CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tồng quan về cây râu hùm 1. Phân bố khoa học Tên thường gọi : Râu hùm Giới : Plantae Bộ : Dioscoreales Họ : Dioscoreales Chi : Tacca Loài : Tacca Chantrieri Họ Râu hùm còn có tên gọi khác là họ Hoa mặt cọp, họ Củ nưa (danh pháp khoa học: Taccaceae) là một họ nhỏ trong bộ Củ nâu (Dioscoreales). Họ này phân bổ rộng khắp khu vực nhiệt đới, đặc biệt là khu vực Malesia-Thái Bình Dương.
Chi Râu hùm (danh pháp khoa học: Tacca), bao gồm khoảng 17 loài với các tên gọi như nưa, củ nưa, ngải rợm, hạ túc, bạch tinh, râu hùm v., thuộc về họ Dioscoreales 1. Thực vật và phân bố Râu hùm phân bố khu vực nhiệt đới Nam Mỹ (một loài), châu Phi, Australia, Đông Nam Á và một số đảo trên đại dương, với sự đa dạng loài tập trung trong khu vực Đông Nam Á. Kể từ phiên bản năm 2003, Angiosperm Phylogeny Group đã hợp nhất họ Taccaceae vào họ Dioscoreaceae. Cây râu hùm thảo phát triển chủ yếu ở các nước châu Á như Trung Quốc, Việt Nam, Malaysia, Indonesia, Ấn Độ, Myanma, Lào… Còn ở Việt Nam cây có thể tìm thấy tại : Lào Cai, Yên Bái, Lạng Sơn, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Ba Vì, Kon Tum, Khánh Hoà, Gia Lai, Lâm Đồng, Đắk Lắk, Đồng Nai.
Cây mọc hoang và sinh trưởng mạnh trong môi trường ẩm mát, chẳng hạn như ven sông suối, trong rừng. Ở Việt Nam có một số loài phổ biến thuộc chi Tacca như 1 Tacca chantrieri : Râu hùm, hoa mèo đen. Tacca integrifolia : Ngải rợm. Tacca palmata : Nưa chân vịt.
Tacca leontopetaloides : Củ nưa (bạch tinh). Tacca planaginea : Hồi đầu. Tacca subflabellta : Nhược thự, phá lửa. Họ Taccaceae là các loài cây thân thảo sống lâu năm, ưa ẩm vừa phải, với các lá có cuống dài, mọc so le hay mọc vòng và cụm hoa có cọng với kích thước trung bình, các hoa màu tía sẫm và bầu nhụy hạ; các lá dài, hình chỉ hòa lẫn với các hoa và kiểu đính noãn bầu nhụy là dạng đính noãn vách.
Hoa lưỡng tính, thụ phấn nhờ côn trùng, chủ yếu thuộc bộ Hai cánh (Diptera). Quả nang hoặc quả mọng, nứt hoặc không nứt. Cây râu hùm cao 15- 25 cm, thân rễ phình hành củ tròn hoặc hình quả trứng, mọc cong lên. Lá mọc từ thân rễ, phiến lá nguyên, lượn sóng men theo cuống đến tận gốc, dài 10- 20 cm, rộng 2- 5(8) cm, xanh mượt, nhẵn bóng ở mặt trên, cuống dài 5- 7 cm.
Cụm hoa hình tán gồm 6- 10 hoa trên một cán mập dẹp cong dần xuống, dài tới 10 cm, bao chung gồm 4 lá bắc màu tím; hoa màu tím, có cuống, bao hoa có 6 phiến, các phiến ngoài to và rộng; nhị 6 đính trên các thuỳ bao hoa; bầu dưới, 1 ô hình nón ngược, có cánh ở gốc. Quả nang mở không đều ở đỉnh; hạt nhỏ, hình thoi, màu nâu,. Mùa hoa thường vào tháng 9- 12 hằng năm. 1: Cây râu hùm 2 1.
Kinh nghiệm dân gian Bộ phận dùng: Củ râu hùm (rễ ) chính là bộ phận được thu hoạch làm thuốc chữa bệnh. Thân rễ có thể thu hái quanh năm, rửa sạch, thái lát phơi hay sấy khô. Tính vị, công năng: vị cay, đắng, hơi the, tính bình, có tác dụng thanh nhiệt, tiêu viêm chỉ thống, lương huyết, tán ứ. Toàn cây có độc.
Công dụng: Theo Đông y, râu hùm thường được dùng chữa tiêu hoá kém, đau bụng hoặc đau bụng tiêu chảy, sốt vàng da do viêm gan siêu vi trùng, thần kinh suy nhược, huyết áp cao, đau dây thần kinh toạ, thấp khớp, trẻ em sốt bại liệt, phụ nữ kinh nguyệt không đều. Một số bài thuốc dân gian: Điều trị viêm dạ dày, đại tràng: Củ râu hùm khô 20g (dung dạng thái lát khô hay tán bột) đun với 1 lít nước. Đun cạn còn 400 mL, chia 3 lần uống sau bữa ăn 30 phút. Điều trị phụ nữ kinh nguỵệt không đều: Củ khô 10g, củ cỏ gấu 15g.
Đun với 500 mL nước, đun cạn còn 300 mL chia uống 3 lần trong ngày. Điều trị cao huyết áp, mất ngủ: Củ râu hùm phơi khô tán bột 20g, hãm với 300 mL nước uống hang ngày, nhất là buổi tối trước khi đi ngủ. Chữa bị thương sưng tấy và mụm nhọt: Dùng củ hồi đầu thảo và cả cây, giã tươi chế thêm nước hay giấm, vắt lấy nước cốt uống, lấy bã đắp vào chỗ đau. Hoạt tính sinh học của T.Chantrieri Năm 2015, theo một nghiên cứu hoạt tính sinh học từ dịch chiết của cây râu hùm râu tía- T.Chantrieri của Vũ Thị Điệp trường đại học KHTN-đại học quốc gia Hà Nội “Nghiên cứu hoạt tính sinh học từ dịch chiết của cây râu hùm hoa tía -Tacca Chantrieri”.
Xác định được các hợp chất có hoạt tính sinh học trong điều trị ung thư, hàm lượng các chất có liên quan đến hoạt tính chống oxy hóa và hoạt tính kháng khuẩn của hợp chất phân luận được từ cây T. Akihito Yokosuka và các cộng sự đã đánh giá hoạt tính gây độc tế bào ung thư của các hợp chất phân lập từ loài T. Chantrieri: Hợp chất spirostanol saponin gây độc trên dòng tế bào 3 ung thư HL-60 với giá trị IC50 lần lượt là 2,1 µM và 1,8 µM [1]. Hai diaryl heptanoid và bốn diaryl heptanoid glycoside được phân lập từ loài T.
chantrieri có hoạt tính gây độc dòng tế bào ung thư HL-60 mạnh với giá trị IC50 trong khoảng 1,8-6,4 µg/mL [2]. Hợp chất evelynin phân lập từ T. chantrieri thể hiện IC50 trên 4 dòng tế bào, bao gồm ung thư vú MDA-MB-43 và MDA-MB-231, PC-3 và ung thư cổ tử cung HeLa, với giá trị IC50 tương ứng là 4,1, 3,9, 4,7 và 6,3 µM [3]. Một số chất được đánh giá có hoạt tính gây độc trên các dòng tế bào ung thư HepG2 và HEK293: Plantagiolide A gây độc với dòng tế bào ung thư HEK293 với giá trị IC50 là 14,0 µM; tacclonolide A gây độc trên cả hai dòng tế bào ung thư HepG2 và HEK293 với giá trị IC50 lần lượt là 13,2 và 16,3 µM [4].
Một số hợp chất phân lập từ loài này đã được công bố có hoạt tính gây độc tế bào ung thư HeLa. Cụ thể khi hợp chất taccasuboside C có hoạt tính gây độc trên dòng tế bào HeLa với giá trị IC50 là 1,2 µM. Hợp chất taccaoside D có giá trị IC50 là 1,5 μM. Hợp chất chantrieroside A, gây độc tế bào ung thư HeLa với giá trị IC50 tương ứng là 3,0, 3,5 và 4,0 µM [5].
Các vi ống tham gia vào chu trình tế bào, cụ thể là phân chia các nhiễm sắc thể về 2 cực của tế bào trong nguyên phân và giảm phân. Các vi ống đóng vai trò đích quan trọng trong việc phát hiện ra các thuốc điều trị ung thư. Paclitaxel một hợp chất có nguồn gốc từ thực vật làm ổn định các vi ống là một trong những loại thuốc đang sử dụng phổ biến hiện nay để điều trị các bệnh nhân ung thư. Các hợp chất taccalonolide được phân lập từ các loài thuộc chi Tacca là một lớp chất mới cũng có tác dụng ổn định vi ống [6].
Hợp chất taccasuboside C được Htay Htay Shwe và các cộng sự phân lập từ loài T. integrifolia đánh giá có hoạt tính ổn định vi ống trên thử nghiệm in vitro [5]. Thành phần hoá học của T.Chantrieri và một số cây cùng chi Theo bài báo nghiên cứu khoa học của SUN Yue-Wen, QIU Han-Chen, OU Ming-Chun, CHEN Run-Li, LIANG Gang đã xác định được tổng hàm lượng Saponin (SSPH) bằng các thử nghiệm Molish, Liebermann-Burchard, Salkowski và các phản ứng khác. Từ đó ta xác định được trong thành phần của cây râu hùm chứa 85,31% là saponins.
SSPH ức chế sự phát triển của tế bào ung thư gan. Sau khi các dòng tế bào ưng thư gan ở người là SMMC- 4 7721 và Bel-7404 được xử lý với nồng độ SSPH và thời gian khác nhau lần lượt là 24, 48, 72 giờ thì ta thu được giá trị IC50 của từng tế bào ung thư như sau: SMMS-7721 lần lượt là 3,75; 1,56; 0,75 μg/mL; Bel-7404 lần lượt là 3,92; 1,77; 1,10 μg/mL. Năm 1983 Chen C và cộng sự đã bắt đầu nghiên cứu và phân lập thành công thành phần hóa học trong cây râu hùm, nhưng mới chỉ tìm được một số loại hợp chất thuộc nhóm glycoside. Năm 1987, Zhong-Liang và các cộng sự đã phân lập và làm sáng tỏ cấu trúc của 2 hợp chất Taccalin đó là Tacalonolide A và Taccalonolide B.
Đến năm 1988, Zhong-Liang Chen, Bao-De Wang và Ji-Hui Shen, đã phân lập và xác định được hợp chất hợp chất steroids dạng khung γ–enol–lactone từ Tacca Plantaginea là Taccalonolide C và Taccalonolide D bằng cách quan sát và so sánh phổ IR của các Taccalin. Nhóm Zhen-Hui Liu, Huan Yan, Yong-Ai Si, Wei Ni, Yu Chen, Li He, Hai-Yang Liu đã phân lập ra các hợp chất thuộc nhóm Spirostane Glycosides từ Tacca plantaginea gồm : taccaoside E, Taccaoside F, Taccaoside G, Taccaoside H, Taccaoside I, Taccaoside J, Taccaoside K và Taccaoside L. Năm 2012, Akihito Y, Yoshihiro M đã đưa ra hóa chất phân lập từ rễ cây râu hùm và hoạt động hóa của nó. Các nghiên cứu của Akihito Y, Yoshihiro M và Yutaka thuộc phòng thí nghiệm cây thuốc, đại học Tokyo, Nhật Nhật bản đã phát hiện và tinh sạch steroidal và Pergnane Glycosides từ thân và rễ cây râu hùm tía, nghiên cứu này đã xác định thành phần của saponin trong cây thuốc, nhóm hợp chất phổ biến trong cây râu hùm.
Tiếp sau đó nhóm nghiên cứu đã phân lập và tìm ra các loại glycoside mới. Đến năm 2015, theo một nghiên cứu hoạt tính sinh học từ dịch chiết của cây râu hùm râu tía- Tacca chantrieri của Vũ Thị Điệp trường đại học KHTN-đại học quốc gia Hà Nội đã xác định được dịch chiết cây râu hùm thu hái tại Việt Nam không chứa glycoside, tannins và polysaccharide nhưng có saponin, đường khử, flavonoid và alkaloid. Vậy trong các nghiên cứu về thành phần hóa học của một vài loài thuộc chi râu hùm cho thấy sự có mặt của nhiều chất như : taccalonolide, withanolide, spirostanol, furostanol, pregnage,… Các công trình đã công bố cho thấy, hợp chất cholestan glycoside được phân lập duy nhất từ loài T. Theo các tài liệu có 11 hợp chất cholestan glycoside được phân lập từ bộ phận thân, rễ của loài này (1 – 11).
1:Các hợp chất Cholestan glycoside từ loài Tacca Chantrieri KH Tên chất m/z CTPT TLTK 1 (24R,25S)-26-[(O-β-D-Glu-(1→4)-O-β-D Glu-(1→4)-O-β- 1551. 2: Các hợp chất Cholestan glycoside phân lập từ loài T.Chantrieri Có 4 hợp chất spirostanol và spirostanol glycoside (12-15) đã được các nhà khoa học phân lập và xác định cấu trúc từ bộ phận thân, rễ của loài T. chantrieri cụ thể. 2: Các hợp chất spirostanol và spirostanol glycoside KH Tên chất m/z CTPT TLTK 12 (24S,25R)-24-HSpi -5-en-3β-yl O--L Rha -(1→2)-O-[-- L- 868.