mô tả chi tiết về tất cả các thành phần của mô hình và phác thảo các mối quan hệ dưới dạng các mệnh đề. Các thành phần quan trọng của học thuyết hoặc tường thuật các định nghĩa về các khái niệm hoặc cấu trúc trọng tâm, các mệnh đề mô tả quan hệ, các giả định, hướng dẫn sử dụng hoặc ứng dụng. Nhiều khung khái niệm và học thuyết bao gồm bản vẽ sơ đồ hoặc mô hình mô tả cấu trúc tổng thể hoặc tính tương tác của các thành phần (Chinn & Kramer, 2008). Phân loại học thuyết điều dưỡng Trong nhiều năm qua, một số phương pháp phân loại học thuyết trong điều dưỡng đã được mô tả, bao gồm phân loại dựa trên phạm vi hoặc tính trừu tượng (học thuyết vĩ mô hoặc vi mô đối với thực tiễn hoặc học thuyết theo tình huống cụ thể) và loại hoặc mục đích của học thuyết (học thuyết mô tả, dự đoán hoặc tạo ra tình huống).
Phân loại theo phạm vi của học thuyết Một phương pháp phân loại các học thuyết trong điều dưỡng khá phổ biến là phân loại các học thuyết dựa trên phạm vi, trong đó đề cập đến sự phức tạp và mức độ trừu tượng. Phạm vi của một học thuyết bao gồm mức độ cụ thể của các khái niệm và mệnh đề của nó. Sơ đồ phân loại này thường sử dụng các thuật ngữ (1) siêu học thuyết, triết học hoặc thế giới quan để mô tả cơ sở triết học của ngành học, (2) học thuyết tổng quát hoặc học thuyết vĩ mô để mô tả khái niệm toàn diện về khung hướng dẫn, (3) học thuyết tầm trung hoặc để mô tả các khung hướng dẫn tương đối trọng tâm hơn các học thuyết tổng quát, và (4) học thuyết vi mô, học thuyết theo tình trạng cụ thể hoặc học thuyết thực hành để mô tả những khung hướng dẫn có phạm vi nhỏ nhất (Higgins & Moore, 2000; Peterson, 2008). Bảng 1-1: Những mốc quan trọng trong phát triển học thuyết điều dưỡng Sự kiện Năm Nightingale xuất bản cuốn Notes on Nursing 1859 Hiệp hội Y tế Mỹ ủng hộ đào tạo điều dưỡng chính quy 1868 Trường Cao đẳng Sư phạm Columbia – Tiến sĩ giáo dục ngành điều 1920 dưỡng Đại học Yale bắt đầu trường đại học điều dưỡng đầu tiên 1924 Báo cáo của Tiến sĩ Esther Brown - Tương lai cho Điều dưỡng 1948 5 Giấy phép đăng kí của Tiểu bang 1949 Nghiên cứu điều dưỡng đầu tiên được xuất bản 1950 H.